Bài viết Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành thẩm phân phúc mạc tại nhà của người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 trình bày khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về thẩm phân phúc mạc tại nhà ở người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022.
Trang 1KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH THẨM PHÂN PHÚC MẠC TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHI BỆNH THẬN MẠN GIAI
ĐOẠN CUỐI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Huỳnh Thị Vũ Quỳnh 1,2 , Đặng Thái Bình 1 , Đỗ Hùng 1 , Nguyễn Phước Nghĩa 1 ,
Đinh Thị Bảo Ngọc 1 , Nguyễn Đức Thắng 1 , Nguyễn Huỳnh Đức Thiện 1 , Trần Quốc Toàn 1 , Nguyễn Huỳnh Trọng Thi 2 , Nguyễn Thị Mỹ Duyên 1
TÓM TẮT 13
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực
hành về thẩm phân phúc mạc (TPPM) tại nhà ở
người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn (BTM)
giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện
Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt
ca
Kết quả: Có 25 người chăm sóc bệnh nhi
BTM thực hiện TPPM tại bệnh viện Nhi Đồng 2
được đưa vào nghiên cứu Về kiến thức, 4%
người chăm sóc thể hiện kiến thức tốt, 64% chưa
tốt và 32% kiến thức không đạt, cụ thể thiếu sót
về các vấn đề biến chứng TPPM, các triệu chứng
gợi ý nhiễm trùng, theo dõi tình trạng dịch cơ thể
và chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhi TPPM Về
thái độ, 96 – 100% có thái độ tốt về các vấn đề
TPPM được khảo sát Về thực hành, có 72 –
100% người chăm sóc đạt yêu cầu về quá trình
chuẩn bị TPPM, trong khi thay dịch và vệ sinh
sau TPPM, tuy nhiên kết quả tổng thể nhận thấy
100% thực hành TPPM không đạt yêu cầu, do
chỉ có 36% kiểm tra túi dịch đủ 6 bước và 0% đạt
yêu cầu về quá trình tháo dây
1 Đại học Y Dược TP.HCM
2
Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Thị Vũ Quỳnh
Email: quynh.huynh@ump.edu.vn
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022
Ngày duyệt bài: 10.10.2022
Kết luận: Kiến thức về TPPM của người
chăm sóc trung bình ở mức chưa tốt, và hầu hết
có thái độ tốt về TPPM trong khi toàn bộ số người chăm sóc được khảo sát có thực hành TPPM không đạt yêu cầu
Từ khóa: Kiến thức, Thái độ, Thực hành,
Thẩm phân phúc mạc tại nhà, Người chăm sóc, Bệnh thận mạn giai đoạn cuối
SUMMARY KNOWLEDGE, ATTITUDES, AND PRACTICE BY CAREGIVERS OF CHILDREN AND ADOLESCENTS UNDERGOING CONTINUOUS AMBULATORY PERITONEAL DIALYSIS IN CHILDREN’S HOSPITAL 2
Objective: To assess the knowledge, attitudes
and practice by caregivers of children and adolescents with end-stage renal disease (ESRD) undergoing continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD) in Children’s Hospital 2 from March 2022 to May 2022
Methods: A case-serie study
Results: A sample of 25 caregivers of
children and adolescents on PD in Children’s Hospital 2 met the inclusion criteria was described in this study As regards the level of knowledge, the proportion of caregivers showing good knowledge was 4%, whereas 64% and 32%, respectively, were those of who had insufficient and wrong knowledge about PD issues such as its complications, symptoms of
Trang 2TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
infection, monitoring body fluid and nutrition for
PD pediatric patients Concerning attitudes, there
was 96 – 100% surveyed having a good attitude
about PD issues In the matter of practice, it was
found that 72 – 100% of caregivers’ practice met
the criteria of preparation, exchanging fluids and
cleaning after PD procedures However, the
overall result indicated that all the caregivers’
practice were incorrect
Conclusions: Above average of assessed
caregivers have insufficient knowledge, and the
majority of whom showed a good attitude
towards PD although all of the caregivers’ PD
practice was considered inadequate
Keywords: Knowledge, Attitudes, Practice,
Continuous ambulatory peritoneal dialysis,
Caregivers, End-stage renal disease
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, BTM đang trở thành một vấn đề
đáng quan tâm trong cộng đồng do số người
mắc BTM giai đoạn cuối ngày càng gia tăng
Tại Việt Nam, năm 2015 có trên 80.000 bệnh
nhân BTM giai đoạn cuối (1) Với nhu cầu sử
dụng các phương pháp điều trị thay thế thận
tăng cao, ở nước ta các trung tâm thận nhân
tạo (TNT) trên toàn quốc đều bị quá tải, chưa
đáp ứng được nhu cầu lọc máu của người
bệnh
Từ tháng 7/2010, bệnh viện Nhi Đồng 2
Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng phương
pháp TPPM trên bệnh nhân BTM giai đoạn
cuối (2) Phương pháp này đặc biệt thích hợp
ở trẻ em bởi kỹ thuật không theo đường
mạch máu nên tránh nghẽn mạch, tắc mạch
và xơ hóa mạch Hiện nay ít có nghiên cứu
về kiến thức, thái độ thực hành của bệnh nhi
TPPM Do đó chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này với câu hỏi kiến thức, thái độ và
thực hành về TPPM tại nhà của người chăm
đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2
hiện nay như thế nào?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên những người chăm sóc bệnh nhi
BTM giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến
tháng 05/2022, chúng tôi khảo sát
Kiến thức về TPPM tại nhà Khảo sát thái độ về TPPM Khảo sát thực hành về TPPM
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số chọn mẫu
Tất cả người chăm sóc trực tiếp bệnh nhi BTM giai đoạn cuối đang điều trị TPPM tại nhà được theo dõi ở bệnh viện Nhi Đồng 2 từ ngày 01/03/2022 đến ngày 31/05/2022
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chuẩn chọn vào Người chăm sóc trực tiếp bệnh nhi BTM giai đoạn cuối đang điều trị TPPM tại nhà được theo dõi ở bệnh viện Nhi Đồng 2 từ ngày 01/03/2022 đến ngày 31/05/2022 Tiêu chuẩn loại ra
Người chăm sóc không đồng ý hoặc không hợp tác trong quá trình tham gia nghiên cứu
Người chăm sóc không liên lạc được hoặc
đã bỏ theo dõi điều trị cho bệnh nhi ở bệnh viện Nhi Đồng 2
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Cỡ mẫu
Lấy mẫu toàn bộ
Thu thập và xử lí số liệu
Chúng tôi thu thập số liệu dựa vào bảng câu hỏi (phỏng vấn trực tiếp) các biến số về kiến thức, thái độ và quan sát trực tiếp quá trình người chăm sóc thực hiện thẩm phân để đánh giá thực hành
Trang 3Dữ liệu được nhập bằng phần mềm MS
Excel 2016 và xử lí thống kê bằng JASP
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng
03/2022 đến tháng 05/2022, trên tổng số 29
người chăm sóc của 29 bệnh nhi đang điều
trị TPPM tại bệnh viện Nhi Đồng 2, chúng
tôi thu được 25 mẫu nghiên cứu, còn lại loại
4 trường hợp do mất liên lạc và bỏ khám ở
bệnh viện Nhi Đồng 2
Về đặc điểm nhân khẩu học, người chăm
sóc là nữ (80%) và chủ yếu là mẹ (72%) với
độ tuổi trung bình trong khoảng 35-44 Tỉ lệ
người không đi làm để dành thời gian chăm
sóc bệnh nhi chiếm 36%, và 25 người được
khảo sát đều ít nhất đã tốt nghiệp tiểu học
Tuổi trung bình của bệnh nhi khi được khảo
sát là từ 12 tuổi trở lên (56%) và đa phần
bệnh nhi chỉ vừa thực hiện TPPM dưới 1
năm (56%) Có 64% bệnh nhi đã từng nhập
viện vì biến chứng bệnh thận hay TPPM
(viêm phúc mạc, thoát vị, tụt huyết áp, chảy
mủ chân ống…)
Kiến thức của người chăm sóc
Kiến thức của người chăm sóc về vệ sinh
chăm sóc catheter
Có 100% bệnh nhân có kiến thức về việc
rửa tay bằng xà phòng, 92% có kiến thức
đúng về quy trình rửa tay 6 bước và thời gian
rửa tay kéo dài ít nhất 30 phút 80% bệnh
nhân biết chân ống là nơi vi trùng có khả
năng đi vào màng bụng nhất 100% bệnh
nhân biết cần quan sát dịch chảy ra từ chân
ống, 88% bệnh nhân biết các dấu hiệu của
nhiễm trùng chân ống như chảy mủ, đỏ da
Tuy nhiên các triệu chứng không đặc hiệu
khác như đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, dịch xả
đục, ngứa, tỉ lệ người chăm sóc trả lời đúng
chỉ từ 4-20%
Kiến thức của người chăm sóc về dịch xả
và bộ TPPM 84% người chăm sóc biết liên hệ ngay với nhân viên y tế khi dịch xả có màu sắc bất thường hay khi làm ô nhiễm phần vô trùng của bộ chuyển tiếp (92%), 68% người chăm sóc nêu nguyên nhân dịch không thoát ra khỏi khoang màng bụng là do ống thông không đúng vị trí và 52% trường hợp nêu cần thay đổi tư thế để dịch thoát ra 56% người chăm sóc cho biết cần đến bệnh viện ngay khi có dấu hiệu nhiễm trùng
Kiến thức của người chăm sóc về biến chứng của TPPM
100% bệnh nhân cho biết cần theo dõi huyết áp, theo dõi cân nặng (96%), lượng nước tiểu (88%) 88% người chăm sóc biết việm phúc mạc là biến chứng thường gặp và dấu hiệu của viêm phúc mạc là dịch xả đục (88%) 92% người chăm sóc cho biết cần đến bệnh viện khi có dấu hiệu viêm phúc mạc Kiến thức của người chăm sóc về theo dõi cân nặng, xuất nhập, thuốc điều trị và mức
độ vận động của bệnh nhi 100% người chăm sóc cho biết cần sử dụng cùng 1 cân để theo dõi và 88% cho biết cần cân cùng 1 thời điểm trong ngày Chỉ có 12-44% người chăm sóc có kiến thức về việc theo dõi xuất nhập của bệnh nhi 56% người chăm sóc biết rõ về các loại thuốc, tác dụng thuốc và cách sử dụng
24% có kiến thức đúng về mức độ vận động và loại hình hoạt động của bệnh nhi Kiến thức của người chăm sóc về chế độ dinh dưỡng của bệnh nhi
Phần lớn người chăm sóc biết các bệnh nhân cần được ăn kiêng (96%) Phần lớn người chăm sóc biết thành phần các chất đạm
và điện giải trong thức ăn (84-96%)
Trang 4TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
Bảng 1: Kết quả kiến thức của người
chăm sóc (n = 25)
Phân nhóm kiến thức Tần
suất
Tỉ lệ (%)
Không đạt
( ≤ 50% số câu đúng) 8 32
Chưa tốt
(50 - 80% số câu đúng) 16 64
Tốt
Có mối liên hệ giữa kiến thức của bệnh
nhân và thời gian bệnh nhi được TPPM (p <
0,001) và mối liên quan giữa kiến thức và
bệnh nhi từng nhập viện biến chứng TPPM
(p=0,022)
Thái độ của người chăm sóc
96% bệnh nhân có thái độ đúng về việc vệ
sinh và chăm sóc catheter, biến chứng
thường gặp, về việc theo dõi cân nặng-dịch
cơ thể - chế độ ăn và các vấn đề khác
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
thái độ của người chăm sóc bệnh nhi TPPM
và mối quan hệ của người chăm sóc với bệnh
nhi (p=0,003) và giữa thái độ và số người
trong hộ gia đình hiện tại (p <0,001)
Thực hành của người chăm sóc
Chúng tôi khảo sát 3 bước chuẩn bị thẩm
phân, quá trình thay dịch và kết thúc quá
trình thay dịch
Phần lớn người chăm sóc thực hành tốt
bước chuẩn bị như nơi thay dịch đảm bảo
yêu cầu (84%), chuẩn bị dụng cụ đầy đủ
(100%), đảm bảo vệ sinh (96%), rửa tay
(88%)
Về quá trình thay dịch, 36% bệnh nhân
thực hiện đúng 6 bước kiểm tra túi dịch, 84%
thực hiện đúng quá trình thay dịch 100%
thực hiện bước xử lý, dịch thẩm phân, vệ
sinh sau TPPM Tuy nhiên, 100% thực hiện
sai bước tháo dây do vi phạm nguyên tắc vô
khuẩn Do đó, không có người chăm sóc nào đạt thực hành đúng
IV BÀN LUẬN Kiến thức
Viêm phúc mạc là câu trả lời phổ biến khi được hỏi đâu là biến chứng của TPPM (88%), và 64% biết đến biến chứng thoát vị, gần giống với kết quả của tác giả Fatmal với
tỉ lệ lần lượt là 82,9% và 68,3% Đa số người chăm sóc biết được các dấu hiệu của viêm phúc mạc và tất cả sẽ liên hệ nhân viên y tế hoặc đến bệnh viện ngay khi nghi ngờ, 0% không biết cách xử trí hay quyết định không làm gì, khác với 4,9% câu trả lời “Không” và 7,3% câu trả lời “Tôi không biết” trong nghiên cứu của Fatmal đối với câu hỏi tương
tự (4) 20% người chăm sóc không biết dấu hiệu mất nước và 12% không biết dấu hiệu ứ dịch Chúng tôi nhận thấy cần giáo dục người chăm sóc lại kĩ hơn về vấn đề này, vì việc theo dõi xuất nhập có ý nghĩa khá quan trọng
ở một trẻ TTPM 84% trả lời cần hạn chế lượng dịch nhập đối với bệnh nhi TPPM, giống với 80,5% câu trả lời “Có” trong kết quả nghiên cứu của Fatmal khi khảo sát người chăm sóc rằng “Có phải lượng dịch nhập mỗi ngày không nên quá nhiều?” Khi hỏi về mức độ vận động, có 84 – 92% người chăm sóc biết rằng cần hạn chế vận động mạnh và không được chơi các môn thể thao dưới nước, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Fatmal khi hỏi “Trẻ TPPM có yêu cầu hạn chế vận động?” với 36,6% câu trả lời
“Có” (4) Theo thống kê, 96% người chăm sóc biết rằng bệnh nhi TPPM cần có chế độ ăn kiêng Tuy nhiên, chỉ có 4 – 16% người trả lời cần
bổ sung đạm với lượng từ bình thường đến
Trang 5trong nghiên cứu của Fatmal , trong khi suy
dinh dưỡng là biến chứng TPPM thường gặp
ở Việt Nam, nhất là trẻ nhỏ Đối với Kali,
người chăm sóc tự biết cân đối theo kết quả
xét nghiệm và khuyến cáo của bác sĩ điều trị
chính Qua khảo sát, chúng ta nhận thấy rằng
mặc dù rất có ý thức về việc cần ăn kiêng,
nhưng người chăm sóc lại chưa có nhiều kiến
thức cụ thể về tỉ lệ các chất trong bữa ăn,
cũng như các loại thức ăn có thành phần
tương tự để đa dạng hoá bữa ăn cho trẻ
Thống kê tổng thể cho thấy hơn một nửa
(64%) số người chăm sóc bệnh nhi TPPM có
kiến thức chưa tốt, hơn 30% người có kiến
thức sai, và chưa đến 5% có kiến thức tốt Do
vậy, nhóm nghiên cứu chúng tôi đề xuất các
chương trình giáo dục liên tục và lặp lại
thường xuyên nhằm giải đáp thắc mắc và cập
nhật thông tin, kiến thức mới Ngoài ra, đối
với các câu hỏi tình huống, chúng tôi nghĩ
rằng nên chuẩn bị cho người chăm sóc một
số tình huống hằng ngày có thể xảy ra trên
từng hồ sơ bệnh nhi cụ thể, để họ có kiến
thức tốt hơn và không bị lúng túng khi gặp
tình huống thật tại nhà
Về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu
học và kiến thức người chăm sóc, tổng quan
cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa kiến thức và thời gian bệnh nhi được
TPPM với p £ 0,05 Điều này có thể giải
thích là do những người mới chưa có kinh
nghiệm do chưa từng gặp biến chứng hay
trường hợp như vậy trước đây Vì vậy, việc
chuẩn bị cho người chăm sóc đối phó một số
tình huống hằng ngày liên quan hồ sơ bệnh
nhi cụ thể là có khả thi Bên cạnh đó, nghiên
cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức
và bệnh nhi đã từng nhập viện vì biến chứng
của bệnh thận hoặc của TPPM Chúng tôi
nghĩ rằng việc kiến thức chưa đầy đủ có thể
làm gia tăng nguy cơ biến chứng TPPM tại
nhà, từ đó có thể thấy rằng việc giáo dục kĩ lưỡng và thường xuyên là không thể thiếu
Thái độ
Nhìn chung, gần như toàn bộ người chăm sóc đều có thái độ tốt, chỉ có 4% có thái độ chưa tốt Hầu hết những người chăm sóc thấy được tầm quan trọng về nội dung của các câu hỏi nhóm nghiên cứu đưa ra
Thống kê cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa thái độ của người chăm sóc bệnh nhi TPPM và đặc điểm nhân khẩu học, cụ thể
sự khác biệt về thái độ này thể hiện trong nhóm mối quan hệ của người chăm sóc với bệnh nhi và số người trong hộ gia đình hiện tại với p <0,05 Tuy nhiên, do cỡ mẫu nhỏ (25 trường hợp) và khảo sát ghi nhận 96% người chăm sóc có thái độ tốt nên sự khác biệt có ý nghĩa ở đây không thể hiện được cụ thể mối liên quan giữa các yếu tố trên
Thực hành
Việc chuẩn bị thẩm phân được hầu hết người chăm sóc thực hiện tốt Về rửa tay, có 12% trường hợp chưa đạt thời gian rửa tay (ít nhất 30 giây), một con số khả quan hơn nghiên cứu của Sarah Silva Abrahão và cộng
sự thực hiện với 30 người chăm sóc cho thấy
có 76% đã rửa tay đúng thời gian và số lần theo hướng dẫn (3)
Khởi đầu quy trình thẩm phân còn thiếu sót với kiểm tra túi dịch 6 bước, chỉ có 36% người chăm sóc thực hiện đạt yêu cầu, phần lớn đều không kiểm tra loại (40%) và van còn nguyên vẹn hay không (52%) 28% trường hợp không dùng kẹp xanh kẹp vào dây túi dịch sạch Việc quên thực hiện việc này mà tiến hành các bước tiếp theo có thể dẫn đến dịch sạch trong túi chảy thẳng ra ngoài khi vừa giật nút xanh lá cây của dây Đáng chú ý, 0% người chăm sóc thực hiện đúng quá trình tháo dây thay túi dịch mới Tất cả người chăm sóc đều thực hiện kiểm
Trang 6TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
tra và cân dịch xả trước khi tháo dây thay
dịch mới mà không rửa tay lại bằng xà phòng
hoặc rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn tay
nhanh nhưng không đủ 6 bước và thời gian
rửa tay không đảm bảo Chúng tôi đánh giá
việc này có nguy cơ nhiễm khuẩn cao do
phạm vô trùng, do đó các bước thực hiện sau
đều không đạt yêu cầu Tuy nhiên, việc kiểm
tra và cân dịch xả trước giúp cho người chăm
sóc đánh giá được cân bằng dịch và quyết
định lượng dịch nhập bao nhiêu là phù hợp
Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất chỉnh sửa
quy trình bằng cách bổ sung thêm bước rửa
tay bằng xà phòng sau khi cân dịch rồi mới
tiến hành các bước thay dịch
Tổng quan chung, tất cả người chăm sóc
bệnh nhi đều thực hành TPPM chưa đạt yêu
cầu Do đó, chúng tôi cảm thấy việc giáo dục
và kiểm tra thực hành thường xuyên là cần
thiết
V KẾT LUẬN
Phần lớn người chăm sóc có thái độ tốt
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu sót về kiến
thức (như biến chứng TPPM, triệu chứng gợi
ý nhiễm khuẩn, theo dõi dấu hiệu mất nước
và ứ dịch, chế độ ăn thích hợp) và thực hành
(100% không đạt yêu cầu, sai sót ở thời gian
rửa tay, kiểm tra loại dịch, vẫn hay cần dùng
kẹp xanh kẹp vào dây túi dịch trước khi mở
van và giật nút màu xanh lá cây)
KIẾN NGHI
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất
cần thực hiện tốt hơn việc giáo dục cho
người chăm sóc bệnh nhi TPPM về các kiến
thức và kỹ năng cần thiết cũng như cách
chăm sóc bệnh nhi cũng như cần cải tiến quy trình thực hành TPPM tại nhà như sau: sau khi dịch xả hết vào túi dưới đất, cần kiểm tra dịch đã ra, cân dịch ra và ghi nhớ, sau đó, rửa tay sạch sẽ, lau khô bằng khăn sạch và tiếp tục các bước tiếp theo để thay dịch mới vào
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y Tế Việt Nam (2015) Cẩm nang lọc
màng bụng, Nhà xuất bản Y học Hà Nội;
53-232
2 Hà Mạnh Tuấn, Nguyễn Huỳnh Trọng Thi
và Hoàng Thị Diễm Thúy(2016) Hiệu quả
thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2013 - 1/2016 Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh 2016; 20(5):271-275
3 Abrahão S.S., Ricas J., Andrade D.F., Pompeu F.C., Chamahum L., Araújo T.M., Silva J.M.P., Nahas C and Lima E.M(2010) Descriptive study about the
practice of home peritoneal dialysis Brazilian Journal of Nephrology; 32(1):43-48
4 Awaji F.A., Thibani N.M.A., Alsulami N.A., Otaibi S.S.A and Moawad S(2019)
Assessing the knowledge of caregivers of children undergoing peritoneal dialysis in Riyadh, Saudi Arabia Journal of Nursing Education and Practice; 9(1):44-57
5 Batista A.F., Caminha M.F.C., Silva C.C and Sales C.C.S(2016) Knowledge, attitudes, and practice by caregivers of children and adolescents undergoing hemodialysis or peritoneal dialysis Revista da Eletric da Enferm; 18:11-64