1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành thẩm phân phúc mạc tại nhà của người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

6 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành thẩm phân phúc mạc tại nhà của người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
Tác giả Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, Đặng Thái Bình, Đỗ Hùng, Nguyễn Phước Nghĩa, Đinh Thị Bảo Ngọc, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Huỳnh Đức Thiện, Trần Quốc Toàn, Nguyễn Huỳnh Trọng Thi, Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Người hướng dẫn Chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Thị Vũ Quỳnh
Trường học Đại học Y Dược TP.HCM
Chuyên ngành Y học, Bệnh thận mạn
Thể loại Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 447,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành thẩm phân phúc mạc tại nhà của người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 trình bày khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về thẩm phân phúc mạc tại nhà ở người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022.

Trang 1

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH THẨM PHÂN PHÚC MẠC TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHI BỆNH THẬN MẠN GIAI

ĐOẠN CUỐI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Huỳnh Thị Vũ Quỳnh 1,2 , Đặng Thái Bình 1 , Đỗ Hùng 1 , Nguyễn Phước Nghĩa 1 ,

Đinh Thị Bảo Ngọc 1 , Nguyễn Đức Thắng 1 , Nguyễn Huỳnh Đức Thiện 1 , Trần Quốc Toàn 1 , Nguyễn Huỳnh Trọng Thi 2 , Nguyễn Thị Mỹ Duyên 1

TÓM TẮT 13

Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực

hành về thẩm phân phúc mạc (TPPM) tại nhà ở

người chăm sóc bệnh nhi bệnh thận mạn (BTM)

giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện

Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt

ca

Kết quả: Có 25 người chăm sóc bệnh nhi

BTM thực hiện TPPM tại bệnh viện Nhi Đồng 2

được đưa vào nghiên cứu Về kiến thức, 4%

người chăm sóc thể hiện kiến thức tốt, 64% chưa

tốt và 32% kiến thức không đạt, cụ thể thiếu sót

về các vấn đề biến chứng TPPM, các triệu chứng

gợi ý nhiễm trùng, theo dõi tình trạng dịch cơ thể

và chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhi TPPM Về

thái độ, 96 – 100% có thái độ tốt về các vấn đề

TPPM được khảo sát Về thực hành, có 72 –

100% người chăm sóc đạt yêu cầu về quá trình

chuẩn bị TPPM, trong khi thay dịch và vệ sinh

sau TPPM, tuy nhiên kết quả tổng thể nhận thấy

100% thực hành TPPM không đạt yêu cầu, do

chỉ có 36% kiểm tra túi dịch đủ 6 bước và 0% đạt

yêu cầu về quá trình tháo dây

1 Đại học Y Dược TP.HCM

2

Bệnh viện Nhi Đồng 2

Chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Thị Vũ Quỳnh

Email: quynh.huynh@ump.edu.vn

Ngày nhận bài: 25.8.2022

Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022

Ngày duyệt bài: 10.10.2022

Kết luận: Kiến thức về TPPM của người

chăm sóc trung bình ở mức chưa tốt, và hầu hết

có thái độ tốt về TPPM trong khi toàn bộ số người chăm sóc được khảo sát có thực hành TPPM không đạt yêu cầu

Từ khóa: Kiến thức, Thái độ, Thực hành,

Thẩm phân phúc mạc tại nhà, Người chăm sóc, Bệnh thận mạn giai đoạn cuối

SUMMARY KNOWLEDGE, ATTITUDES, AND PRACTICE BY CAREGIVERS OF CHILDREN AND ADOLESCENTS UNDERGOING CONTINUOUS AMBULATORY PERITONEAL DIALYSIS IN CHILDREN’S HOSPITAL 2

Objective: To assess the knowledge, attitudes

and practice by caregivers of children and adolescents with end-stage renal disease (ESRD) undergoing continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD) in Children’s Hospital 2 from March 2022 to May 2022

Methods: A case-serie study

Results: A sample of 25 caregivers of

children and adolescents on PD in Children’s Hospital 2 met the inclusion criteria was described in this study As regards the level of knowledge, the proportion of caregivers showing good knowledge was 4%, whereas 64% and 32%, respectively, were those of who had insufficient and wrong knowledge about PD issues such as its complications, symptoms of

Trang 2

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

infection, monitoring body fluid and nutrition for

PD pediatric patients Concerning attitudes, there

was 96 – 100% surveyed having a good attitude

about PD issues In the matter of practice, it was

found that 72 – 100% of caregivers’ practice met

the criteria of preparation, exchanging fluids and

cleaning after PD procedures However, the

overall result indicated that all the caregivers’

practice were incorrect

Conclusions: Above average of assessed

caregivers have insufficient knowledge, and the

majority of whom showed a good attitude

towards PD although all of the caregivers’ PD

practice was considered inadequate

Keywords: Knowledge, Attitudes, Practice,

Continuous ambulatory peritoneal dialysis,

Caregivers, End-stage renal disease

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, BTM đang trở thành một vấn đề

đáng quan tâm trong cộng đồng do số người

mắc BTM giai đoạn cuối ngày càng gia tăng

Tại Việt Nam, năm 2015 có trên 80.000 bệnh

nhân BTM giai đoạn cuối (1) Với nhu cầu sử

dụng các phương pháp điều trị thay thế thận

tăng cao, ở nước ta các trung tâm thận nhân

tạo (TNT) trên toàn quốc đều bị quá tải, chưa

đáp ứng được nhu cầu lọc máu của người

bệnh

Từ tháng 7/2010, bệnh viện Nhi Đồng 2

Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng phương

pháp TPPM trên bệnh nhân BTM giai đoạn

cuối (2) Phương pháp này đặc biệt thích hợp

ở trẻ em bởi kỹ thuật không theo đường

mạch máu nên tránh nghẽn mạch, tắc mạch

và xơ hóa mạch Hiện nay ít có nghiên cứu

về kiến thức, thái độ thực hành của bệnh nhi

TPPM Do đó chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này với câu hỏi kiến thức, thái độ và

thực hành về TPPM tại nhà của người chăm

đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2

hiện nay như thế nào?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên những người chăm sóc bệnh nhi

BTM giai đoạn cuối đang được theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 03/2022 đến

tháng 05/2022, chúng tôi khảo sát

Kiến thức về TPPM tại nhà Khảo sát thái độ về TPPM Khảo sát thực hành về TPPM

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số chọn mẫu

Tất cả người chăm sóc trực tiếp bệnh nhi BTM giai đoạn cuối đang điều trị TPPM tại nhà được theo dõi ở bệnh viện Nhi Đồng 2 từ ngày 01/03/2022 đến ngày 31/05/2022

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn vào Người chăm sóc trực tiếp bệnh nhi BTM giai đoạn cuối đang điều trị TPPM tại nhà được theo dõi ở bệnh viện Nhi Đồng 2 từ ngày 01/03/2022 đến ngày 31/05/2022 Tiêu chuẩn loại ra

Người chăm sóc không đồng ý hoặc không hợp tác trong quá trình tham gia nghiên cứu

Người chăm sóc không liên lạc được hoặc

đã bỏ theo dõi điều trị cho bệnh nhi ở bệnh viện Nhi Đồng 2

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Cỡ mẫu

Lấy mẫu toàn bộ

Thu thập và xử lí số liệu

Chúng tôi thu thập số liệu dựa vào bảng câu hỏi (phỏng vấn trực tiếp) các biến số về kiến thức, thái độ và quan sát trực tiếp quá trình người chăm sóc thực hiện thẩm phân để đánh giá thực hành

Trang 3

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm MS

Excel 2016 và xử lí thống kê bằng JASP

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng

03/2022 đến tháng 05/2022, trên tổng số 29

người chăm sóc của 29 bệnh nhi đang điều

trị TPPM tại bệnh viện Nhi Đồng 2, chúng

tôi thu được 25 mẫu nghiên cứu, còn lại loại

4 trường hợp do mất liên lạc và bỏ khám ở

bệnh viện Nhi Đồng 2

Về đặc điểm nhân khẩu học, người chăm

sóc là nữ (80%) và chủ yếu là mẹ (72%) với

độ tuổi trung bình trong khoảng 35-44 Tỉ lệ

người không đi làm để dành thời gian chăm

sóc bệnh nhi chiếm 36%, và 25 người được

khảo sát đều ít nhất đã tốt nghiệp tiểu học

Tuổi trung bình của bệnh nhi khi được khảo

sát là từ 12 tuổi trở lên (56%) và đa phần

bệnh nhi chỉ vừa thực hiện TPPM dưới 1

năm (56%) Có 64% bệnh nhi đã từng nhập

viện vì biến chứng bệnh thận hay TPPM

(viêm phúc mạc, thoát vị, tụt huyết áp, chảy

mủ chân ống…)

Kiến thức của người chăm sóc

Kiến thức của người chăm sóc về vệ sinh

chăm sóc catheter

Có 100% bệnh nhân có kiến thức về việc

rửa tay bằng xà phòng, 92% có kiến thức

đúng về quy trình rửa tay 6 bước và thời gian

rửa tay kéo dài ít nhất 30 phút 80% bệnh

nhân biết chân ống là nơi vi trùng có khả

năng đi vào màng bụng nhất 100% bệnh

nhân biết cần quan sát dịch chảy ra từ chân

ống, 88% bệnh nhân biết các dấu hiệu của

nhiễm trùng chân ống như chảy mủ, đỏ da

Tuy nhiên các triệu chứng không đặc hiệu

khác như đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, dịch xả

đục, ngứa, tỉ lệ người chăm sóc trả lời đúng

chỉ từ 4-20%

Kiến thức của người chăm sóc về dịch xả

và bộ TPPM 84% người chăm sóc biết liên hệ ngay với nhân viên y tế khi dịch xả có màu sắc bất thường hay khi làm ô nhiễm phần vô trùng của bộ chuyển tiếp (92%), 68% người chăm sóc nêu nguyên nhân dịch không thoát ra khỏi khoang màng bụng là do ống thông không đúng vị trí và 52% trường hợp nêu cần thay đổi tư thế để dịch thoát ra 56% người chăm sóc cho biết cần đến bệnh viện ngay khi có dấu hiệu nhiễm trùng

Kiến thức của người chăm sóc về biến chứng của TPPM

100% bệnh nhân cho biết cần theo dõi huyết áp, theo dõi cân nặng (96%), lượng nước tiểu (88%) 88% người chăm sóc biết việm phúc mạc là biến chứng thường gặp và dấu hiệu của viêm phúc mạc là dịch xả đục (88%) 92% người chăm sóc cho biết cần đến bệnh viện khi có dấu hiệu viêm phúc mạc Kiến thức của người chăm sóc về theo dõi cân nặng, xuất nhập, thuốc điều trị và mức

độ vận động của bệnh nhi 100% người chăm sóc cho biết cần sử dụng cùng 1 cân để theo dõi và 88% cho biết cần cân cùng 1 thời điểm trong ngày Chỉ có 12-44% người chăm sóc có kiến thức về việc theo dõi xuất nhập của bệnh nhi 56% người chăm sóc biết rõ về các loại thuốc, tác dụng thuốc và cách sử dụng

24% có kiến thức đúng về mức độ vận động và loại hình hoạt động của bệnh nhi Kiến thức của người chăm sóc về chế độ dinh dưỡng của bệnh nhi

Phần lớn người chăm sóc biết các bệnh nhân cần được ăn kiêng (96%) Phần lớn người chăm sóc biết thành phần các chất đạm

và điện giải trong thức ăn (84-96%)

Trang 4

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

Bảng 1: Kết quả kiến thức của người

chăm sóc (n = 25)

Phân nhóm kiến thức Tần

suất

Tỉ lệ (%)

Không đạt

( ≤ 50% số câu đúng) 8 32

Chưa tốt

(50 - 80% số câu đúng) 16 64

Tốt

Có mối liên hệ giữa kiến thức của bệnh

nhân và thời gian bệnh nhi được TPPM (p <

0,001) và mối liên quan giữa kiến thức và

bệnh nhi từng nhập viện biến chứng TPPM

(p=0,022)

Thái độ của người chăm sóc

96% bệnh nhân có thái độ đúng về việc vệ

sinh và chăm sóc catheter, biến chứng

thường gặp, về việc theo dõi cân nặng-dịch

cơ thể - chế độ ăn và các vấn đề khác

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

thái độ của người chăm sóc bệnh nhi TPPM

và mối quan hệ của người chăm sóc với bệnh

nhi (p=0,003) và giữa thái độ và số người

trong hộ gia đình hiện tại (p <0,001)

Thực hành của người chăm sóc

Chúng tôi khảo sát 3 bước chuẩn bị thẩm

phân, quá trình thay dịch và kết thúc quá

trình thay dịch

Phần lớn người chăm sóc thực hành tốt

bước chuẩn bị như nơi thay dịch đảm bảo

yêu cầu (84%), chuẩn bị dụng cụ đầy đủ

(100%), đảm bảo vệ sinh (96%), rửa tay

(88%)

Về quá trình thay dịch, 36% bệnh nhân

thực hiện đúng 6 bước kiểm tra túi dịch, 84%

thực hiện đúng quá trình thay dịch 100%

thực hiện bước xử lý, dịch thẩm phân, vệ

sinh sau TPPM Tuy nhiên, 100% thực hiện

sai bước tháo dây do vi phạm nguyên tắc vô

khuẩn Do đó, không có người chăm sóc nào đạt thực hành đúng

IV BÀN LUẬN Kiến thức

Viêm phúc mạc là câu trả lời phổ biến khi được hỏi đâu là biến chứng của TPPM (88%), và 64% biết đến biến chứng thoát vị, gần giống với kết quả của tác giả Fatmal với

tỉ lệ lần lượt là 82,9% và 68,3% Đa số người chăm sóc biết được các dấu hiệu của viêm phúc mạc và tất cả sẽ liên hệ nhân viên y tế hoặc đến bệnh viện ngay khi nghi ngờ, 0% không biết cách xử trí hay quyết định không làm gì, khác với 4,9% câu trả lời “Không” và 7,3% câu trả lời “Tôi không biết” trong nghiên cứu của Fatmal đối với câu hỏi tương

tự (4) 20% người chăm sóc không biết dấu hiệu mất nước và 12% không biết dấu hiệu ứ dịch Chúng tôi nhận thấy cần giáo dục người chăm sóc lại kĩ hơn về vấn đề này, vì việc theo dõi xuất nhập có ý nghĩa khá quan trọng

ở một trẻ TTPM 84% trả lời cần hạn chế lượng dịch nhập đối với bệnh nhi TPPM, giống với 80,5% câu trả lời “Có” trong kết quả nghiên cứu của Fatmal khi khảo sát người chăm sóc rằng “Có phải lượng dịch nhập mỗi ngày không nên quá nhiều?” Khi hỏi về mức độ vận động, có 84 – 92% người chăm sóc biết rằng cần hạn chế vận động mạnh và không được chơi các môn thể thao dưới nước, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Fatmal khi hỏi “Trẻ TPPM có yêu cầu hạn chế vận động?” với 36,6% câu trả lời

“Có” (4) Theo thống kê, 96% người chăm sóc biết rằng bệnh nhi TPPM cần có chế độ ăn kiêng Tuy nhiên, chỉ có 4 – 16% người trả lời cần

bổ sung đạm với lượng từ bình thường đến

Trang 5

trong nghiên cứu của Fatmal , trong khi suy

dinh dưỡng là biến chứng TPPM thường gặp

ở Việt Nam, nhất là trẻ nhỏ Đối với Kali,

người chăm sóc tự biết cân đối theo kết quả

xét nghiệm và khuyến cáo của bác sĩ điều trị

chính Qua khảo sát, chúng ta nhận thấy rằng

mặc dù rất có ý thức về việc cần ăn kiêng,

nhưng người chăm sóc lại chưa có nhiều kiến

thức cụ thể về tỉ lệ các chất trong bữa ăn,

cũng như các loại thức ăn có thành phần

tương tự để đa dạng hoá bữa ăn cho trẻ

Thống kê tổng thể cho thấy hơn một nửa

(64%) số người chăm sóc bệnh nhi TPPM có

kiến thức chưa tốt, hơn 30% người có kiến

thức sai, và chưa đến 5% có kiến thức tốt Do

vậy, nhóm nghiên cứu chúng tôi đề xuất các

chương trình giáo dục liên tục và lặp lại

thường xuyên nhằm giải đáp thắc mắc và cập

nhật thông tin, kiến thức mới Ngoài ra, đối

với các câu hỏi tình huống, chúng tôi nghĩ

rằng nên chuẩn bị cho người chăm sóc một

số tình huống hằng ngày có thể xảy ra trên

từng hồ sơ bệnh nhi cụ thể, để họ có kiến

thức tốt hơn và không bị lúng túng khi gặp

tình huống thật tại nhà

Về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu

học và kiến thức người chăm sóc, tổng quan

cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa kiến thức và thời gian bệnh nhi được

TPPM với p £ 0,05 Điều này có thể giải

thích là do những người mới chưa có kinh

nghiệm do chưa từng gặp biến chứng hay

trường hợp như vậy trước đây Vì vậy, việc

chuẩn bị cho người chăm sóc đối phó một số

tình huống hằng ngày liên quan hồ sơ bệnh

nhi cụ thể là có khả thi Bên cạnh đó, nghiên

cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức

và bệnh nhi đã từng nhập viện vì biến chứng

của bệnh thận hoặc của TPPM Chúng tôi

nghĩ rằng việc kiến thức chưa đầy đủ có thể

làm gia tăng nguy cơ biến chứng TPPM tại

nhà, từ đó có thể thấy rằng việc giáo dục kĩ lưỡng và thường xuyên là không thể thiếu

Thái độ

Nhìn chung, gần như toàn bộ người chăm sóc đều có thái độ tốt, chỉ có 4% có thái độ chưa tốt Hầu hết những người chăm sóc thấy được tầm quan trọng về nội dung của các câu hỏi nhóm nghiên cứu đưa ra

Thống kê cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa thái độ của người chăm sóc bệnh nhi TPPM và đặc điểm nhân khẩu học, cụ thể

sự khác biệt về thái độ này thể hiện trong nhóm mối quan hệ của người chăm sóc với bệnh nhi và số người trong hộ gia đình hiện tại với p <0,05 Tuy nhiên, do cỡ mẫu nhỏ (25 trường hợp) và khảo sát ghi nhận 96% người chăm sóc có thái độ tốt nên sự khác biệt có ý nghĩa ở đây không thể hiện được cụ thể mối liên quan giữa các yếu tố trên

Thực hành

Việc chuẩn bị thẩm phân được hầu hết người chăm sóc thực hiện tốt Về rửa tay, có 12% trường hợp chưa đạt thời gian rửa tay (ít nhất 30 giây), một con số khả quan hơn nghiên cứu của Sarah Silva Abrahão và cộng

sự thực hiện với 30 người chăm sóc cho thấy

có 76% đã rửa tay đúng thời gian và số lần theo hướng dẫn (3)

Khởi đầu quy trình thẩm phân còn thiếu sót với kiểm tra túi dịch 6 bước, chỉ có 36% người chăm sóc thực hiện đạt yêu cầu, phần lớn đều không kiểm tra loại (40%) và van còn nguyên vẹn hay không (52%) 28% trường hợp không dùng kẹp xanh kẹp vào dây túi dịch sạch Việc quên thực hiện việc này mà tiến hành các bước tiếp theo có thể dẫn đến dịch sạch trong túi chảy thẳng ra ngoài khi vừa giật nút xanh lá cây của dây Đáng chú ý, 0% người chăm sóc thực hiện đúng quá trình tháo dây thay túi dịch mới Tất cả người chăm sóc đều thực hiện kiểm

Trang 6

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

tra và cân dịch xả trước khi tháo dây thay

dịch mới mà không rửa tay lại bằng xà phòng

hoặc rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn tay

nhanh nhưng không đủ 6 bước và thời gian

rửa tay không đảm bảo Chúng tôi đánh giá

việc này có nguy cơ nhiễm khuẩn cao do

phạm vô trùng, do đó các bước thực hiện sau

đều không đạt yêu cầu Tuy nhiên, việc kiểm

tra và cân dịch xả trước giúp cho người chăm

sóc đánh giá được cân bằng dịch và quyết

định lượng dịch nhập bao nhiêu là phù hợp

Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất chỉnh sửa

quy trình bằng cách bổ sung thêm bước rửa

tay bằng xà phòng sau khi cân dịch rồi mới

tiến hành các bước thay dịch

Tổng quan chung, tất cả người chăm sóc

bệnh nhi đều thực hành TPPM chưa đạt yêu

cầu Do đó, chúng tôi cảm thấy việc giáo dục

và kiểm tra thực hành thường xuyên là cần

thiết

V KẾT LUẬN

Phần lớn người chăm sóc có thái độ tốt

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu sót về kiến

thức (như biến chứng TPPM, triệu chứng gợi

ý nhiễm khuẩn, theo dõi dấu hiệu mất nước

và ứ dịch, chế độ ăn thích hợp) và thực hành

(100% không đạt yêu cầu, sai sót ở thời gian

rửa tay, kiểm tra loại dịch, vẫn hay cần dùng

kẹp xanh kẹp vào dây túi dịch trước khi mở

van và giật nút màu xanh lá cây)

KIẾN NGHI

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất

cần thực hiện tốt hơn việc giáo dục cho

người chăm sóc bệnh nhi TPPM về các kiến

thức và kỹ năng cần thiết cũng như cách

chăm sóc bệnh nhi cũng như cần cải tiến quy trình thực hành TPPM tại nhà như sau: sau khi dịch xả hết vào túi dưới đất, cần kiểm tra dịch đã ra, cân dịch ra và ghi nhớ, sau đó, rửa tay sạch sẽ, lau khô bằng khăn sạch và tiếp tục các bước tiếp theo để thay dịch mới vào

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế Việt Nam (2015) Cẩm nang lọc

màng bụng, Nhà xuất bản Y học Hà Nội;

53-232

2 Hà Mạnh Tuấn, Nguyễn Huỳnh Trọng Thi

và Hoàng Thị Diễm Thúy(2016) Hiệu quả

thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2013 - 1/2016 Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh 2016; 20(5):271-275

3 Abrahão S.S., Ricas J., Andrade D.F., Pompeu F.C., Chamahum L., Araújo T.M., Silva J.M.P., Nahas C and Lima E.M(2010) Descriptive study about the

practice of home peritoneal dialysis Brazilian Journal of Nephrology; 32(1):43-48

4 Awaji F.A., Thibani N.M.A., Alsulami N.A., Otaibi S.S.A and Moawad S(2019)

Assessing the knowledge of caregivers of children undergoing peritoneal dialysis in Riyadh, Saudi Arabia Journal of Nursing Education and Practice; 9(1):44-57

5 Batista A.F., Caminha M.F.C., Silva C.C and Sales C.C.S(2016) Knowledge, attitudes, and practice by caregivers of children and adolescents undergoing hemodialysis or peritoneal dialysis Revista da Eletric da Enferm; 18:11-64

Ngày đăng: 31/12/2022, 10:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w