1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi tim bẩm sinh tại khoa tim mạch Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 04/2017 – 10/2017

7 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 368,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc khảo sát các phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi tim bẩm sinh khoa tim mạch bệnh viện Nhi Đồng 2.

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP CHIA LIỀU THUỐC TIM DẠNG VIÊN TẠI NHÀ CỦA BỆNH NHI TIM BẨM SINH TẠI KHOA TIM MẠCH

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ THÁNG 04/2017 – 10/2017

Nguyễn Thanh Liêm*, Nguyễn Hoàng Nhu*, Cao Thị Ngọc Mai*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát các phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi tim bẩm sinh khoa

tim mạch bệnh viện Nhi Đồng 2

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả

Kết quả: Có 82 thân nhân chia thuốc cho bệnh nhi về phương pháp chia liều thuốc tim dạng viên tại nhà

gồm các loại thuốc: captopril 25 mg, furosemide 40mg, spiroolactone 25 mg, aspirin 81mg, digoxin 0,25 mg, propranolol 40 mg, sildenafil 50mg 48,78% thân nhân cắt thuốc bằng dụng cụ (dao, kéo, đồ chia thuốc mua tại nhà thuốc); 21,95% chọn cách bẻ thuốc bằng tay; 25,61% chọn cách nghiền nguyên viên thuốc sau đó chia liều (không pha với nước); 3,66% chọn cách pha nguyên viên thuốc với nước sau đó chia liều 96,35% thân nhân không được hướng dẫn cách chia liều thuốc viên tại nhà

Kết luận: Phương pháp chia liều của 82 thân nhân đều có những ưu nhược điểm, đều không đảm bảo được

chính xác liều lượng Do vậy, nguy cơ bệnh nhi dùng không đúng liều thuốc (ít hoặc nhiều hơn) vẫn còn đáng e ngại và cần được quan tâm hơn

Từ khóa: Chia thuốc, thuốc viên, tim bẩm sinh

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF CARDIAC TABLET SPLITTING METHOD AT HOME BY CAREGIVERS OF CHILDREN WITH CONGENTINAL HEART DEFECTS AT THE CHILDREN’S HOSPITAL 2 (CH2),

FROM APRIL TO OCTOBER OF 2017

Nguyen Thanh Liem, Nguyen Hoang Nhu, Cao Thi Ngoc Mai

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 173 – 179

Objectives: To investigate the method of splitting cardiac tablets at home by caregivers of children with

congenital heart defects at Cardiovascular department of CH2

Methods: Cross-sectional description

Results: 82 caregivers were involved in the study of how to split cardiac tablets such as captopril 25mg,

furosemide 40mg, spironolactone 25 mg, aspirin 81mg, digoxin 0.25 mg, propranolol 40 mg, and sildenafil 50 mg

at home 48.8% of them split the cardiac tablets by using tools (knife, scissors, or pill splitter) 21.9% of them chose to break the tablet by hand 25.6% of them chose to grind the whole pill into powder and then divided the dosage (not mixed with water) 3.7% of them chose to mix the tablet with an amount of water and then divided the dosage Of note, 96.4% of them were not instructed how to split the tablets at home by healthcare providers (doctors, nurses, pharmacists at hospitals or drug stores)

Conclusions: There were several methods to split cardiac tablets at home by caregivers Each method had its

advantages and disadvantages There is still the risk that pediatric patients receive a wrong dose (less or more) of medicaments Therefore, the issue of tablet splitting at home is worth paying more attention

*Bệnh viện Nhi Đồng 2

Tác giả liên lạc: ĐD.Nguyễn Thanh Liêm, ĐT: 01648773993, Email: liembavuong@gmail com

Trang 2

Key words: Tablet splitting, tablet, congenital heart defects

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là dị tật của tim và

mạch máu lớn Bệnh TBS là bệnh tim mạch chủ

yếu ở trẻ em Việc điều trị TBS chủ yếu là phẫu

thuật Điều trị nội khoa bệnh TBS chủ yếu là

điều trị và dự phòng các biến chứng do bệnh

TBS gây ra Điều trị nội khoa tuy không chữa

lành bệnh tim bẩm sinh, nhưng sẽ cải thiện chất

lượng sống của bệnh nhi cũng như tạo điều kiện

thuận lợi cho bước tiếp theo là chỉ định thông

tim can thiệp hoặc phẫu thuật triệt để chữa khỏi

bệnh Điều trị nội khoa chủ yếu là dùng thuốc tại

bệnh viện và điều trị tại nhà Các đường đưa

thuốc vào cơ thể gồm: uống, tiêm qua da, dùng

tại chỗ qua da và dùng tại chỗ qua niêm mạc

Trong đó, uống là đường sử dụng thuốc an toàn

và đơn giản, được sử dụng trong việc điều trị

thuốc tại nhà của bệnh nhi TBS(7) Các dạng thuốc

tại nhà của bệnh nhi TBS hiện nay bao gồm

nhiều dạng nên việc chia liều cho bệnh nhi nhỏ

để sử dụng theo đúng toa, đúng liều và khuyến

cáo là việc hết sức cẩn trọng Đặc biệt hơn, trong

bệnh nhi TBS, việc sử dụng đúng liều thuốc càng

quan trọng hơn do ảnh hưởng trực tiếp đến hệ

tim mạch của bệnh nhi Theo khuyến cáo của

FDA (U.S Food and Drugs), việc chia nhỏ viên

thuốc để chia liều là một hành động mang yếu tố

nguy cơ, thậm chí là việc chia thuốc thành một

nửa viên thuốc bằng dụng cụ chia thuốc chuyên

dụng vì có thể ảnh hưởng tới liều lượng thuốc và

tính chất của thuốc Thuốc có thể mất đi trong

quá trình chia(3) và không phải loại thuốc nào

cũng an toàn để chia(4) Và nếu việc chia nhỏ

thuốc là bắt buộc, thì nên có sự hướng dẫn và

giám sát của nhân viên chăm sóc sức khỏe – y tế

Do đó, chúng tôi thực hiện khảo sát này

Muc tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định tỷ lệ phương pháp chia liều thuốc

tim dạng viên tại nhà của bệnh nhi TBS

Mục tiêu cụ thể

Xác định phương pháp sử dụng thuốc viên

theo khuyến cáo FDA và Bộ Y tế

Xác định tỷ lệ đối tượng nghiên cứu được nhân viên y tế hướng dẫn chia liều thuốc dạng viên tại nhà

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Thân nhân bệnh nhi nhập khoa Tim mạch chẩn đoán bệnh TBS

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 04/2017 – 10/2017

Cỡ mẫu

Lấy trọn

Tiêu chí chọn vào

Thân nhân bệnh nhi nhập khoa Tim mạch từ 04/2017 đến 10/2017 được chẩn đoán tim bẩm sinh có uống thuốc tim dạng viên đơn thuần hay phối hợp tại nhà Thân nhân trực tiếp chăm sóc

và chia liều thuốc tại nhà Thân nhân đồng ý tham gia

Tiêu chí loại ra Nghiên cứu không có tiêu chí loại ra

Kỹ thuật chọn mẫu

Khảo sát hàng loạt, thuận tiện, khi bệnh nhi nhập khoa tim mạch, nghiên cứu viên sẽ chọn bệnh án có chỉ định thuốc viên sau đó mời thân nhân tham gia nghiên cứu Nếu thân nhân đồng

ý, nghiên cứu viên sẽ xác nhận lại bệnh nhi có sử dụng thuốc viên tại nhà hay không Nếu có, tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi soạn sẵn

Công cụ thu thập số liệu

Bảng câu hỏi khảo sát được soạn sẵn và hồ

sơ bệnh án

Kỹ thuật thu thập số liệu

Nghiên cứu viên trực tiếp khảo sát thân nhân bệnh nhi dựa trên bảng câu hỏi khảo sát Thu thập số liệu song song qua hồ sơ bệnh án của

bệnh nhi Nghiên cứu viên điền vào bảng câu hỏi

Trang 3

KẾT QUẢ

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (n=82)

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Giới tính Nam

Nữ

13

69

15,85 84,15

Nhóm tuổi

Nơi ở

Quan hệ với bệnh nhi

Trình độ học vấn

Nghề nghiệp Buôn bán, kinh

Công nhân viên

Nhân viên văn

Nhận xét: Tỷ lệ nữ chiếm đa số 84,15%, chỉ có

15,85% là nam Nhóm tuổi từ 18-30 có tỷ lệ tương

đương với nhóm tuổi từ 31-49 là 48,78% và

46,34% Chỉ có 4,88% là từ 50 tuổi trở lên Đối

tượng ở tỉnh chiếm tỷ lệ cao 91,46%, trong khi ở

thành phố chỉ có 8,53% Đối tượng nghiên cứu

chủ yếu là mẹ chiếm chiếm tỷ lệ cao nhất 73,17% Thấp nhất là các quan hệ khác (bà, vú nuôi, bảo mẫu) chiếm 10,98% Tỷ lệ chưa hoàn thành phổ thông trung học chiếm cao nhất 53,66%, tỷ lệ mù chữ chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,88% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nội trợ 32,93%, nhân viên văn phòng, phụ hồ 2,44%

Bệnh sử bệnh nhi

Bảng 2: Bệnh sử bệnh nhi (tính tới thời điểm nghiên

cứu) (n=82)

Bệnh sử Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Thời gian bệnh nhi phát hiện bệnh tim bẩm sinh

Thời gian bệnh nhi uống thuốc tim tại nhà

Nhận xét: Bệnh nhi được phát hiện bệnh tim

trong nhóm từ 3-6 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 34,15%, nhóm từ 12 tháng trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất 19,51% Nhóm bệnh nhi có điều trị thuốc tim tại nhà dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 43,9%, nhóm thấp nhất là từ 12 tháng trở lên, chiếm 10,98%

Đặc điểm các loại thuốc của bệnh nhi

Furosemide 40mg có tỷ lệ sử dụng cao nhất 39,86%, chỉ có 1,3% sử dụng Digoxin 0,25mg chiếm tỷ lệ thấp nhất Toàn bộ thuốc bệnh nhi đang sử dụng hiện tại là viên nén Tỷ lệ nhóm có khía/rãnh để chia liều chiếm cao hơn nhóm không có khía/rãnh là 58,54% và 41,46% Tỷ lệ có liều sử dụng là 1/4 viên chiếm cao nhất 35,36% Liều ít được sử dụng 1/12 viên và 1/20 viên chiếm lệ 1,21% và hoàn toàn không có liều thuốc

1 viên nguyên Bệnh nhi sử dụng thuốc 2 lần/ngày chiếm 45,12%, 3 lần/ngày 20,73%

Trang 4

Bảng 3: Đặc điểm các loại thuốc của bệnh nhi

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Các thuốc tim dạng viên sử dụng tại nhà

Dạng thuốc viên

Số loại thuốc có khía

Các liều thuốc mà bệnh nhi đang sử dụng

Số lần sử dụng thuốc trong ngày

Các cách thức chia liều thuốc của thân nhân

bệnh nhi

Tỷ lệ không đọc hướng dẫn sử dụng thuốc

59,75% Lí do không có tờ hướng dẫn để đọc

chiếm tỷ lệ cao nhất 56,47% và lí do nhân viên y

tế không dặn dò đọc chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,22%

Phương pháp cắt thuốc bằng dụng cụ chiếm tỷ lệ

cao nhất 48,78% và thấp nhất là pha nguyên viên

thuốc với nước, đợi tan ra sau đó chia liều chiếm

3,66% Tỷ lệ dùng dao để cắt thuốc chiếm 57,5%

và không có đối tượng nào sử dụng dụng cụ cắt thuốc mua tại nhà thuốc 0% Đa số đối tượng chọn bỏ thuốc vào túi nylon rồi nghiền 47,6% và chỉ có 14,3% đối tượng nghiền thuốc bằng dụng

cụ có bán tại nhà thuốc

Bảng 4: Các cách thức chia liều thuốc của thân nhân

bệnh nhi

Cách thức chia liều Tần số

(n) Tỷ lệ (%)

Thân nhân có đọc tờ hướng dẫn khi dùng thuốc

Lí do không đọc tờ hướng dẫn

Đọc nhưng không hiểu nên không đọc 8 12,9

Nhân viên y tế không dặn dò đọc 2 3,22

Phương pháp chia liều thuốc

Nghiền thuốc sau đó chia liều 21 25,61 Pha nguyên viên với nước, đợi tan thuốc

Dụng cụ cắt thuốc mua tại nhà thuốc 0 0

Cách thức nghiền thuốc Nghiền bằng dụng cụ có bán tại nhà thuốc 3 14,3

Bỏ vào túi nylon rồi nghiền 10 47,6

Có 80,5% đối tượng có vệ sinh dụng cụ chia thuốc trước khi chia liều thuốc Lí do “biết nhưng không cần thiết” chiếm tỷ lệ cao nhất 56,25% và chỉ có 12,5% “biết nhưng quên thực hiện” Tỷ lệ vệ sinh tay trước khi chia liều thuốc

là 83% và 17% là không thực hiện Lí do “biết nhưng quên thực hiện” chiếm tỷ lệ cao nhất 64,3% và thấp nhất là “không biết nên vệ sinh tay” chiếm tỷ lệ 14,3%

Trang 5

Bảng 5: Vệ sinh dụng cụ

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Vệ sinh dụng cụ trước khi chia liều

Lí do không vệ sinh dụng cụ

Vệ sinh tay trước khi chia liều thuốc

Lí do không vệ sinh tay

Bảng 6: Bỏ thuốc dư sau khi chia liều

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Bỏ thuốc dư sau khi chia liều quá 24 giờ

Lí do không bỏ thuốc dư sau 24 giờ

Để dành sử dụng cho những lần sau 51 39,2

Bảo hiểm y tế phát đủ thuốc theo toa 4 3

Phương pháp bảo quản

Bỏ vào bao nilon có khóa zipper 17 20,7

Bỏ vào bao nilon không có khóa

Thân nhân được nhân viên y tế hướng dẫn cách chia liều

thuốc viên tại nhà

Nhận xét: 89% không bỏ thuốc dư sau khi

chia liều >24 giờ Lí do được chọn nhiều nhất

là “để dành sử dụng cho lần sau” chiếm 39,2%

và “do bảo hiểm y tế phát đủ thuốc” theo toa chiếm tỷ lệ thấp nhất 3% Đối tượng chọn phương pháp nhiều nhất (47,7%) là bảo quản trong bao nylon không có khóa zipper, cột lại Thấp nhất là gói vào giấy, chiếm tỷ lệ 3,6% Thân nhân không được hướng dẫn cách chia thuốc tại nhà chiếm tới 97,6%

BÀN LUẬN Các tài liệu nghiên cứu liên quan

Theo khuyến cáo của FDA Hoa kỳ, việc chia tách thuốc viên cần lưu ý(4):

Cần có sự giám sát và hướng dẫn của nhân viên y tế

Viên thuốc được chia tách cần có ghi chú của nhà sản xuất “có được chia tách hay không”, nếu không có thông tin đó thì việc chia tách thuốc làm hai vẫn không đảm bảo được hai nửa viên thuốc có khối lượng và hàm lượng thuốc bằng nhau

Không nên chia toàn bộ số lượng thuốc được cấp phát trong một lần

Theo khuyến cáo của FDA, việc chia tách thuốc viên là một hành động nguy cơ vì những lí do(9): Khối lượng và liều lượng của hai nửa viên thuốc sau khi chia thường không đồng đều dù trên viên thuốc có đường rãnh

để chia liều Tính chất, hình dạng của viên thuốc (viên thuốc nhỏ, dễ tan ra hơn sau khi bị phân tách), kiến thức của người chia thuốc có thể ảnh hưởng tới độ chính xác khi phân chia viên thuốc Không phải viên thuốc nào cũng

an toàn để chia tách Những dạng thuốc như viên nang, thuốc phóng thích chậm hoặc viên

có lớp phủ nên được dùng nguyên viên Nghiên cứu của tác giả Charlotte Verrue, Els Mehuys, và cộng sự(10) được thực hiện vào năm 2011 trên 5 tình nguyện viên chia 8 viên thuốc có hình dạng và kích thước khác nhau bằng ba phương thức: bằng dụng cụ chia tách

Trang 6

(bán trong nhà thuốc), bằng kéo và bằng dao

làm bếp Các viên thuốc đều được cân đo

trước và sau khi chia Kết quả cho thấy: Tách

thuốc bằng dụng cụ chia tách thuốc cho sai

lệch về khối lượng thuốc thấp hơn 2 phương

thức còn lại Trong trường hợp buộc phải chia

tách thuốc, chúng ta vẫn được khuyên nên

dùng một dụng cụ chuyên tách thuốc có bán

tại các cơ sở y tế

Tác giả: Sally A Helmy thực hiện vào năm

2015 trên 5 tình nguyện viên độ tuổi từ 25-44,

được giao cho 10 loại thuốc trong tổng số 16

loại thuốc thông dụng trong điều trị ngoại

trú(8) Họ tiến hành chia đôi viên thuốc được

phát Viên thuốc được cân đo trước và sau khi

chia tách theo tiêu chuẩn của US

Pharmacopeia Kết quả cho thấy:

100 trong tổng số 640 mẫu chia tách

(15,62%) thấp hơn mức tiêu chuẩn lúc đầu

Tỷ lệ trung bình mất thuốc sau khi chia

của toàn bộ thuốc là 1,5%

Bromazepam, carvodilol và digoxin có tỷ

lệ mất thuốc cao nhất

Digoxin thất bại trong việc đảm bảo liều

lượng sau khi chia tách

Khối lượng thuốc mất có thể do các mảnh

thuốc rớt ra trong quá trình chia tách thuốc

Tỷ lệ thuốc có rãnh/khía để chia liều

Tỷ lệ thuốc không có rãnh/khía để chia liều

41,46% Việc có rãnh/khía giúp việc chia tách

thuốc dễ dàng hơn, ít nhất là việc chia một nửa

viên thuốc Với tỷ lệ cao như vậy thì việc chia

tách thuốc thành những liều nhỏ hơn 1/2 càng

tồn tại nhiều nguy cơ

Các phương pháp chia liều thuốc tại nhà

Phương pháp cắt thuốc bằng dụng cụ

Chiếm tỷ lệ cao nhất 48,78% với các dụng

cụ: dao (57,5%), kéo (30%), dao lam (12,5%) và

không có ai sử dụng đồ chia cắt thuốc có bán

tại nhà thuốc (0%) Phương thức chia thuốc

bằng dụng cụ có bán ở nhà thuốc cho sai lệch

về khối lượng thuốc thấp hơn hai phương

thức là dao và kéo(10) Tuy nhiên, lí giải cho tỷ

lệ này, thường các dụng cụ chia thuốc có bán tại nhà thuốc thường chỉ hỗ trợ cho việc chia liều thành 1/2 viên Nếu như liều nhỏ hơn thì đối tượng sẽ phải chọn phương thức khác dù sai lệch khối lượng nhiều hơn

Phương pháp Bẻ thuốc bằng tay

Phương pháp này chiếm tỷ lệ 21,95% Hiện tại, chúng tôi chưa thấy khuyến cáo nào từ FDA hay Bộ y tế đồng ý việc bẻ thuốc bằng tay

để chia liều Dù rằng viên thuốc có rãnh/khía

để chia liều thành 1/2 viên, nhưng trong trường hợp đó vẫn nên dùng dụng cụ chia liều

có bán tại nhà thuốc để đảm bảo khối lượng thuốc không bị mất sau khi chia Trong trường hợp liều nhỏ hơn thì lại càng không nên bẻ thuốc bằng tay

Phương pháp Nghiền nguyên viên thuốc sau

đó chia liều (không pha thuốc)

Phương pháp này chiếm 25,26% Trong đó

tỷ lệ dùng dụng cụ nghiền thuốc mua tại nhà thuốc là 14,3%, bỏ vào túi nilon rồi nghiến chiếm 47,1% và gói vào giấy rồi nghiền là 38,1% Trước tiên, dụng cụ nghiền được sử dụng chủ yếu là túi nilon và giấy, hai dụng cụ này trong lúc nghiền có thể không đảm bảo còn nguyên vẹn, bị thủng hoặc rách Từ đó làm mất thuốc lần một Sau đó, lấy bột thuốc

đã được nghiền gạn ra thành những phần nhỏ theo toa Phương pháp này tồn tại nhiều nguy

cơ chia thuốc không đều, do chủ yếu chia bằng tay ước chừng nên không thể đảm bảo chính xác được liều lượng cần dùng Do vậy, phương pháp này cũng là một hành động rủi ro

Phương pháp pha nguyên viên thuốc với nước sau đó đợi rã thuốc để chia liều (pha trong ống bơm tiêm)

Phương pháp này chỉ chiếm 3,66% và đối tượng được được khảo sát trong phương pháp này là đối tượng được nhân viên y tế hướng dẫn Ưu điểm của phương pháp này là thuốc không bị mất do nghiền, cắt hoặc bẻ

Trang 7

Nhược điểm của phương pháp này: thời

gian đợi rã thuốc lâu (khoảng từ 20-30 phút),

thuốc có thể rã không hoàn toàn do đọ thẩm

thấu nước vào viên nén khác nhau, có một số

loại thuốc không tan hoàn toàn trong nước

nên việc lắc đều thuốc trước khi chia liều vẫn

có thể không chính xác vì không đảm bảo

được nồng độ thuốc ổn định trong 1ml nước

lẫn thuốc Do đó, vẫn còn tồn tại nhiều nguy

cơ rủi ro trong việc chia liều thuốc

Tỷ lệ thân nhân được nhân viên y tế hướng dẫn

cách chia liều thuốc tại nhà

Trong 82 thân nhân có 3 đối tượng (3,65%)

được hướng dẫn chia liều thuốc tại nhà 79 đối

tượng (96,35%) không được hướng dẫn hoặc

hướng dẫn không rõ ràng Đây là con số đáng

báo động Vì có 53,66% đối tượng chưa hoàn

thành phổ thông trung học và mù chữ (4,88%),

các đối tượng này cần được ưu tiên nhưng lại

chưa được hướng dẫn rõ ràng Có thể dẫn tới

việc chia sai liều, sai cách không đảm bảo được

quá trình điều trị đúng và ảnh hướng trực tiếp

tới sức khoẻ bệnh nhi

KẾT LUẬN

Phương pháp chia liều của 82 thân nhân có

những ưu và nhược điểm riêng, nhưng tất cả

không đảm bảo được chính xác liều lượng Bên

cạnh đó, theo FDA và Bộ Y Tế chưa có khuyến

cáo nào về việc chia nhỏ viên thuốc ra để sử

dụng cho bệnh nhi Đồng thời, Việt Nam và thế

giới chưa có một nghiên cứu về tiêu chuẩn, đo

lường, kỹ thuật chính xác của từng phương pháp

chia liều nên chúng tôi chưa có tiêu chuẩn để đưa ra kết luận phương pháp nào chia liều thuốc chính xác hơn Do vậy, nguy cơ bệnh nhi dùng không đúng liều thuốc (ít hoặc nhiều hơn) vẫn còn đáng e ngại và cần được quan tâm hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cổng thông tin Bộ Y Tế Việt nam (2014), Những thuốc không

nên nhai hoặc bẻ http: //moh gov vn: 8086/news/pages/tincanbiet

aspx?ItemID=49

2 Dược điển Vidal Việt nam 2014, MIMS Pte Ltd, trang

128-129, trang 364

3 Dược điển Vidal Việt nam 2015-2016, MIMS Pte Ltd, trang

39-40, trang 73, trang 268, trang 973-976

4 FDA US Food and Drugs (2013) Best Practices for Tablet Splitting

www.fda.gov/Drugs/ResourcesForYou/Consumers/BuyingUsingMedi cineSafely/EnsuringSafeUseofMedicine/ucm184666

5 Linda MT, PharmD, Shadi FG (2012) Tablet Splitting and Weight Uniformity of Half-Tablets of 4 Medications in Pharmacy Practice

Journal of Pharmacy Practice, vol 25, 4: pp 471-476.

6 Phạm Nguyễn Vinh, Hoàng Trọng Kim, Nguyễn Lân Việt, Huỳnh Văn Minh (2000), Xử trí nội ngoại khoa bệnh tim bẩm sinh

Khuyến cáo số 16 của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam Tạp

chí tim mạch học số 21, tr 120-156.

7 Phan Hùng Việt (2009), Bệnh tim bẩm sinh Giáo trình Nhi khoa

sau đại học, tập (2), Nhà xuất bản Đại học Huế, tr 19-49

8 Sally AH (2015) Tablet Splitting: Is It Worthwhile? Analysis of

Drug Content and Weight Uniformity for Half Tablets of 16

Commonly Used Medications in the Outpatient Setting - http:

//www jmcp org/doi/pdf/10 18553/jmcp 2015 21 1 76

9 Tablet Splitting: A Risky Practice – FDA U S Food and Drugs –

gov/ForConsumers/ConsumerUpdates/ucm171492 htm.

10 Verrue C, Mehuys E, Boussery K, Remon JP, Petrovic M (2011)

Tablet-splitting: a common yet not so innocent practice J Adv

Nurs; 67(1): 26-32

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/07/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm