Tản văn Việt Nam thế kỷ XX (từ cái nhìn thể loại)
Trang 1Lª trµ my
T¶n v¨n viÖt nam thÕ kû xx (tõ c¸i nh×n thÓ lo¹i)
Trang 2vµo håi giê ngµy th¸ng n¨m
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i Th− viÖn Quèc gia
vµ Th− viÖn Tr−êng §¹i häc S− ph¹m Hµ Néi
Trang 3Danh mục một số công trình của tác giả
liên quan đến luận án
1 Lê Trà My (2007), Tản văn và cái tôi nghệ sỹ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (144), Hà Nội, tr 29-31
2 Lê Trà My (2006), "Tản văn Việt Nam thời kỳ đổi mới", Văn học Việt Nam sau 1975- những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 285-292
3 Lê Trà My (2006), Tản văn – một thể loại của văn xuôi hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học (3), tr 51-60
4 Lê Trà My (2006), Nghĩ về vai trò của yếu tố kỳ ảo trong thể loại tản văn, Hội thảo khoa học Văn học kỳ ảo, khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội
5 Lê Trà My (2006), Tản Đà - người đi đầu trong sáng tác tản văn hiện đại, Tạp chí Khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội (6), tr 126-132
6 Lê Trà My (2003), Về việc giảng dạy thể kí và kí Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chương trình văn THPT, Tạp chí Giáo dục (1), tr 28-29
7 Lê Trà My (2003), Một dòng chảy của tản văn đương đại, Diễn
đàn văn nghệ Việt Nam (số Xuân), tr 26-29
Trang 41.Mục đích nghiên cứu
Tản văn là một thể loại văn học, được khai sinh từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, lâu nay hầu như người ta chưa mấy để tâm đến thể loại này Có nhiều lý do nhưng có lẽ chính sự tồn tại mờ nhạt của tản văn bên cạnh những thể loại khác đã khiến nhiều người coi nó như một thể loại
đi ngoài lề đời sống văn học, một thứ văn không có diện mạo, không có tiếng nói, không được định danh một cách nhất quán
Ngót một thế kỷ qua, tản văn đã có những bước đi ghi dấu sự tồn tại
và phát triển của nó trong đời sống thể loại văn học Việt Nam Song, đối với giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam, dường như tản văn chưa bao giờ
được quan tâm thực sự ở Việt Nam cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về tản văn trên cả phương diện lý thuyết và văn học sử có qui mô, xứng đáng với tầm ý nghĩa thể loại của nó
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là khái quát những vấn đề lý luận của thể loại tản văn, trên những nét lớn có thể chỉ ra những quy luật tồn tại của nó trong đời sống văn học nói chung, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của tư duy lý thuyết, bổ khuyết một mảng lý thuyết còn bỏ ngỏ, đồng thời tác động đến thực tiễn sáng tác, thúc đẩy sáng tác tản văn ở Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu tản văn ở nước ngoài
Tản văn là một thể loại văn xuôi hiện đại Nó gần gũi với thể essay của phương Tây Đáng chú ý là nó có mối liên hệ đặc biệt với tản văn hiện
đại Trung Quốc Chính vì vậy, khi nhìn vào lịch sử nghiên cứu thể loại tản
Trang 5văn, chúng tôi có xem xét tình hình nghiên cứu tản văn ở Trung Quốc, coi
đó như một sự đối sánh cần thiết để tìm kiếm con đường nghiên cứu tản văn Việt Nam
Nhìn chung, tản văn được hiểu trên ba cấp độ Một là: tản văn là văn xuôi, một loại lớn, đối lập với văn vần Hai là: tản văn là một loại hình thể loại bao gồm những tác phẩm ngoài truyện, thơ và kịch Ba là: tản văn là một thể loại văn học độc lập Coi tản văn là tất cả các tác phẩm văn học ngoài tiểu thuyết, thơ ca, hý kịch có các quan điểm của Diệp Thánh Đào,
Du Nguyên Quế, Trịnh Minh Lợi, Nam Phàm Coi tản văn là một thể loại văn học độc lập, xây dựng được một phong cách riêng, không nhập làm một với văn chương nói chung là ý kiến của một số nhà nghiên cứu như Chu Tự Thanh, Thẩm Nghĩa Trinh, Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến Xu hướng coi tản văn là một thể loại văn học độc lập được nhiều sự đồng thuận ở Trung Quốc, đồng thời nó cũng đi sát với thực tiễn sáng tác của nhiều cây bút lớn như Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Băng Tâm, Thẩm Tùng Văn, Lương Thực Thu, Uông Tăng Kỳ, Dư Thu Vũ, Giả Bình Ao
2.2 Tình hình nghiên cứu tản văn ở Việt Nam
ở Việt Nam, tản văn có lịch sử trên dưới một trăm năm nhưng lịch sử nghiên cứu về nó thì hầu như chưa được bắt đầu Thực ra không phải ở Việt Nam chưa có một ý kiến nào xác lập sự tồn tại của tản văn, song những công trình nghiên cứu tương đối hoàn bị và hệ thống về tản văn và các vấn
đề của nó thì chưa xuất hiện
Vào những năm 40, trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, thể loại này bắt đầu có những nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên công trình này chưa đề cập đến khái niệm thể loại Đến giữa những năm 90 mới xuất hiện
Trang 6Có thể kể đến ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại (Nxb Giáo dục - 1998) cho tản văn là một tiểu loại của kí, nó có một số đặc
điểm như: lối thể hiện đời sống mang tính chấm phá; có thể trữ tình, tự sự, nghị luận; chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu, bất ngờ; mang đậm dấu ấn, cách cảm nhận và cảm nghĩ rất riêng của tác giả Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ
điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục - 2004) cũng xác định tư cách độc lập của tản văn, coi nó là một loại hình ngang hàng với thơ, kịch và tiểu thuyết
Ngoài ra, chúng tôi cũng chú ý đến một số bài phê bình các tác phẩm cụ thể được đăng trên báo chí, trong lời tựa sách của các tác giả như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Hiến Lê, Trần Đình Sử, Vũ Tú Nam, Chu Văn Sơn, Trần Lê Văn, Lương Thị Mỹ Hà, Kim Quyên Chính vì khái niệm tản văn còn chưa được minh định nên hầu hết tác giả các bài viết này chưa có ý thức hoặc ý thức chưa đầy đủ về thể loại tản văn, chủ yếu là đi phân tích các tác phẩm cụ thể trên các phương diện nội dung, hình thức chứ chưa khai thác theo đặc trưng hoặc khái quát những đặc điểm về thể loại
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý thuyết cấu trúc và
lý thuyết lịch sử của thể loại tản văn; diện mạo đặc thù của tản văn Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa thế kỷ XX
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở những tác phẩm tản văn thế kỷ
XX, những tác phẩm công bố dăm năm gần đây chúng tôi coi như quán tính của chặng đường cuối thế kỷ XX, cho nên vẫn nằm trong diện khảo
Trang 7sát Ngoài ra còn có những tài liệu, sách lý luận có liên quan đến thể loại tản văn ở trong nước và nước ngoài
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là xác lập khái niệm tản văn hiện
đại trên cơ sở khái quát những tác phẩm tản văn điển hình của thế kỷ XX;sưu tầm, tập hợp, khôi phục lịch sử và diện mạo của thể loại để làm nền cho những khái quát lý thuyết
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê luận án chú trọng một số phương pháp như phương pháp loại hình, phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu phê bình sinh thái học
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án lần đầu tiên đưa ra một mô hình lý thuyết cho thể loại tản văn hiện đại cùng các vấn đề liên quan Luận án nghiên cứu tản văn từ góc
độ lý thuyết thể loại dựa trên những kết luận có cơ sở thực chứng từ thực tiễn sáng tác, và như vậy, đi đôi với sự nghiên cứu này, luận án đã hình thành diện mạo tản văn Việt Nam thế kỷ XX
Xét trong nội bộ thể loại, luận án đã khái quát và phân loại những loại hình tiêu biểu của tản văn, cho thấy sự đa dạng, phong phú trong cấu trúc loại hình của thể loại này
Từ những đánh giá tổng quan, luận án đã phân tích và chỉ ra được những đặc điểm của thể loại tản văn trong mỗi môi trường sinh thái văn hóa cụ thể, từ đó thấy được quy luật cộng sinh đặc thù của tản văn với các thể loại khác và với đời sống văn hóa nói chung.
Trang 8Sưu tầm số lượng tác phẩm tương đối lớn, có mặt hầu hết sáng tác của các tác giả lớn, luận án còn có những đóng góp về mặt tư liệu (216 tác phẩm và tuyển tập)
6 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Tản văn - một thể loại của văn xuôi hiện đại
Chương 2: Một số loại hình tản văn hiện đại
Chương 3: Tản văn trong diễn tiến môi trường sinh thái văn hóa
thế kỷ XX
chương 1 tản văn - một thể loại của văn xuôi hiện đại
định Hai là trong thực tiễn sáng tác, nhiều nhà văn đã dùng từ tản văn để
định danh thể loại cho sáng tác của mình
1.2 Sự hình thành thể loại tản văn
Tản văn được hình thành vào khoảng thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX với sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trác, Đạm Phương Đây là một thể loại văn xuôi mới viết bằng chữ quốc ngữ, ban
đầu chủ yếu đăng trên báo chí Trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam
Trang 9đầu thế kỷ XX, tản văn là một trong những thể văn xuôi xuất hiện sớm, ra
đời do nhu cầu và những biến động của thời đại
1.2.1 Những yếu tính của thời đại và sự hình thành tản văn
a) Phong trào cổ vũ văn xuôi quốc ngữ
Trong buổi đầu của văn học quốc ngữ, văn xuôi là thể loại rất được khuyến khích Nhiều thể loại văn xuôi đã xuất hiện trong đó tản văn Trong buổi ban đầu, những bài văn xuôi nhỏ ghi lại những cảm xúc, những ý tưởng cá nhân, hoặc bàn luận về các vấn đề xã hội được đăng trên các báo
có ý nghĩa vừa như một sự thể nghiệm lại vừa như là những bài “tập dượt”
để dần hình thành một lối văn mới
b) Đời sống báo chí đầu thế kỷ XX
Báo chí lúc này có vai trò như một cơ quan luyện tập văn mới đầu tiên; báo là nơi tập họp, tuyển lựa những người cầm bút, là chỗ luyện văn
và là nơi công bố những tác phẩm mới Những tác phẩm tản văn đầu tiên của Tản Đà và nhiều cây bút khác đều đăng trên Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí Tản văn nhỏ gọn nên dễ đăng, dễ đến với công chúng bằng con đường báo chí Tính chất tự do, dễ thích ứng của thể loại tỏ ra phù hợp với những yêu cầu của độc giả báo
c) ý thức về cái "tôi" cá nhân
Đầu thế kỷ XX văn học chuyển sang phạm trù hiện đại do sự tác
động của nhiều yếu tố trong đó có một yếu tố quan trọng là sự ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân Đây là một điều kiện thuận lợi, khuyến khích sự nảy
nở và phát triển của các thể loại có tính tự do, ít chịu ràng buộc bởi những phép tắc và lề lối, biểu hiện và in dấu đậm nét cá tính của cái tôi nghệ sỹ như thể loại tản văn
Trang 101.2.2 Quy luật văn học buổi giao thời và sự ra đời của tản văn Xem xét đời sống thể loại nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu nhắc tới một quy luật: đó là sự pha trộn, ảnh hưởng, thâm nhập lẫn nhau giữa các loại thể Tản văn trong thời điểm mà nó ra đời, là một sự kết hợp của nhiều yếu tố (Đông, Tây, Trung đại, hiện đại) để tạo ra hiệu quả giao tiếp tốt nhất khi nhà văn tự biểu lộ bản thân mình
1.2.3 Người đi tiên phong trong sáng tác tản văn - Tản Đà
Tản Đà được coi là người đi đầu trong sáng tác tản văn, người đặt nền móng cho tản văn hiện đại Việt Nam Sáng tác của ông có một số phương diện định hình thể loại như sau: biểu hiện trực tiếp cái tôi bản thể, cá thể, duy nhất của chủ thể sáng tạo; lối viết hướng tới tính hình tượng, tính nghệ thuật, nghiêng về văn chương thẩm mỹ, xa rời thứ văn học chức năng; mở rộng đề tài tới những cái thường ngày, nói về những vấn đề cụ thể, bình thường của chính bản thân mình và cuộc sống xung quanh; sự đan xen ba yếu tố luận, trữ tình, tự sự cho phép nhà văn nới rộng khả năng biểu hiện của ngòi bút, vừa có thể phân tích, bàn luận vấn đề vừa mô tả hiện thực, tái hiện kí ức, vừa bộc bạch tâm tình
Những hạt nhân ban đầu có trong tản văn Tản Đà về cơ bản được kế tục, hoặc nhấn mạnh hướng này, nhấn mạnh hướng kia, đồng thời cũng được biến cải ở những cây bút tản văn những chặng sau của văn học hiện đại 1.3 Đặc trưng của thể loại tản văn
1.3.1 Tản văn là những tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, không có cốt truyện
Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn, phổ biến là những bài văn ngắn gọn, hàm súc Tính chất ngắn gọn của tản văn tùng thuộc các yếu tố: có cấu tứ dựa trên một tín hiệu trung tâm (một hình
Trang 11ảnh, một chi tiết, một tình huống, một nhân vật ) và xoay quanh một ý tưởng trọng tâm; sự biểu ý đặc thù- mỗi tác phẩm thường chỉ tập trung biểu hiện một ý tưởng nhất định Sự tập trung cao độ ở tản văn khiến nó khó có thể dung nạp cùng một lúc nhiều sắc thái tình cảm khác nhau hoặc tái hiện những quá trình tâm lý phức tạp, nhiều biến động Toàn bộ tổ chức tác phẩm hướng tới việc làm nổi bật một chủ âm cơ bản, xuyên suốt, có vai trò như một trụ cột làm nên thần thái của tác phẩm
Chủ yếu chú trọng chi tiết, tản văn là thể loại không đòi hỏi phải có một cốt truyện hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh Đây là một thể văn xuôi không có cốt truyện Bản chất thể loại không phải tái hiện một bức tranh đời sống, xây dựng một thế giới tạo hình xác định tự phát triển theo những quy luật riêng giống như các thể tự sự Người viết tản văn có thể tạo dựng sự kiện, tình huống hay nhân vật; sự có mặt của sự kiện, tình huống, nhân vật trong tản văn chỉ là điểm tựa để chủ thể bộc lộ ý kiến riêng
1.3.2 Tản văn biểu hiện rõ nét cái tôi tác giả
Đặc điểm nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác là nó bộc
lộ rõ nét cái tôi tác giả Chủ thể lời nói nghệ thuật được cảm nhận như một hình tượng nhân vật, hình tượng nhân vật này rất gần gũi với tác giả, mang bóng dáng của tác giả, là một phiên bản của tác giả Toàn bộ tác phẩm
được viết dưới ý thức và giọng điệu của nhân vật này Sự gián cách giữa nhà văn và nhân vật này ở tản văn, so với một số thể loại khác như tiểu thuyết hay thơ trữ tình, không quá lớn, hầu như khó nhận thấy, khiến cho người đọc cảm thấy như đang được đối diện trực tiếp với bản thân người viết
Trang 121.3.3 Cấu trúc của tản văn chủ yếu dựa trên mối tương liên giữa hình ảnh, chi tiết và sự luận giải của cá nhân người cầm bút
Cấu trúc của tản văn không dựa trên sự tổ chức hệ thống nhân vật hay
sự kiện mà chủ yếu thiết lập mối liên hệ giữa các hình ảnh và sự luận giải hay giãi bày trực tiếp của tác giả Tính nghệ thuật của tản văn được toát lên
từ kết cấu đặc thù mà hạt nhân là cấu tứ dựa trên một hệ thống hình ảnh
đầy gợi mở, hàm súc, có chiều sâu và có khả năng đem lại khoái cảm thẩm
mỹ cho người đọc Hệ thống hình ảnh này được nâng đỡ bằng lý lẽ trực tiếp của chủ thể, có khi được kết hợp với những cứ liệu xác thực mang tính tư liệu tạo nên tính khuynh hướng và sự thuyết phục trí tuệ cho tác phẩm
1.3.4 Tản văn có cách thức biểu hiện tự do
Tản văn cho phép người viết có thể giải phóng tư tưởng một cách tận
độ bằng nhiều con đường Tính chất tự do khiến cho tản văn có thể kết hợp nhiều kiểu loại chi tiết trong chỉnh thể của nó (chi tiết xác thực, chi tiết hư cấu, chi tiết kỳ ảo, hoang đường ) Người viết tản văn cũng có thể vận dụng thoải mái các thủ pháp của các thể loại, loại hình nghệ thuật khác như
đối thoại trong kịch, ám dụ trong ngụ ngôn, lập thể trong hội hoạ v.v Tản văn có thể sử dụng kết hợp các thao tác tự sự, trữ tình, nghị luận Tính chất
tự do trong cách thức biểu hiện một mặt đem lại cho người viết nhiều cơ hội phá cách cho ngòi bút, mặt khác tạo cho bản thân thể loại một sức cuốn hút do có độ co giãn, dễ thích ứng và giàu khả năng tạo ra cái mới
1.4 Tản văn trong hệ thống thể loại văn học
Nghiên cứu tản văn cần đặt nó trong tương quan với các thể loại khác
để nhận ra những tương đồng và khác biệt, cho nó một chỗ đứng trong gia
đình văn học Trong phạm vi luận án, chúng tôi chỉ tiến hành mô tả, khái quát đặc điểm của thể loại tản văn, có những so sánh cần thiết với một số
Trang 13thể loại khác để minh định tính chất thể loại của nó Còn vấn đề định vị tản văn trong hệ thống thể loại văn học hiện đại chúng tôi chưa có những kết luận bởi điều này liên quan đến sự phân loại văn học, một vấn đề lớn, ngoài phạm vi luận án
1.4.1 Tản văn và các tiểu loại kí
Các tiểu loại điển hình của kí về cơ bản là những thể văn tự sự, ít nhiều coi trọng việc xây dựng tính cách, cốt truyện Tản văn chủ yếu bộc lộ cái tinh thần bên trong của người viết; cũng có yếu tố tự sự, song dùng tình
để điều khiển văn liệu nên những lôgic khách quan thường bị phá vỡ, các mảng mảnh chuyển hóa thành những tượng trưng mang sức nặng của tâm hồn Đối với các thể kí, mô hình nghệ thuật, kênh giao tiếp đặc thù đều lấy cái xác thực làm nền tảng; tôn trọng khách quan vừa là yêu cầu vừa là một trong những sức mạnh tạo nên tính thuyết phục của kí Với tản văn, tính xác thực của thông tin không phải là một yêu cầu có tính chất bắt buộc
Tản văn và các tiểu loại kí còn khác nhau ở phương diện vai trò của hình tượng tác giả Nếu như trong hồi kí tác giả trở thành đối tượng miêu tả trung tâm của tác phẩm, thì ở tản văn, người viết là một chủ thể biểu hiện,
đối tượng mô tả không nhất thiết là đời sống cá thể của bản thân mà có thể vươn rộng ra những vấn đề của toàn thế giới Con người trong hồi kí là con người của sự kiện, con người lịch sử; còn trong tản văn lại là con người của những suy tư, cảm xúc, ngẫm ngợi, con người của những khoảnh khắc Nếu
kí sự, phóng sự thiên về trình bày những điều nhà văn trực tiếp tham gia, chứng kiến, điều tra, quan sát được, phần trữ tình, bộc lộ cảm xúc nhẹ đi, thì tản văn nổi lên ở bình diện thứ nhất là yếu tố chủ quan của người viết với những suy tư, chiêm nghiệm từ những gì thâu lượm được ngoài cuộc