Bài viết trình bày việc khảo sát các phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi tim bẩm sinh khoa tim mạch bệnh viện Nhi Đồng 2.
Trang 1PHƯƠNG PHÁP CHIA LIỀU THUỐC TIM DẠNG VIÊN TẠI NHÀ CỦA BỆNH NHI TIM BẨM SINH TẠI KHOA TIM MẠCH
BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ THÁNG 04/2017 – 10/2017
Nguyễn Thanh Liêm*, Nguyễn Hoàng Nhu*, Cao Thị Ngọc Mai*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát các phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi tim bẩm sinh khoa
tim mạch bệnh viện Nhi Đồng 2
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả
Kết quả: Có 82 thân nhân chia thuốc cho bệnh nhi về phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà
gồm các loại thuốc: captopril 25 mg, furosemide 40mg, spiroolactone 25 mg, aspirin 81mg, digoxin 0,25 mg, propranolol 40 mg, sildenafil 50mg 48,78% thân nhân cắt thuốc bằng dụng cụ (dao, kéo, đồ chia thuốc mua tại nhà thuốc); 21,95% chọn cách bẻ thuốc bằng tay; 25,61% chọn cách nghiền nguyên viên thuốc sau đó chia liều (không pha với nước); 3,66% chọn cách pha nguyên viên thuốc với nước sau đó chia liều 96,35% thân nhân không được hướng dẫn cách chia liều thuốc viên tại nhà
Kết luận: Phương pháp chia liều của 82 thân nhân đều có những ưu nhược điểm, đều không đảm bảo được
chính xác liều lượng Do vậy, nguy cơ bệnh nhi dùng không đúng liều thuốc (ít hoặc nhiều hơn) vẫn còn đáng e ngại và cần được quan tâm hơn
Từ khóa: Chia thuốc, thuốc viên, tim bẩm sinh
ABSTRACT
CHARACTERISTICS OF CARDIAC TABLET SPLITTING METHOD AT HOME BY CAREGIVERS OF CHILDREN WITH CONGENTINAL HEART DEFECTS AT THE CHILDREN’S HOSPITAL 2 (CH2),
FROM APRIL TO OCTOBER OF 2017
Nguyen Thanh Liem, Nguyen Hoang Nhu, Cao Thi Ngoc Mai
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 173 – 179
Objectives: To investigate the method of splitting cardiac tablets at home by caregivers of children with
congenital heart defects at Cardiovascular department of CH2
Methods: Cross-sectional description
Results: 82 caregivers were involved in the study of how to split cardiac tablets such as captopril 25mg,
furosemide 40mg, spironolactone 25 mg, aspirin 81mg, digoxin 0.25 mg, propranolol 40 mg, and sildenafil 50 mg
at home 48.8% of them split the cardiac tablets by using tools (knife, scissors, or pill splitter) 21.9% of them chose to break the tablet by hand 25.6% of them chose to grind the whole pill into powder and then divided the dosage (not mixed with water) 3.7% of them chose to mix the tablet with an amount of water and then divided the dosage Of note, 96.4% of them were not instructed how to split the tablets at home by healthcare providers (doctors, nurses, pharmacists at hospitals or drug stores)
Conclusions: There were several methods to split cardiac tablets at home by caregivers Each method had its
advantages and disadvantages There is still the risk that pediatric patients receive a wrong dose (less or more) of medicaments Therefore, the issue of tablet splitting at home is worth paying more attention
*Bệnh viện Nhi Đồng 2
Tác giả liên lạc: ĐD.Nguyễn Thanh Liêm, ĐT: 01648773993, Email: liembavuong@gmail com
Trang 2Key words: Tablet splitting, tablet, congenital heart defects
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là dị tật của tim và
mạch máu lớn Bệnh TBS là bệnh tim mạch chủ
yếu ở trẻ em Việc điều trị TBS chủ yếu là phẫu
thuật Điều trị nội khoa bệnh TBS chủ yếu là
điều trị và dự phòng các biến chứng do bệnh
TBS gây ra Điều trị nội khoa tuy không chữa
lành bệnh tim bẩm sinh, nhưng sẽ cải thiện chất
lượng sống của bệnh nhi cũng như tạo điều kiện
thuận lợi cho bước tiếp theo là chỉ định thông
tim can thiệp hoặc phẫu thuật triệt để chữa khỏi
bệnh Điều trị nội khoa chủ yếu là dùng thuốc tại
bệnh viện và điều trị tại nhà Các đường đưa
thuốc vào cơ thể gồm: uống, tiêm qua da, dùng
tại chỗ qua da và dùng tại chỗ qua niêm mạc
Trong đó, uống là đường sử dụng thuốc an toàn
và đơn giản, được sử dụng trong việc điều trị
thuốc tại nhà của bệnh nhi TBS(7) Các dạng thuốc
tại nhà của bệnh nhi TBS hiện nay bao gồm
nhiều dạng nên việc chia liều cho bệnh nhi nhỏ
để sử dụng theo đúng toa, đúng liều và khuyến
cáo là việc hết sức cẩn trọng Đặc biệt hơn, trong
bệnh nhi TBS, việc sử dụng đúng liều thuốc càng
quan trọng hơn do ảnh hưởng trực tiếp đến hệ
tim mạch của bệnh nhi Theo khuyến cáo của
FDA (U.S Food and Drugs), việc chia nhỏ viên
thuốc để chia liều là một hành động mang yếu tố
nguy cơ, thậm chí là việc chia thuốc thành một
nửa viên thuốc bằng dụng cụ chia thuốc chuyên
dụng vì có thể ảnh hưởng tới liều lượng thuốc và
tính chất của thuốc Thuốc có thể mất đi trong
quá trình chia(3) và không phải loại thuốc nào
cũng an toàn để chia(4) Và nếu việc chia nhỏ
thuốc là bắt buộc, thì nên có sự hướng dẫn và
giám sát của nhân viên chăm sóc sức khỏe – y tế
Do đó, chúng tôi thực hiện khảo sát này
Muc tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ phương pháp chia liều thuốc
tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi TBS
Mục tiêu cụ thể
Xác định phương pháp sử dụng thuốc viên
theo khuyến cáo FDA và Bộ Y tế
Xác định tỷ lệ đối tượng nghiên cứu được nhân viên y tế hướng dẫn chia liều thuốc dạng viên tại nhà
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Thân nhân bệnh nhi nhập khoa Tim mạch chẩn đoán bệnh TBS
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04/2017 – 10/2017
Cỡ mẫu
Lấy trọn
Tiêu chí chọn vào
Thân nhân bệnh nhi nhập khoa Tim mạch từ 04/2017 đến 10/2017 được chẩn đoán tim bẩm sinh có uống thuốc tim dạng viên đơn thuần hay phối hợp tại nhà Thân nhân trực tiếp chăm sóc
và chia liều thuốc tại nhà Thân nhân đồng ý tham gia
Tiêu chí loại ra Nghiên cứu không có tiêu chí loại ra
Kỹ thuật chọn mẫu
Khảo sát hàng loạt, thuận tiện, khi bệnh nhi nhập khoa tim mạch, nghiên cứu viên sẽ chọn bệnh án có chỉ định thuốc viên sau đó mời thân nhân tham gia nghiên cứu Nếu thân nhân đồng
ý, nghiên cứu viên sẽ xác nhận lại bệnh nhi có sử dụng thuốc viên tại nhà hay không Nếu có, tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi soạn sẵn
Công cụ thu thập số liệu
Bảng câu hỏi khảo sát được soạn sẵn và hồ
sơ bệnh án
Kỹ thuật thu thập số liệu
Nghiên cứu viên trực tiếp khảo sát thân nhân bệnh nhi dựa trên bảng câu hỏi khảo sát Thu thập số liệu song song qua hồ sơ bệnh án của
bệnh nhi Nghiên cứu viên điền vào bảng câu hỏi
Trang 3KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (n=82)
Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam
Nữ
13
69
15,85 84,15
Nhóm tuổi
Nơi ở
Quan hệ với bệnh nhi
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp Buôn bán, kinh
Công nhân viên
Nhân viên văn
Nhận xét: Tỷ lệ nữ chiếm đa số 84,15%, chỉ có
15,85% là nam Nhóm tuổi từ 18-30 có tỷ lệ tương
đương với nhóm tuổi từ 31-49 là 48,78% và
46,34% Chỉ có 4,88% là từ 50 tuổi trở lên Đối
tượng ở tỉnh chiếm tỷ lệ cao 91,46%, trong khi ở
thành phố chỉ có 8,53% Đối tượng nghiên cứu
chủ yếu là mẹ chiếm chiếm tỷ lệ cao nhất 73,17% Thấp nhất là các quan hệ khác (bà, vú nuôi, bảo mẫu) chiếm 10,98% Tỷ lệ chưa hoàn thành phổ thông trung học chiếm cao nhất 53,66%, tỷ lệ mù chữ chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,88% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nội trợ 32,93%, nhân viên văn phòng, phụ hồ 2,44%
Bệnh sử bệnh nhi
Bảng 2: Bệnh sử bệnh nhi (tính tới thời điểm nghiên
cứu) (n=82)
Bệnh sử Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thời gian bệnh nhi phát hiện bệnh tim bẩm sinh
Thời gian bệnh nhi uống thuốc tim tại nhà
Nhận xét: Bệnh nhi được phát hiện bệnh tim
trong nhóm từ 3-6 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 34,15%, nhóm từ 12 tháng trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất 19,51% Nhóm bệnh nhi có điều trị thuốc tim tại nhà dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 43,9%, nhóm thấp nhất là từ 12 tháng trở lên, chiếm 10,98%
Đặc điểm các loại thuốc của bệnh nhi
Furosemide 40mg có tỷ lệ sử dụng cao nhất 39,86%, chỉ có 1,3% sử dụng Digoxin 0,25mg chiếm tỷ lệ thấp nhất Toàn bộ thuốc bệnh nhi đang sử dụng hiện tại là viên nén Tỷ lệ nhóm có khía/rãnh để chia liều chiếm cao hơn nhóm không có khía/rãnh là 58,54% và 41,46% Tỷ lệ có liều sử dụng là 1/4 viên chiếm cao nhất 35,36% Liều ít được sử dụng 1/12 viên và 1/20 viên chiếm lệ 1,21% và hoàn toàn không có liều thuốc
1 viên nguyên Bệnh nhi sử dụng thuốc 2 lần/ngày chiếm 45,12%, 3 lần/ngày 20,73%
Trang 4Bảng 3: Đặc điểm các loại thuốc của bệnh nhi
Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Các thuốc tim dạng viên sử dụng tại nhà
Dạng thuốc viên
Số loại thuốc có khía
Các liều thuốc mà bệnh nhi đang sử dụng
Số lần sử dụng thuốc trong ngày
Các cách thức chia liều thuốc của thân nhân
bệnh nhi
Tỷ lệ không đọc hướng dẫn sử dụng thuốc
59,75% Lí do không có tờ hướng dẫn để đọc
chiếm tỷ lệ cao nhất 56,47% và lí do nhân viên y
tế không dặn dò đọc chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,22%
Phương pháp cắt thuốc bằng dụng cụ chiếm tỷ lệ
cao nhất 48,78% và thấp nhất là pha nguyên viên
thuốc với nước, đợi tan ra sau đó chia liều chiếm
3,66% Tỷ lệ dùng dao để cắt thuốc chiếm 57,5%
và không có đối tượng nào sử dụng dụng cụ cắt thuốc mua tại nhà thuốc 0% Đa số đối tượng chọn bỏ thuốc vào túi nylon rồi nghiền 47,6% và chỉ có 14,3% đối tượng nghiền thuốc bằng dụng
cụ có bán tại nhà thuốc
Bảng 4: Các cách thức chia liều thuốc của thân nhân
bệnh nhi
Cách thức chia liều Tần số
(n) Tỷ lệ (%)
Thân nhân có đọc tờ hướng dẫn khi dùng thuốc
Lí do không đọc tờ hướng dẫn
Đọc nhưng không hiểu nên không đọc 8 12,9
Nhân viên y tế không dặn dò đọc 2 3,22
Phương pháp chia liều thuốc
Nghiền thuốc sau đó chia liều 21 25,61 Pha nguyên viên với nước, đợi tan thuốc
Dụng cụ cắt thuốc mua tại nhà thuốc 0 0
Cách thức nghiền thuốc Nghiền bằng dụng cụ có bán tại nhà thuốc 3 14,3
Bỏ vào túi nylon rồi nghiền 10 47,6
Có 80,5% đối tượng có vệ sinh dụng cụ chia thuốc trước khi chia liều thuốc Lí do “biết nhưng không cần thiết” chiếm tỷ lệ cao nhất 56,25% và chỉ có 12,5% “biết nhưng quên thực hiện” Tỷ lệ vệ sinh tay trước khi chia liều thuốc
là 83% và 17% là không thực hiện Lí do “biết nhưng quên thực hiện” chiếm tỷ lệ cao nhất 64,3% và thấp nhất là “không biết nên vệ sinh tay” chiếm tỷ lệ 14,3%
Trang 5Bảng 5: Vệ sinh dụng cụ
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Vệ sinh dụng cụ trước khi chia liều
Lí do không vệ sinh dụng cụ
Vệ sinh tay trước khi chia liều thuốc
Lí do không vệ sinh tay
Bảng 6: Bỏ thuốc dư sau khi chia liều
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bỏ thuốc dư sau khi chia liều quá 24 giờ
Lí do không bỏ thuốc dư sau 24 giờ
Để dành sử dụng cho những lần sau 51 39,2
Bảo hiểm y tế phát đủ thuốc theo toa 4 3
Phương pháp bảo quản
Bỏ vào bao nilon có khóa zipper 17 20,7
Bỏ vào bao nilon không có khóa
Thân nhân được nhân viên y tế hướng dẫn cách chia liều
thuốc viên tại nhà
Nhận xét: 89% không bỏ thuốc dư sau khi
chia liều >24 giờ Lí do được chọn nhiều nhất
là “để dành sử dụng cho lần sau” chiếm 39,2%
và “do bảo hiểm y tế phát đủ thuốc” theo toa chiếm tỷ lệ thấp nhất 3% Đối tượng chọn phương pháp nhiều nhất (47,7%) là bảo quản trong bao nylon không có khóa zipper, cột lại Thấp nhất là gói vào giấy, chiếm tỷ lệ 3,6% Thân nhân không được hướng dẫn cách chia thuốc tại nhà chiếm tới 97,6%
BÀN LUẬN Các tài liệu nghiên cứu liên quan
Theo khuyến cáo của FDA Hoa kỳ, việc chia tách thuốc viên cần lưu ý(4):
Cần có sự giám sát và hướng dẫn của nhân viên y tế
Viên thuốc được chia tách cần có ghi chú của nhà sản xuất “có được chia tách hay không”, nếu không có thông tin đó thì việc chia tách thuốc làm hai vẫn không đảm bảo được hai nửa viên thuốc có khối lượng và hàm lượng thuốc bằng nhau
Không nên chia toàn bộ số lượng thuốc được cấp phát trong một lần
Theo khuyến cáo của FDA, việc chia tách thuốc viên là một hành động nguy cơ vì những lí do(9): Khối lượng và liều lượng của hai nửa viên thuốc sau khi chia thường không đồng đều dù trên viên thuốc có đường rãnh
để chia liều Tính chất, hình dạng của viên thuốc (viên thuốc nhỏ, dễ tan ra hơn sau khi bị phân tách), kiến thức của người chia thuốc có thể ảnh hưởng tới độ chính xác khi phân chia viên thuốc Không phải viên thuốc nào cũng
an toàn để chia tách Những dạng thuốc như viên nang, thuốc phóng thích chậm hoặc viên
có lớp phủ nên được dùng nguyên viên Nghiên cứu của tác giả Charlotte Verrue, Els Mehuys, và cộng sự(10) được thực hiện vào năm 2011 trên 5 tình nguyện viên chia 8 viên thuốc có hình dạng và kích thước khác nhau bằng ba phương thức: bằng dụng cụ chia tách
Trang 6(bán trong nhà thuốc), bằng kéo và bằng dao
làm bếp Các viên thuốc đều được cân đo
trước và sau khi chia Kết quả cho thấy: Tách
thuốc bằng dụng cụ chia tách thuốc cho sai
lệch về khối lượng thuốc thấp hơn 2 phương
thức còn lại Trong trường hợp buộc phải chia
tách thuốc, chúng ta vẫn được khuyên nên
dùng một dụng cụ chuyên tách thuốc có bán
tại các cơ sở y tế
Tác giả: Sally A Helmy thực hiện vào năm
2015 trên 5 tình nguyện viên độ tuổi từ 25-44,
được giao cho 10 loại thuốc trong tổng số 16
loại thuốc thông dụng trong điều trị ngoại
trú(8) Họ tiến hành chia đôi viên thuốc được
phát Viên thuốc được cân đo trước và sau khi
chia tách theo tiêu chuẩn của US
Pharmacopeia Kết quả cho thấy:
100 trong tổng số 640 mẫu chia tách
(15,62%) thấp hơn mức tiêu chuẩn lúc đầu
Tỷ lệ trung bình mất thuốc sau khi chia
của toàn bộ thuốc là 1,5%
Bromazepam, carvodilol và digoxin có tỷ
lệ mất thuốc cao nhất
Digoxin thất bại trong việc đảm bảo liều
lượng sau khi chia tách
Khối lượng thuốc mất có thể do các mảnh
thuốc rớt ra trong quá trình chia tách thuốc
Tỷ lệ thuốc có rãnh/khía để chia liều
Tỷ lệ thuốc không có rãnh/khía để chia liều
41,46% Việc có rãnh/khía giúp việc chia tách
thuốc dễ dàng hơn, ít nhất là việc chia một nửa
viên thuốc Với tỷ lệ cao như vậy thì việc chia
tách thuốc thành những liều nhỏ hơn 1/2 càng
tồn tại nhiều nguy cơ
Các phương pháp chia liều thuốc tại nhà
Phương pháp cắt thuốc bằng dụng cụ
Chiếm tỷ lệ cao nhất 48,78% với các dụng
cụ: dao (57,5%), kéo (30%), dao lam (12,5%) và
không có ai sử dụng đồ chia cắt thuốc có bán
tại nhà thuốc (0%) Phương thức chia thuốc
bằng dụng cụ có bán ở nhà thuốc cho sai lệch
về khối lượng thuốc thấp hơn hai phương
thức là dao và kéo(10) Tuy nhiên, lí giải cho tỷ
lệ này, thường các dụng cụ chia thuốc có bán tại nhà thuốc thường chỉ hỗ trợ cho việc chia liều thành 1/2 viên Nếu như liều nhỏ hơn thì đối tượng sẽ phải chọn phương thức khác dù sai lệch khối lượng nhiều hơn
Phương pháp Bẻ thuốc bằng tay
Phương pháp này chiếm tỷ lệ 21,95% Hiện tại, chúng tôi chưa thấy khuyến cáo nào từ FDA hay Bộ y tế đồng ý việc bẻ thuốc bằng tay
để chia liều Dù rằng viên thuốc có rãnh/khía
để chia liều thành 1/2 viên, nhưng trong trường hợp đó vẫn nên dùng dụng cụ chia liều
có bán tại nhà thuốc để đảm bảo khối lượng thuốc không bị mất sau khi chia Trong trường hợp liều nhỏ hơn thì lại càng không nên bẻ thuốc bằng tay
Phương pháp Nghiền nguyên viên thuốc sau
đó chia liều (không pha thuốc)
Phương pháp này chiếm 25,26% Trong đó
tỷ lệ dùng dụng cụ nghiền thuốc mua tại nhà thuốc là 14,3%, bỏ vào túi nilon rồi nghiến chiếm 47,1% và gói vào giấy rồi nghiền là 38,1% Trước tiên, dụng cụ nghiền được sử dụng chủ yếu là túi nilon và giấy, hai dụng cụ này trong lúc nghiền có thể không đảm bảo còn nguyên vẹn, bị thủng hoặc rách Từ đó làm mất thuốc lần một Sau đó, lấy bột thuốc
đã được nghiền gạn ra thành những phần nhỏ theo toa Phương pháp này tồn tại nhiều nguy
cơ chia thuốc không đều, do chủ yếu chia bằng tay ước chừng nên không thể đảm bảo chính xác được liều lượng cần dùng Do vậy, phương pháp này cũng là một hành động rủi ro
Phương pháp pha nguyên viên thuốc với nước sau đó đợi rã thuốc để chia liều (pha trong ống bơm tiêm)
Phương pháp này chỉ chiếm 3,66% và đối tượng được được khảo sát trong phương pháp này là đối tượng được nhân viên y tế hướng dẫn Ưu điểm của phương pháp này là thuốc không bị mất do nghiền, cắt hoặc bẻ
Trang 7Nhược điểm của phương pháp này: thời
gian đợi rã thuốc lâu (khoảng từ 20-30 phút),
thuốc có thể rã không hoàn toàn do đọ thẩm
thấu nước vào viên nén khác nhau, có một số
loại thuốc không tan hoàn toàn trong nước
nên việc lắc đều thuốc trước khi chia liều vẫn
có thể không chính xác vì không đảm bảo
được nồng độ thuốc ổn định trong 1ml nước
lẫn thuốc Do đó, vẫn còn tồn tại nhiều nguy
cơ rủi ro trong việc chia liều thuốc
Tỷ lệ thân nhân được nhân viên y tế hướng dẫn
cách chia liều thuốc tại nhà
Trong 82 thân nhân có 3 đối tượng (3,65%)
được hướng dẫn chia liều thuốc tại nhà 79 đối
tượng (96,35%) không được hướng dẫn hoặc
hướng dẫn không rõ ràng Đây là con số đáng
báo động Vì có 53,66% đối tượng chưa hoàn
thành phổ thông trung học và mù chữ (4,88%),
các đối tượng này cần được ưu tiên nhưng lại
chưa được hướng dẫn rõ ràng Có thể dẫn tới
việc chia sai liều, sai cách không đảm bảo được
quá trình điều trị đúng và ảnh hướng trực tiếp
tới sức khoẻ bệnh nhi
KẾT LUẬN
Phương pháp chia liều của 82 thân nhân có
những ưu và nhược điểm riêng, nhưng tất cả
không đảm bảo được chính xác liều lượng Bên
cạnh đó, theo FDA và Bộ Y Tế chưa có khuyến
cáo nào về việc chia nhỏ viên thuốc ra để sử
dụng cho bệnh nhi Đồng thời, Việt Nam và thế
giới chưa có một nghiên cứu về tiêu chuẩn, đo
lường, kỹ thuật chính xác của từng phương pháp
chia liều nên chúng tôi chưa có tiêu chuẩn để đưa ra kết luận phương pháp nào chia liều thuốc chính xác hơn Do vậy, nguy cơ bệnh nhi dùng không đúng liều thuốc (ít hoặc nhiều hơn) vẫn còn đáng e ngại và cần được quan tâm hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cổng thông tin Bộ Y Tế Việt nam (2014), Những thuốc không
nên nhai hoặc bẻ http: //moh gov vn: 8086/news/pages/tincanbiet
aspx?ItemID=49
2 Dược điển Vidal Việt nam 2014, MIMS Pte Ltd, trang
128-129, trang 364
3 Dược điển Vidal Việt nam 2015-2016, MIMS Pte Ltd, trang
39-40, trang 73, trang 268, trang 973-976
4 FDA US Food and Drugs (2013) Best Practices for Tablet Splitting
www.fda.gov/Drugs/ResourcesForYou/Consumers/BuyingUsingMedi cineSafely/EnsuringSafeUseofMedicine/ucm184666
5 Linda MT, PharmD, Shadi FG (2012) Tablet Splitting and Weight Uniformity of Half-Tablets of 4 Medications in Pharmacy Practice
Journal of Pharmacy Practice, vol 25, 4: pp 471-476.
6 Phạm Nguyễn Vinh, Hoàng Trọng Kim, Nguyễn Lân Việt, Huỳnh Văn Minh (2000), Xử trí nội ngoại khoa bệnh tim bẩm sinh
Khuyến cáo số 16 của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam Tạp
chí tim mạch học số 21, tr 120-156.
7 Phan Hùng Việt (2009), Bệnh tim bẩm sinh Giáo trình Nhi khoa
sau đại học, tập (2), Nhà xuất bản Đại học Huế, tr 19-49
8 Sally AH (2015) Tablet Splitting: Is It Worthwhile? Analysis of
Drug Content and Weight Uniformity for Half Tablets of 16
Commonly Used Medications in the Outpatient Setting - http:
//www jmcp org/doi/pdf/10 18553/jmcp 2015 21 1 76
9 Tablet Splitting: A Risky Practice – FDA U S Food and Drugs –
gov/ForConsumers/ConsumerUpdates/ucm171492 htm.
10 Verrue C, Mehuys E, Boussery K, Remon JP, Petrovic M (2011)
Tablet-splitting: a common yet not so innocent practice J Adv
Nurs; 67(1): 26-32
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/07/2018