1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Qui luật tiêu trường

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Qui luật tiêu trường
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 225,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn đối với những phiên bản tinh tế hơn, vấn đề thật sự không phải là qui lu ật này là đúng hay sai, mà đúng hơn là xác đ ịnh dưới những điều kiện nào qui luật này có hi ệu lực.. Những c

Trang 1

Qui luật tiêu trư ờng

Qui luật tiêu trư ờng

Say’s Law

Khái niệm theo đó “cung t ạo nên chính c ầu của nó”, hay chính xác hơn là theo đó để có một người yêu cầu thì phải có một người cung cấp, đã được biết đến trong lí thuy ết kinh t ế trước Jean-Baptiste Say Có th ể tìm thấy

khái niệm này trong kinh văn tr ọng nông và trong Của cải của các dân tộc của Adam Smith (1776) Trong cách phát bi ểu đơn giản nhất của khái

niệm này thì đó ch ỉ là một sự lặp trùng Ta luôn có th ể nói rằng mệnh đề này bao giờ cũng đúng, cũng như d ễ dàng khẳng định rằng nó bao gi ờ cũng sai ít hay nhi ều như đối với những phiên b ản tầm thường của lí thuyết định lượng về tiền tệ (Blaugh, 1977, cho một quan hệ chặt chẽ giữa hai qui luật này) Còn đối với những phiên bản tinh tế hơn, vấn đề thật sự không phải

là qui lu ật này là đúng hay sai, mà đúng hơn là xác đ ịnh dưới những điều kiện nào qui luật này có hi ệu lực Vấn đề này đã gây nên những cuộc tranh luận lớn giữa các nhà kinh t ế cổ điển Trong thời kì đình trệ hậu Napoléon, khiá cạnh thực tiễn của cuộc tranh luận đư ợc biết đến như là cu ộc “tranh luận về sự tắt nghẽn đại trà” Sau này, trong th ế kỉ XIX và vào đ ầu thế kỉ

XX, qui luật rơi vào một sự lãng quên tương đ ối, nhưng đư ợc Keynes làm

Trang 2

sống lại trong Lí thuyết tổng quát (1936) khi ông trình bày qui lu ật Say

như một tóm tắt của tất cả những gì là sai lầm trong kinh tế học cổ điển (hay có lẽ ngay cả trong kinh t ế học trước Keynes) Có lẽ Keynes chưa bao giờ nghiên cứu chính ngay Say m ột cách sâu sắc nhưng ông đề cập đến qui luật tiêu trư ờng bằng một con đư ờng vòng nhân nghiên c ứu tiểu sử

Malthus Người ta nói là cả hai tác giả này (Keynes và Malthus – ND) bác

bỏ những học thuyết tự điều tiết và xu thế hướng đến cân bằng trên bình diện kinh t ế vĩ mô Những cuộc bàn lu ận gần đây hơn, như nh ững bàn luận

ta gặp trong cách Patinkin x ử lí vấn đề trong Money, Interest and Prices ,

tập trung vào tính đúng đ ắn về mặt lí thuyết của qui lu ật trong khuôn kh ổ của cân bằng chung, và g ần đây hơn vào nh ững phiên bản mà ta có thể gán cho Say v à cho những nhà kinh t ế cùng th ời với ông Một tổng quan xu ất sắc đã được Schumpeter (1954) cung c ấp Thomas Sowell (1972) đã vi ết một quyển sách có uy tín v ề chủ đề này và đặc biệt có ích về những phiên bản của qui lu ật trư ớc J.-B Say

Don Patinkin (1922 -1995)

Trang 3

Trong m ột nền kinh tế hiện vật, khi không có tích tr ữ, thì

rõ ràng qui lu ật là áp d ụng đư ợc: khi b ạn không sản xuất được gì cả thì bạn không thể yêu cầu một sản phẩm khác, bất kể đó là sản phẩm gì đi nữa Phiên bản này c ủa qui luật thư ờng được gọi bằng “đồng nhất thức Say” Khi có th ể có sự tích trữ, hay khi ti ền tệ được đưa vào, rõ ràng là b ạn có thể yêu cầu ở một thời kì sau th ời kì bạn đã s ản xuất Trong trư ờng hợp này, tại sao các th ị trường buộc phải thải hết hàng hoá?

Adam Smith và Say tin là th ị trường sẽ giải quyết vấn đề này: t ại sao ngư ời

ta lại để không sử dụng những nguồn lực bất kì, kể cả tiền tệ? Ngư ời nào nắm nhiều tiền hơn số họ thật sự chi tiêu thì s ẽ cho vay s ố tiền thặng dư trên thị trư ờng vốn, tại đó người này sẽ tìm ra những ngư ời đi vay mu ốn tiêu dùng, nhưng có khả năng lớn là họ muốn đầu tư – và có lợi hơn nhiều Trên điểm này có một sự bất đồng nhất định giữa các nhà kinh tế cổ điển Smith và Say không nghi ng ờ khả năng sinh lời của mọi đầu tư m ới, trong lúc một số tác giả khác e ngại những khó khăn c ố hữu của những lợi tức giảm dần

Trang 4

William Baumol (1922 -)

Baumol (1977) đã hoàn toàn ph ục hồi Say như là tác giả thật sự của qui luật Tuy nhiên sự phục hồi này không dựa trên cách trình bày trong l ần

xuất bản đầu tiên c ủa Traité d’économie politique (1803), m ột cách trình

bày vẫn còn ở dạng của phiên b ản trùng l ặp Chỉ đến lần xuất bản thứ hai (1814) một “qui luật” thật sự mới nổi lên, phát biểu rằng “trong dài hạn, cầu có thể ở mức sản xuất có những gia tăng l ớn” Bởi thế ta có thể loại bỏ như là lạc đề cuộc bàn luận xưa về vấn đề giữa Say và James Mill ai là người đầu tiên tìm ra qui luật, cho dù chắc chắn là Mill có những cách nhìn độc đáo

Béraud (1992) phân bi ệt “đồng nhất thức Say”, “đẳng thức Say” và

một “phiên bản yếu” tạo thành m ột điều kiện cân bằng Đồng nhất thức Say làm tổng cung và tổng cầu bằng nhau trong m ột nền kinh t ế chủ yếu là kinh

tế hàng đổi hàng Đ ẳng thức Say là mệnh đề theo đó tổng giá trị của dư cung những hàng hoá, trong nghĩa ch ặt chẽ, bằng không trong tình th ế cân bằng Phiên b ản yếu của qui lu ật Say khoác cho đ ẳng thức cung cầu sản phẩm vẻ bề ngoài c ủa một điều kiện cân b ằng Béraud còn đi xa hơn

Baumol khi cho rằng Say có một cái nhìn về vai trò của tiền tệ trong những quá trình co thắt và bành trư ớng – hoặc bằng những thay đổi của vận tốc lưu thông, hoặc bằng tính linh hoạt của giá cả

Trang 5

Qui luật Say được Ricardo hoàn toàn ch ấp nhận Trong s ố những ngư ời cùng thời với Say, Sismondi và Malthus là hai tác gi ả phê phán cay đ ộc

nhất qui lu ật này Bàn lu ận của hai tác giả này tập trung vào 1) tính cơ động của những nhân tố sản xuất (tư bản và lao động) trong ngắn và dài hạn, và 2) vai trò c ủa dân số như là nhân tố của cung và c ầu Sismondi

nhấn mạnh đến tính bất động của những nhân tố sản xuất làm cản trở quá trình điều chỉnh cung và cầu Những mệnh đề của Malthus nhấn mạnh đến tính cứng nhắc tương đối của những lương danh nghĩa trong cu ộc suy

thoái, và điều này là một cản trở cho việc làm của dân số đang thất nghiệp

Tác phẩm Nouveaux principes của Sismondi (1819) kh ẳng định là trong

một xã hội thương mại, trong đó các nhà s ản xuất làm vi ệc cho những khách hàng mình không bi ết thì “mọi sản xuất trở thành đầu cơ” Như thế cầu là không chắc chắn và kết quả thường là s ản xuất thừa Mặt khác Say bao giờ cũng cho r ằng việc phân b ổ lại tư b ản và lao đ ộng sẽ sớm sinh ra sản xuất – và do đó sinh ra thu nh ập – trong những khu vực khác của nền kinh tế, và điều này là liệu pháp cho sản xuất thừa

Tương phản với quan điểm trên, Sismondi không ch ỉ chia sẻ cách nhìn của Ricardo theo đó máy móc là quá chuyên bi ệt hóa để ta có thể chuyển dịch chúng từ ngành này sang ngành khác Ông cũng nhìn th ấy khó khăn này trong trường hợp của lao động: sau một tập huấn dài và tốn kém, chuyên môn của người lao động thuộc về “vốn” của họ và không thể sử dụng

Trang 6

chuyên môn này trong m ột nghề khác được Bởi thế, tính cơ động của

những nhân t ố sản xuất không bù đ ắp được mấy một sự mất cân bằng sau một thời gian dài đi ều chỉnh Ngược lại, đối với Say, nếu tiêu dùng gi ảm so với sản xuất thì đó là vì nơi khác trong n ền kinh tế ngư ời ta không s ản xuất một khối lượng cho phép sinh ra đ ủ một cầu thực tế Say tin tư ởng nhiều hơn vào các doanh nhân để giải quyết khó khăn này nhờ việc phân bổ lại tư bản và lao đ ộng Tuy nhiên ông còn mơ h ồ trên vấn đề là doanh nhân s ẽ sử dụng những nhân tố sản xuất dư thừa hay phân b ổ chúng lại giữa việc sử dụng chúng vào nh ững công việc hiện nay và vi ệc sử dụng chúng vào

những việc khác

Những Lettres à Malthus (1820) mà Say vi ết và đư ợc dịch và công b ố rộng

rãi, đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc tranh luận lí thuyết cũng như trong cuộc tranh lu ận về “sự tắt nghẽn đại trà” (của sản xuất - ND) Để chữa trị điều giống với một “siêu tồn kho của tất cả các thị trường trong vũ trụ”, Say khuyến nghị một gia tăng c ủa sản xuất Ông vi ện đến Malthus,

nhà kinh tế dân số học trong Tiểu luận về nguyên lí dân s ố, ngư ời chứng

minh là luôn có đủ những người tiêu dùng Điều này không nhất quán với

sự bi quan c ủa ông trên vấn đề tắt nghẽn, do ông tiên đoán là s ẽ thiếu

người tiêu dùng

Trang 7

Khi bảo vệ qui luật của ông ch ống lại Malthus, Say dư ờng như lo ại trừ, theo định nghĩa, sản xuất thừa, vì ông từ chối xem hàng không bán được như những sản phẩm (và như nguồn gốc của thu nhập)

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là ông chấp nhận những quan điểm của

Sismondi Trong Lettres à Malthus của ông, tác gi ả này cũng là đ ối tư ợng

của nhiều phê phán Còn v ề tính linh hoạt của tư bản và lao đ ộng, Say s ẵn sàng thừa nhận là có những cản trở tự nhiên và xã hội cho tính cơ đ ộng không gi ới hạn của những nhân tố, cũng như cho s ự tăng trưởng kinh t ế không có gi ới hạn Khái ni ệm vô cùng hiện đại về tập huấn – cũng là m ột khái niệm trung tâm trong các lí thuy ết hiện đại về “tăng trư ởng nội

sinh” – là ví dụ được Say nêu về một “cản trở tự nhiên” vì nó làm chậm đi việc thiết lập sự phân công t ối ưu trong một nền kinh tế và giữa các dân tộc Phải mất nhiều năm m ới có đư ợc tri thức và trình độ chuyên môn – mà

từ vựng của Say gộp chung thành m ột từ duy nhất: công nghệ (Arts) Trên

điểm này những phân tích của Say và Sismondi về những cản trở ma sát cho việc phân bổ lại lao động trong m ột nền kinh tế và giữa các dân tộc tương đồng với nhau, nhưng cuối cùng những kết luận của Sismondi là bi quan trong lúc nh ững kết luận của Say là l ạc quan

Còn về những “cản trở xã hội” trong quá trình kinh t ế, Say cho là áp l ực của thuế và thuế hải quan có th ể là một gánh nặng đối với sản xuất nếu một phần của giá trị gia tăng b ị những giới chức địa phương nu ốt lấy Và cuối cùng một hình thức tập huấn mới là cần thiết, để vượt qua sự thiếu hiểu biết của các nhà kinh doanh trong vi ệc tìm hi ểu cần sản xuất những gì và đâu là thị trường cho sản phẩm của họ Điều này kéo theo là Say không chia sẻ sự bi quan c ủa Malthus về tính bảo hoà c ủa những nhu c ầu

Trang 8

Trong lần tái bản thứ năm của Traité (1825), Say đi ều chỉnh đôi chút quan

điểm của ông để tính đến những phê phán của Malthus và của Sismondi Ông còn g ợi ý là có th ể là cần thiết phải viện đến những công trình công cộng để khuất phục thất nghiệp do vi ệc đưa những máy móc m ới vào gây nên

Tuy nhiên, nhìn chung, rõ ràng là s ự lạc quan c ủa Say và niềm tin của ông vào tiến bộ là những nhân tố cũng quan trọng (nếu không nói là quan tr ọng hơn) không kém phân tích kinh t ế của ông để tiên đoán sự kết thúc của nạn tắt nghẽn Ông chia sẻ những do dự của Sismondi về tính linh ho ạt của lao động, nhưng chỉ trong ngắn hạn Trong một chừng mực lớn, Say, Malthus

và Sismondi đều nằm trong một khuôn khổ phân tích chung Cuối cùng những kết luận của họ về mặt tăng trưởng, đình đốn, dân s ố (hay nhân mãn)

và thất nghiệp công nghệ do những hệ thống giá tr ị của bản thân và vị thế của họ trong xã hội ấn định

Ở cương vị một môn đồ của Condorcet, một nhà kinh tế cổ điển, Say

nguyên là chủ nhân nhà máy sợi, không bi quan trư ớc những tác động của việc đưa máy móc vào, nh ững máy móc “sản xuất nhưng không ăn u ống”, hay ít ra là có th ể có đư ợc chúng “rẻ hơn là con ngư ời” Bởi thế ông là m ột người biện hộ nhiệt tình cho tiết kiệm và sự hình thành tư bản Về mặt này ông đáng được xem là một nhà kinh tế cực kì cổ điển, xem vấn đề tăng trưởng kinh tế là một trong những chủ đề trung tâm Baumol nhấn mạnh

Trang 9

rằng qui luật Say là hài hoà v ới những ý tư ởng khác c ủa ông về dân số và máy móc Những ý tưởng của Say (và c ủa Sismondi) về dân số không ph ải

là những ý malthusian trong nghĩa bi quan thông thư ờng Những ý của Say

về dân số và tắc nghẽn là nhất quán hơn những ý của Malthus; th ật thế một dân số tăng trư ởng bao giờ cũng cung cấp nhiều nhà tiêu dùng hơn cho m ột sản xuất tăng dần Tuy nhiên Say không “chứng minh” là luôn có đủ tư bản

và lao động cơ động để tiến hành những điều chỉnh nhanh chóng với một sản xuất mà cơ c ấu là mất cân bằng Ông cần đến những giả thiết lạc quan, nhưng trong trường hợp này, nói như Baumol, lập luận của ông “hỗ trợ cho

sự phát triển của doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa đi kèm cu ộc cách m ạng công nghi ệp non tr ẻ”

▶ BAUMOL W J., “Say’s (at least) eight laws, or What Say and James

Mill may really have meant”, Economica, 1977, 44, p 145-162 (bài viết chỉ đề cập có 7 phiên b ản) – BÉRAUD & FACCARELLO éd., Nouvelle histoire de la pensée économique , vol 1 p 365 -508 – BLAUGH

M., Economic Theory in Retrospect , Cambridge, 5t h ed.,

1997 – SCHUMPETER J A., History of Economic Analysis , New York, Oxford University Press, 1954, p 615 -625 – SOWELL T., Say’s Law: A Historical Analysis , Princeton, Princeton University Press, 1972

Evert SCHOORL

Giáo sư đại học Groningue (Hà Lan)

Ngày đăng: 30/12/2022, 07:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w