Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn.. Hình ảnh minh họa tiền Minh Đức thông bảo Quang Trung thông
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
Lịch sử ra đời và phát triển của tiền tệ Thời kì phong kiến độc lập (Nhà Lê, Nhà Mạc, Nhà Tây Sơn, Nhà
Nguyễn)
Buôn Ma Thuột, ngày 13 tháng 11 năm 2021
Trang 21 0
Trang 3Phần I: Nhà Mạc, Nhà Lê
I Nhà Mạc
1 Sơ lược về Nhà Mạc
Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê nên không được dân chúng ủng
hộ và bị nhiều phe phái núp dưới chiêu bài khôi phục triều đại chính thống trên cục diện Nam – Bắc Triều xuất hiện.Nhà Mạc thống trị vùng Bắc Bộ gọi là Bắc Triều, họ Trịnh và vua Lê nắm quyền hành vùng Thanh Hóa trở vào là Nam Triều Để chứng tỏ triều đại mình hiện diện, đôi bên đều có đúc tiền cho lưu hành vùng của mình Tình trạng nhiều loại tiền song song, tiền do đối phương đúc bị coi là tiền ngụy và không được phép tiêu dùng Luật thì như vậy những việc tiêu tiền trong nhân dân kể cả chính quyền thống trị có hiện tượng rất dễ dãi Người ta coi bất cứ một đồng tiền tròn lỗ vuông nào có in chữ trên đó là đồng tiền giá trị Nếu có hiện tượng là vì có những đồng tiền đúc xấu, gãy, vỡ hoặc đúc bằng kim loại chất lượng
Chiến tranh ác liệt trong nhiều năm khiến việc đúc tiền phục vụ nền kinh tế thời
kỳ này bị hạn chế Tiền trong nước của hai triều đại Mạc và Lê đúc ra đều thiếu, một lượng lớn các đồng tiền ngoại nhập đã được đưa vào Đại Việt và được chấp nhận để bổ sung cho sự thiếu hụt tiền tệ nhằm lưu thông được điều hòa
2 Tiền tệ thời nhà Mạc:
a) Minh Đức thông bảo:
Đây là các tiền kim loại do Mạc Thái Tổ phát hành Minh Đức thông bảo có hai loạt Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc từ năm 1529 Mặt trước có bốn chữ Minh Đức thông bảo đúc nổi đọc chéo Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi Loạt này
có kích thước lớn, đường kính từ 23 đến 24,5 mm, dày dặn Loạt thứ hai đúc bằng kẽm Kích thước vẫn như loạt trước Mặt sau không còn chữ vạn tuế mà thay vào
đó là một vành khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên trái
3
Trang 4b) Đại Chính thông bảo:
Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc Mạc Thái Tông phát hành tiền Tuy nhiên khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồng mang niên hiệu Đại Chính của ông Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn, đường kính khoảng 22 mm
c) Quảng Hòa thông bảo:
Mạc Hiến Tông làm vua từ năm 1541 đến năm 1546 và chỉ có một niên hiệu là Quảng Hòa Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này có cho đúc tiền hay không, song khảo cổ học phát hiện ra di vật tiền Quảng Hòa thông bảo Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn Có loạt thì các chữ này được viết chân phương Có loạt thì những chữ này lại được viết theo lối chữ triện
d) Vĩnh Định thông bảo, Vĩnh Định chí bảo
Vĩnh Đ nh là niên hi u đầầu tên trong ba ni n hi u c a M c Tuyên Tông, bắắt đầầuị ệ ệ ệ ủ ạ từ nắm 1547 Kh o c h c đã tm thầắy têần Vĩnh Đ nh thông b o đúc bắầng đôầng cóả ổ ọ ị ả
Trang 5đ ng kính ch ng 21,5 mm M t trườ ừ ặ c có bôắn ch Vĩnh Đ nh thông b o viêắt chéo.ướ ữ ị ả
M t sau đ tr n, nh ng g mép và g lôỗ có viêần n iặ ể ơ ư ờ ờ ổ
Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểu dáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt sau không có viền gờ mép và lỗ
e) Càn Thống nguyên bảo:
Đây là tiền kim loại do Mạc Kính Cung phát hành Mạc Kính Cung tuy làm vua nhưng đóng ở vùng miền núi Đông Bắc Khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền này
f) An Pháp nguyên bảo
Là tiền kim loại kích thước nhỏ mà khảo cổ học tìm thấy nhiều trong hố khai quật
di chỉ gốm Hợp Lễ (Hải Dương) Lê Quý Đôn qua Phủ biên tạp lục cho biết đây là tiền
do nhà Mạc phát hành, nhưng không nói cụ thể bởi vị vua nào của nhà Mạc Tiền An pháp nguyên bảo được thuyền chở vào lưu hành vào tới tận Thuận Hóa
5
Trang 6II Nhà Lê
1 Nhà Lê trung h ngư
Nhà Lê trung hưng là giai đoạn sau của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam Nhà Lê trung hưng được thành lập khi Lê Trang Tông với sự phò tá của cựu thần nhà Lê sơ là Nguyễn Kim được đưa lên ngôi báu Đây là triều đại dài nhất so với các triều đại Việt Nam với 256 năm
2.Tiền tệ thời Nhà Lê trung hưng
Tiền nhà Lê trung hưng được lưu hành trong vùng nhà Lê quản lý từ Thanh Hóa trở vào
*Nguyên Hòa thông bảo
Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa(1533-1548) của Lê Trang Tông, vị vua đầu tiên của thời Lê trung hưng Tiền này có kích thước nhỏ, được đúc cẩn thận Mặt trước có chữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo Mặt sau có viền gờ mép
và lỗ, song không có chữ hay hình gì Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại, trong đó
có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viết theo lối chữ triện và có loại thì lại có ba chữ Nguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện
Phần II: Nhà Tây Sơn
1.Sơ Lược Về Nhà Tây Sơn
Nhà Tây Sơn là một triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam tồn tại từ năm 1778 đến năm 1802, được thành lập trong bối cảnh tranh chấp quyền lực dưới thời Lê Trung Hưng( 1533- 1789) Tiền tệ Đại Việt thời Tây Sơn phản ánh những vấn đề liên quan tới tiền tệ lưu thông và thời nhà Tây Sơn
2.Các đồng tiền thời Tây Sơn
a) Tiền thông thường
Thái đức thông bảo
Tiền “ Thái Đức thông bảo” do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc phát hành và lưu thông trong các vùng lãnh thổ do nhà Tây Sơn kiểm soát Tiền này được đúc từ đồng Tiền không dày, nhưng đúc cẩn thận, chữ và dấu hiệu dễ đọc Đường kính tiền tùy loại từ
Trang 722,5 mm đến 24 mm Mặt trước có bốn chữ Thái Đức thông bảo đọc chéo Mặt sau thì mỗi loạt một khác, thường thì có các ký hiệu như chấm nổi tròn, hình Mặt Trăng lưỡi liềm Có một loạt ở mặt sau có hai chữ Vạn Tuế
Hình ảnh minh họa tiền Thái Đức thông bảo
Minh Đức thông bảo
Tiền do Nguyễn Nhạc đúc năm 1787 sau khi ra Thăng Long trở về Quy Nhơn Ông
tự xưng là Trung ương hoàng đế, hiệu là Minh Đức hoàng đế, niên hiệu vẫn là Thái Đức Đó là năm Thái Đức thứ 10 nên đồng tiền gọi là Minh Đức thông bảo hay Thái Đức thập niên Hai chữ Vạn tuế viết như ở tiền Thái Đức thông bảo, một loại chữ Tuế viết theo cách khác
Hình ảnh minh họa tiền Minh Đức thông bảo
Quang Trung thông bảo, Quang Trung đại bảo
Quang Trung thông bảo được đúc nhiều đợt và kỹ thuật của thời đó đã khiến cho mỗi đợt đúc tiền lại có một chút khác nhau Tiền này được đúc từ đồng, có kích thước
từ 23 đến 26 mm Mặt trước tiền có bốn chữ Quang Trung thông bảo đọc chéo Có một loạt chữ bảo lại viết theo lối giản thể Mặt sau thì có thể để trống hoặc có một trong các chữ nhất, nhị, công, chính, sơn nam hoặc các ký hiệu như dấu chấm, trăng lưỡi liềm, v.v Viền gờ mép và lỗ rõ ràng
7
Trang 8Quang Trung đại bảo có chữ bảo viết theo lối giản thể Mặt sau để trống Ngoài những đồng tiền lưu hành thông thường, còn có một số tiền Quang Trung thông bảo –
mặt lưng có hai chữ An Nam Đây là loại tiền dùng trong ngoại giao của nhà Tây Sơn
Hình ảnh tiền Quang Trung thông bảo
Hình ảnh tiền Quang Trung đại bảo
Cảnh Thịnh thông bảo
Cảnh Thịnh thông bảo có loại nhỏ và loại lớn Đây là tiền mang niên hiệu đầu tiên của Nguyễn Quang Toản Về kiểu dáng và thiết kế thì Cảnh Thịnh thông bảo loại nhỏ không khác gì tiền Quang Trung thông bảo, nhưng chất lượng đúc có phần tốt hơn Cảnh Thịnh thông bảo cũng có loạt mặt sau giống mặt trước như một loại của Quang Trung thông bảo Ngoài ra lại còn có một loạt tiền mà một mặt là Cảnh Thịnh thông bảo và một mặt là Quang Trung thông bảo
Cảnh Thịnh thông bảo loại lớn được đúc cẩn thận, thiết kế cầu kỳ, đường kính tới
48 mm, dày tới 5 mm Viền gờ mép ở hai mặt là một vành văn triện hình chữ T, viền
gờ lỗ ở hai mặt là hai hình vuông lồng vào nhau Mặt trước tiền có bốn chữ Cảnh Thịnh thông bảo đọc chéo Mặt sau có hình rồng, mây ở phía trên lỗ, lại có hình cá chép và hình sóng nước ở phía dưới lỗ Đỗ Văn Ninh cho rằng tiền này hoa văn giống với tiền Cảnh Hưng nên có thể là theo mẫu tiền Cảnh Hưng mà làm
Trang 9Hình ảnh tiền Cảnh Thịnh thông bảo
Cảnh Thịnh đại bảo
Dạng chính rộng 23 mm, mặt lưng không có chữ Loại tiền Cảnh Thịnh đại bảo loại nhỏ đường kính 21 mm, cả hai mặt đều có trùng luân
Bảo Hưng thông bảo
Đồng tiền cuối cùng của nhà Tây Sơn, đường kính 22 mm, cũng mỏng như tiền Quang Trung, mặt lưng không ghi chữ gì
b) Những đồng tiền lạ: Có bốn loại tiền lạ thời Tây Sơn là:
Quang Trung thông bảo 2 mặt giống nhau
Quang Trung thông bảo, mặt kia là Quang Trung đại bảo
Cảnh Thịnh thông bảo 2 mặt giống nhau
Cảnh Thịnh thông bảo mặt kia Quang Trung thông bảo
Phần III: Nhà Nguyễn
1 Sơ lược về nhà Nguyễn
Triều Nguyễn, triều đai Phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã tồn tại trong suốt hơn
143 năm( 1802-1945) với 13 vị vua Nguyễn Nhưng trong đó chỉ có 10 vị vua là phát hành tiền tệ
Tiền tệ nhà Nguyễn phản ánh những vấn đề liên quan tới tiền lưu thông thời nhà Nguyễn độc lập( 1802-1884) và những đồng tiền do nhà Nguyễn phát hành trong thời
kì Pháp thuộc trong lịch sử Việt Nam
9
Trang 102 Thời Nguyễn ở Việt Nam có những đồng tiền sau
a) Gia Long thông bảo
Năm 1802,Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long Gia Long cho đúc tiền
Gia Long thông bảo bằng đồng Khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều di chỉ tiền này Tiền
được đúc nhiều lần và ở nhiều nơi Lớn nhất coa đường kính chừng 26 mm, nhỏ nhất chừng 20 mm Mặt trước bốn chữ Gia Long thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn
Năm 1813, vua Gia Long cho đúc tiền Gia Long thông bảo thất phân Theo Đại Nam thực lục chính biên thì tiền này bằng kẽm, song khảo cổ phát hiện ra cả tiền đồng Gia Long thông bảo thất phân có đường kính trung bình 22 mm và trong thực tế
có nhiều kích cỡ Mặt trước giống Gia Long thôn bảo, nhưng mặt sau thì có hai chữ thất phân ở hai bên lỗ tiền
Năm 1814, vua Gia Long lại cho đúc tiền Gia Long thông bảo lục phân nặng sáu phân Thư tịch cho biết rõ hợp kim đúc tiền này có các thành phần đồng đỏ, kẽm, chì, thiếc ( tỉ lệ là 500:415:65:20) Tiền được đúc nhiều lần và có đường kính xê xích khoảng 21.5 mm đến 22,5 mm Mặt trước giống Gia Long thông bảo, nhưng mặt sau thì có hai chữ lục phân ở hai bên lỗ tiền
b Minh Mạng thông bảo
Minh Mạng thông bảo là tiền do vua Minh Mạng phát hành Mặt trước có bốn chữ Minh Mạng thông bảo, mặt sau để trống
Tiền này có nhiều loạt:
Loạt đúc sớm nhất vào năm 1820 theo quy định nặng 6 phân bằng đồng và kẽm Chỉ dùng đến năm 1825 thì bãi bỏ
Trang 11 Loạt thứ hai có kích thước lớn từ 22 đến 25 mm, được phát hành năm 1820 Nguyên liệu là hợp kim đồng, kẽm và thiếc
Loạt thứ ba có đường kính khoảng 22 mm, nặng 9 phân, bằng hợp kim đồng kẽm, được phát hành từ năm 1825
Loạt thứ tư có đường kính 25 mm, nặng 1 đồng cân, được phát hành từ năm 1827
c Thiệu Trị thông bảo
Tiền mang niên hiệu của vua Thiệu Trị có loại nặng 6 phân và loại nặng 9 phân đều bằng hợp kim đồng pha kẽm Còn có cả loại nặng 6 phân bằng kẽm Các loại này ở mặt trước có bốn chữ Thiệu Trị thông bảo đọc chéo, mặt sau để trống
d Tự Đức thông bảo
Tự Đức thông bảo có mấy loạt bằng đồng và cả bằng kẽm, đường kính từ 20 mm đến 25 mm Nhìn chung các loạt đều có mặt trước giống nhau: bốn chữ Tự Đức thông bảo đọc chéo, có viền gờ mép và lỗ Mặt sau thì mỗi loạt một khác Có loạt để trống,
có loạt thì có chữ "lục văn", có loạt có chữ "Hà Nội", có loạt lại có chữ "Sơn Tây" và
có loạt thì có chữ "Bắc Ninh" Tiền này nhiều khi được giao cho các lò đúc tiền tư
11
Trang 12nhân của người Hoa và người Việt giàu có đúc Đại Nam thực lục chính biên cho biết
có tiền này khi đúc bị pha thêm sắt vào
e Tự Đức bảo sao
Tự Đức bảo sao là tiền thời vua Tự Đức, được đúc từ năm 1861 có các mệnh giá 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 40 đồng, 50 đồng và 60 đồng Tiền đúc bằng đồng Mặt trước
có bốn chữ Tự Đức bảo sao đọc chéo Mặt sau thì mỗi mệnh giá thiết kế một khác Đường kính tiền cũng khác nhau giữa các mệnh giá
Mệnh giá 10 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn thập văn" hoặc "chuẩn nhất thập văn", đường kính 26 mm, nặng 6 gam
Mệnh giá 20 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn nhị thập văn", đường kính 30 mm, nặng 12 gam
Mệnh giá 30 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn tam thập văn", đường kính
35 mm, nặng 16,4 gam
Mệnh giá 40 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn tứ thập văn", đường kính 37 mm, nặng 22,2 gam
Mệnh giá 50 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn ngũ thập văn", đường kính 41,5 mm, nặng 27,2 gam
Mệnh giá 60 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn lục thập văn", đường kính 46 mm, nặng 38,2 gam
Trang 13f Kiến Phúc thông bảo
Tiền mang niên hiệu của vua Kiến Phúc được đúc nhiều đợt từ năm 1884 và ở nhiều nơi vì vậy mỗi loạt khác nhau một chút Nhìn chung, tiền có đường kính 23 mm Mặt trước có bốn chữ Kiến Phúc thông bảo, mặt sau để trống
Tiền đúc ra chỉ để khẳng định niên hiệu của vua mới chứ tác dụng cho lưu thông không nhiều vì số lượng quá ít
g Hàm Nghi thông bảo
Tiền này chính thức chỉ đúc với số lượng rất ít, nhưng tiền Hàm Nghi thông bảo giả rất nhiều Theo Đỗ Văn Ninh thì có cả tiền Hàm Nghi thông bảo đúc giả thời chiến tranh Việt Nam mà lính Mỹ tưởng là tiền cổ thật nên mua mang về sưu tập Hàm Nghi thông bảo thật có đường kính 23 mm, mặt trước có bốn chữ Hàm Nghi thông bảo đọc chéo, mặt sau có hai chữ "Lục văn"
h Đồng Khánh thông bảo
Tiền được đúc với số lượng ít Năm 1886, triều đình cho đúc một loạt có đường kính 26 mm Năm 1887 cho đúc một loạt nữa có đường kính 23 mm Cả hai loạt ở mặt trước đều có chữ Đồng Khánh thông bảo, mặt sau để trống
i Thành Thái thông bảo
Tiền kim loại được đúc vào các năm 1889-1890 với số lượng ít Mặt trước có bốn chữ Thành Thái thông bảo đọc chéo Mặt sau để trống Đường kính tiền khoảng
23 mm
Năm 1893 1890- , triều đình lại cho đúc tiền Thái Bình thông bảo mới mà mặt sau
có chữ thập văn Tiền này đường kính chừng 26 mm
13
Trang 14k Duy Tân thông bảo
Tiền này có hai loạt, một loạt có đường kính chừng 26 mm đúc ở Thanh Hóa, một loạt khác nhỏ hơn Loạt lớn thì mặt sau có chữ "Thập văn", loạt nhỏ thì mặt sau để trống Mặt trước cả hai loạt đều có chữ Duy Tân thông bảo đọc chéo
l Khải Định thông bảo
Tiền này có bốn loạt đúc ở bốn nơi là Huế Hải Phòng Hà Nội, , và Pháp Loạt đúc ở Huế lưu thông ở Trung Kỳ, loạt đúc ở Hà Nội và Hải Phòng thì để lưu thông ở Bắc
Kỳ Cả ba loạt này đều bằng kẽm Riêng loạt đúc ở Pháp thì bằng đồng và chỉ để lưu thông ở Nam Kỳ
m Bảo Đại thông bảo
Tiền bằng đồng nhưng không đúc mà dập lá đồng bằng máy Kích thước tiền nhỏ
và mỏng Người dân không coi trọng giá trị tiền này
3 Ghi chú
a)Hệ thống đo lường
Trang 15Hệ thống đo lường thời Nguyễn dựa trên 2 tiêu chuẩn theo chỉ dụ của Gia Long năm 1813:
Cần thiên bình áp d ng cho nh ng kim lo i r nh sắắt, đôầng, kẽỗm, chì, thiêắcụ ữ ạ ẻ ư
Cần trung bình áp d ng cho 2 kim lo i quý là vàng và b cụ ạ ạ
Theo hệ thống này, hệ thống đo lường ấn định như sau:
T = 10 yêắn = 60,40ạ kg
Yêắn = 10 cần
Cần = 16 l ngạ
L ng = 10 đôầng cầnạ
Đôầng cần = 10 phần
Phần = 10 ly
Ly = 10 hào
So với hệ thống đo lường phương Tây, mỗi học giả/tổ chức khi đó quy đổi 1 lạng ta
ra số gram khác nhau, dao động từ 37,75 gram đến 39,05 gram
b)Tiền đồng
Dựa vào trọng lượng, tiền đồng nhà Nguyễn chia làm hai loại lớn và nhỏ Tiền nhỏ
từ 5 phân 5 li tới dưới 9 phân, còn tiền lớn từ 9 phân trở lên Thỉnh thoảng có những đợt đúc thử nghiệm những đồng tiền 7 phân hay 1 đồng cân, nhưng sau đó triều đình thấy không thích hợp nên không đúc nữa
Tiền đồng nhà Nguyễn chia ba loại:
Loại tiền ghi rõ tỷ giá với tiền kẽm như lục văn, thập văn, các tiền Tự Đức bảo
sao Khi trị giá đồng tiền được đúc trên mặt gây những bất tiện về sau, đồng tiền
sẽ được dân chúng ưa chuộng hoặc bị loại bỏ Đây là đặc điểm chỉ bắt đầu có trong lịch sử tiền tệ Việt Nam từ thời Tự Đức
Tiền có ghi trọng lượng của đồng tiền như thất phân
15