1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý thuyết về quản trị chiến lược làm luận văn

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý thuyết về quản trị chiến lược làm luận văn
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị chiến lược
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 55,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Eden và Ackerman 1998 cho rằng rằng chiến lược là “một tập hợp nhất quán của các hành động riêng lẻ, được hỗ trợ bởi một hệ thống mục tiêu và được hỗ trợ bởi các động lực quan trọng về t

Trang 1

Cơ Sở Lý Thuyết Về Quản Trị Chiến Lược Làm Luận Văn 1.Khái ni m v chi n l ệm về chiến lược ề chiến lược ến lược ược c

Thompson, Strickland và Gamble (2007) định nghĩa chiến lược là “… một kế

hoạch hành động quản lý để điều hành hoạt động và kinh doanh” Các học giả cũng chỉ

ra rằng “chiến lược của công ty bao gồm các động lực cạnh tranh và phương pháp kinh

doanh được các nhà quản lý sử dụng để phát triển kinh doanh, thu hút và làm hài lòng khách hàng, cạnh tranh thành công, tiến hành kinh doanh và đạt được các mức hiệu suất mục tiêu của tổ chức” Do đó, quản lý chiến lược cần một quá trình xem xét môi trường,

xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược và giám sát, đánh giá và xem xét quá trình thực hiện để đảm bảo hoàn thành một cách hiệu quả và hiệu quả các mục tiêu dài hạn của

tổ chức

Eden và Ackerman (1998) cho rằng rằng chiến lược là “một tập hợp nhất quán

của các hành động riêng lẻ, được hỗ trợ bởi một hệ thống mục tiêu và được hỗ trợ bởi các động lực quan trọng về tự duy trì hoặc quan điểm trong một tổ chức như một danh mục đầu tư.”

Mintzberg và cộng sự (1998) trích dẫn bởi Beckman và Rosenfield (2008) đã nắm bắt được hầu hết các vấn đề chính mà các tổ chức cần chú ý khi xây dựng và thực hiện chiến lược Các chiến lược phụ thuộc vào các khối xây dựng cơ bản để tấn công, phòng thủ và tính di động Việc xây dựng các chiến lược phụ thuộc vào việc tìm kiếm và thực hiện các kết hợp mới của các khối này Trong mọi thời đại, công nghệ và tổ chức xã hội

có giới hạn tích hợp Sau một thời gian, những hạn chế này dường như không thể tránh khỏi và đó là đương nhiên Các nhà chiến lược không còn đặt câu hỏi về sự khôn ngoan

mà họ đã có được và giới hạn bản thân trong các biến thể của các chủ đề được chấp nhận

Vì vậy, những chỉ huy vĩ đại như Napoléon phải cập nhật các chiến lược của họ bằng cách nhận biết và đưa ra các tổ hợp mới

Tập hợp các hành động chắp vá của Ackerman có thể được coi là “các hành động

Trang 2

tố phổ biến khác trong định nghĩa chiến lược của các tác giả này là trọng tâm của nó là đạt được mức hiệu suất mục tiêu của tổ chức một cách bền vững

2.Khái ni m ho t đ ng qu n tr chi n l ệm về chiến lược ạt động quản trị chiến lược ộng quản trị chiến lược ản trị chiến lược ị chiến lược ến lược ược c

Quản lý chiến lược là một thuật ngữ rộng hơn chiến lược Và thuật ngữ này cũng

ám chỉ một quá trình bao gồm phân tích môi trường của tổ chức bởi các nhà quản lý cao nhất nhằm mục đích xây dựng chiến lược và kế hoạch thực hiện và kiểm soát chiến lược Quản lý chiến lược là một tập hợp các hoạt động liên tục của phân tích chiến lược, tạo ra, thực hiện và giám sát chiến lược Nó tổ chức một cách có hệ thống các nguồn lực phù hợp với tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược trong toàn tổ chức Quản lý chiến lược không

dự đoán tương lai, nhưng chuẩn bị cho tổ chức bằng cách biết các bước chính xác để thực hiện kế hoạch chiến lược (Beckman và Rosenfield, 2008)

Hoạch định chiến lược được kết hợp với quản lý chiến lược, đồng thời kết hợp cả lập kế hoạch và quản lý trong cùng một quá trình (Porth, 2002) Hiện nay quản lý chiến lược đã trở thành một trong những lĩnh vực quản lý nổi bật nhất trong các tổ chức Nó bao gồm một tập hợp toàn diện các hành động quản lý hỗ trợ các nhà quản lý công ty giữ cho tổ chức phù hợp với môi trường và chỉ ra con đường phát triển đúng đắn (Jones và cộng sự, 1981) Quản lý chiến lược trong một tổ chức tập trung vào các vấn đề tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh (Bowman et al 2002) Nó là một quá trình và một con đường hướng dẫn các hành động trong toàn bộ tổ chức (Dess et al 2007) Nó là một tập hợp các hành động bao gồm phân tích tổ chức, quyết định và hành động để tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh

Những lợi thế cạnh tranh này hỗ trợ một tổ chức khám phá các cơ hội và giảm thiểu các mối đe dọa từ môi trường Do đó, quản lý chiến lược nói chung là một quá trình liên tục toàn diện bao gồm việc xác định sứ mệnh và các mục tiêu của tổ chức trong môi trường bên trong và bên ngoài

Trang 3

3.Khái ni m chi n l ệm về chiến lược ến lược ược c kinh doanh

Chiến lược kinh doanh đã là đối tượng nghiên cứu thường xuyên từ đầu thế kỷ 20 nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số công ty lại làm tốt hơn những công

ty khác (Barney & Arikan, 2001) Trong khi việc tìm kiếm lý do và cơ sở cho lợi thế cạnh tranh bền vững bắt đầu từ hơn trăm năm trước, nghiên cứu đã thay đổi đáng kể vào những năm 1960 khi Selznick đưa ra ý tưởng 14 phân tích “trạng thái nội bộ” và “kỳ vọng bên ngoài” của một tổ chức như là bối cảnh trước cho đến sau này phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa) nổi tiếng (Kong, 2008) Ngoài ra, Chandler

đã đưa ra khái niệm về một chiến lược phối hợp dài hạn làm cơ sở cho ưu thế cạnh tranh đòi hỏi sự chỉ đạo và thực hiện theo kế hoạch ủa công ty (Chandler, 1962)

Năm 1971, Andrews đã nâng cao lĩnh vực này bằng cách định nghĩa “chiến lược

kinh doanh là sự cân bằng của các hành động và lựa chọn giữa khả năng bên trong và môi trường bên ngoài của một tổ chức.” (Kong, 2008, trang 283) Dựa trên các công trình

của Selznick, Weihrich (1982) phát triển thêm trên quan điểm phân tích bên trong và bên ngoài, tạo ra khung phân tích SWOT Trong khi khuôn khổ SWOT ban đầu vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, lý thuyết chiến lược đã phát triển thêm từ đó (Kong, 2008) Hofer và Schendel (1978) đã tìm ra ba lĩnh vực bất đồng chính giữa các nhà nghiên cứu vào thời điểm đó

Sự phân kỳ đầu tiên trong lĩnh vực liên quan đến phạm vi của khái niệm chiến lược kinh doanh Năm 1980, Bracker đã đóng góp vào sự hiểu biết tốt hơn và sự hội tụ của các lĩnh vực nghiên cứu chiến lược kinh doanh bằng cách tóm tắt những điểm chung giữa các học giả Định nghĩa đầu tiên về chiến lược kinh doanh liên quan đến phân tích môi trường hoặc tình huống để xác định vị trí của công ty trên thị trường, trong khi định nghĩa thứ hai chủ yếu xem xét các nguồn lực của công ty và cách sử dụng phù hợp (Bracker, 1980) Con đường đầu tiên tập trung vào các cơ hội và mối đe dọa sau đó được gọi là tổ chức công nghiệp (IO), tập trung vào các yếu tố môi trường của doanh nghiệp là yếu tố quyết định chính đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Luồng thứ hai trong nghiên cứu, phát triển từ cách tiếp cận SWOT, coi các nguồn lực và năng lực của tổ chức là

Trang 4

nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công Hướng này được đặt ra vào những năm 1980 dưới dạng chế độ xem dựa trên tài nguyên (RBV) (Kong, 2008)

4.Vai trò c a chi n l ủa chiến lược và quản trị chiến lược đối với doanh nghiệp ến lược ược c và qu n tr chi n l ản trị chiến lược ị chiến lược ến lược ược c đ i v i doanh nghi p ối với doanh nghiệp ới doanh nghiệp ệm về chiến lược

Thompson, Strickland và Gamble (2007) xác định hai lý do chính tại sao chiến lược lại quan trọng trong tổ chức kinh doanh Khía cạnh quan trọng đầu tiên của chiến lược là ban lãnh đạo cần chủ động xây dựng cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh của tổ chức Họ khẳng định thêm rằng một chiến lược rõ ràng và được suy nghĩ kỹ lưỡng

là đơn thuốc của ban quản lý để kinh doanh, lộ trình để đạt được lợi thế cạnh tranh, kế hoạch trò chơi để làm hài lòng khách hàng và cải thiện hiệu suất tài chính Thứ hai, họ nói rằng một doanh nghiệp tập trung vào chiến lược có nhiều khả năng trở thành một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn so với một công ty có ban lãnh đạo coi chiến lược

là thứ yếu và đặt các ưu tiên của mình ở nơi khác Việc xây dựng và thực hiện chiến lược hiệu quả có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng doanh thu, thu nhập và lợi tức đầu tư

Dyson etal (2007) thích gọi quá trình quản lý chiến lược là “quá trình phát triển chiến lược.” Họ khẳng định rằng quá trình phát triển chiến lược bao hàm quá trình quản

lý nhằm cung cấp thông tin, hình thành và hỗ trợ các quyết định chiến lược đối với một tổ chức Xu hướng của họ đối với thuật ngữ quá trình phát triển chiến lược dựa trên ba vấn

đề chính mà họ nêu bật Thứ nhất, các tác giả này cho rằng việc xây dựng và thực hiện chiến lược là các hoạt động kinh doanh không thể tách rời, trong đó các tổ chức tham gia liên tục; do đó ý tưởng về sự phát triển liên tục là trọng tâm trong suy nghĩ của họ Lý do thứ hai cho cách tiếp cận của họ là thuật ngữ 'lập kế hoạch chiến lược' được sử dụng rộng rãi đã trở nên không phù hợp với việc tạo ra các kế hoạch 5 và 10 năm mang tính xác định, một lần cho thấy sự cứng nhắc trong suy nghĩ về tương lai Lập luận thứ ba của họ

là "quản lý chiến lược" là một thuật ngữ quá lỏng lẻo để mô tả sự nhấn mạnh phải được đặt vào sự tham gia phản ánh và câu hỏi phân tích đặc trưng cho cách tiếp cận được đề xuất của họ

Trang 5

Mặc dù hơi lạc đề so với cách tiếp cận thông thường đối với quản lý chiến lược, nhưng họ có chung quan điểm với Thompson, Strickland và Gamble (2007), những người khẳng định rằng xây dựng và thực thi chiến lược là các chức năng quản lý cốt lõi; thực hiện xuất sắc một chiến lược xuất sắc là bài kiểm tra tốt nhất về kinh nghiệm của người quản lý - và là công thức đáng tin cậy nhất để biến các công ty thành những người hoạt động nổi bật Các tác giả sau này tranh luận rằng đội ngũ quản lý của một tổ chức lập biểu đồ định hướng của công ty tốt như thế nào, phát triển các động thái chiến lược cạnh tranh hiệu quả và các phương pháp tiếp cận kinh doanh, đồng thời theo đuổi những gì cần phải thực hiện trong nội bộ để thực hiện và vận hành chiến lược hiệu quả sự xuất sắc, quyết định sự thành công hay thất bại cuối cùng của một tổ chức

Hoạt động của một tổ chức phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh được thông qua

và thực hiện (Kotey và Meredith, 1997) Phát hiện của một số nhà nghiên cứu cũng đã thiết lập mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh và hiệu quả hoạt động của tổ chức (Covin và Slevin, 1986; Delmar, Davidsson, và Gartner, 2003; Yasuda, 2005) Miller và Friesen (1983) cho rằng các tổ chức hoạt động hiệu quả nhất là những tổ chức có chiến lược bắt đầu hành động thông qua đổi mới trong các lĩnh vực như phát triển sản phẩm và dịch vụ khách hàng, thay vì bắt chước những gì các tổ chức khác đã và đang làm trên thị trường Zeithmal và Fry (1984) cũng chỉ rõ một số chỉ số hoạt động như cải tiến các sản phẩm hiện tại để đáp ứng thị hiếu, nhu cầu và yêu cầu đang thay đổi của khách hàng, phát triển sản phẩm chú trọng đến chất lượng sản phẩm, gia tăng thị trường và sau đó là hiệu quả tài chính Một nghiên cứu của Vickery, Droge và Markeland (1993) cũng phát hiện ra rằng các doanh nghiệp có hiệu suất cao áp dụng các công nghệ sản xuất mới, nhấn mạnh hiệu quả chi phí, quan tâm đến năng suất lao động là muốn cạnh tranh trong ngành

Hoạt động của một tổ chức phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh được thông qua

và thực hiện (Kotey và Meredith, 1997) Phát hiện của một số nhà nghiên cứu cũng đã thiết lập mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh và hiệu quả hoạt động của tổ chức (Covin và Slevin, 1986; Delmar, Davidsson, và Gartner, 2003; Yasuda, 2005) Miller và Friesen (1983) cho rằng các tổ chức hoạt động hiệu quả nhất là những tổ chức có chiến

Trang 6

lược bắt đầu hành động thông qua đổi mới trong các lĩnh vực như phát triển sản phẩm và dịch vụ khách hàng, thay vì bắt chước những gì các tổ chức khác đã và đang làm trên thị trường Zeithmal và Fry (1984) cũng chỉ rõ một số chỉ số hoạt động như cải tiến các sản phẩm hiện tại để đáp ứng thị hiếu, nhu cầu và yêu cầu đang thay đổi của khách hàng, phát triển sản phẩm chú trọng đến chất lượng sản phẩm, gia tăng thị trường và sau đó là hiệu quả tài chính Một nghiên cứu của Vickery, Droge và Markeland (1993) cũng phát hiện ra rằng các doanh nghiệp có hiệu suất cao áp dụng các công nghệ sản xuất mới, nhấn mạnh hiệu quả chi phí, quan tâm đến năng suất lao động là muốn cạnh tranh trong ngành

5.Phân lo i chi n l ạt động quản trị chiến lược ến lược ược c kinh doanh

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp xác định các hoạt động kinh doanh cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong trung và dài hạn nhằm đạt được mục tiêu Ví dụ, chiến lược tăng trưởng tập trung (thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm mới), chiến lược tăng trưởng đa dạng (đồng tâm, hàng ngang, hỗn hợp), chiến lược liên doanh, liên kết, v.v

Mục đích của chiến lược kinh doanh là xác định các sản phẩm hoặc hình thức thị trường cụ thể mà công ty lựa chọn cho hoạt động kinh doanh của mình, và xác định cách thức công ty cạnh tranh với các hoạt động kinh doanh và vị thế đã biết của công ty trong

số các đối thủ cạnh tranh Các chính sách cấp kinh doanh trong một công ty có thể là doanh nghiệp hoặc danh mục sản phẩm Chiến lược nhằm định hướng sự phát triển của từng ngành hoặc chủng loại sản phẩm và góp phần hoàn thành các chiến lược của công

ty Cần xác định lợi thế của từng ngành so với đối thủ để từ đó đề ra chiến lược phù hợp với chiến lược của công ty

Chiến lược của doanh nghiệp là tập hợp các quyết định có tác động lâu dài và sâu sắc đến vị trí của doanh nghiệp trong môi trường và vai trò của doanh nghiệp trong việc kiểm soát môi trường Chiến lược của doanh nghiệp bao gồm nhiều chiến lược chức năng, trong đó P Y Barreyre (1976) đề xuất sáu chiến lược chức năng, trong đó chiến lược sản xuất và thương mại đóng vai trò trung tâm, là cơ sở để xây dựng các chiến lược chức năng khác:

Trang 7

Chiến lược thương mại là một tập hợp các chính sách dài hạn nhằm xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

Chiến lược tài chính là một tập hợp các chính sách nhằm đảm bảo rằng các nhu cầu tài chính để theo đuổi các mục tiêu thương mại phù hợp với các điều kiện do thị trường vốn đặt ra

Chiến lược sản xuất là một tập hợp các chính sách nhằm xác định loại sản phẩm được sản xuất, số lượng của từng loại sản phẩm và phân bổ các phương tiện hoặc nguồn lực sản xuất để đưa sản phẩm ra thị trường một cách có hiệu quả

Chiến lược xã hội là một tập hợp các chính sách nhằm thiết lập hành vi của doanh nghiệp đối với thị trường lao động và rộng hơn là đối với môi trường kinh tế - xã hội và văn hóa

Chiến lược đổi mới công nghệ là tập hợp các chính sách nghiên cứu phát triển sản phẩm, công nghệ mới, cải tiến sản phẩm hiện có và phương pháp công nghệ đang sử dụng

Chiến lược mua sắm và hậu cần là một tập hợp các chính sách nhằm đảm bảo

“mua sắm tốt” và sử dụng hợp lý các nguồn lực vật chất từ khâu thu mua đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nếu chiến lược kinh doanh hướng tới mục tiêu "bán tốt", thì chiến lược mua sắm “mua tốt” và “mua tốt” cũng giống như bán tốt

Các chiến lược này được gọi chung là chiến lược quản lý doanh nghiệp Các chiến lược này ảnh hưởng lẫn nhau Một chiến lược là tiền đề của việc hình thành một chiến lược khác và việc thực hiện một chiến lược này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến lược khác

Trang 8

Chiến lược mua sắm và logistics

Chiến lược thương mại

Ngày đăng: 02/01/2023, 11:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w