1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Luật môi trường khoa luật UEH PHÁP LUẬT QUẢN lý CHẤT THẢI NGUY hại HIỆN NAY

19 34 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 576,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự CQQLNN Cơ quan quản lý nhà nước CTNH Chất thải nguy hại CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt ĐƯQT Điều ước quốc tế LBVMT Luật bảo vệ môi trườn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT MÔI TRƯỜNG

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI

NGUY HẠI HIỆN NAY

GVHD : NGUYỄN THỊ ANH

SV thực hiện: TRẦN THỊ BÍCH HUỆ Lớp : LA002 – K43

MSSV : 31171023412

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC



Danh mục các từ viết tắt 3

Lời nói đầu 4

1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý CTNH 5

1.1 Định nghĩa chất thải nguy hại 5

1.2 Quy định pháp luật về quản lý CTNH 6

1.3 So sánh quy định quản lý CTNH ở LBVMT 2014 và Dự thảo LBVMT sửa đổi 2020 8

1.4 Kinh nghiệm quản lý CTNH của các nước 8

2 Thực trạng công tác quản lý CTNH hiện nay 9

2.1 Thực tiễn phát sinh và vi phạm pháp luật quản lý CTNH 9

2.2 Những bất cập pháp luật về quản lý CTNH 10

2.3 Hạn chế trong công tác giám sát tại các cơ sở và thanh tra xử lý vi phạm

……….……… 13

3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý CTNH .15

3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 15

3.2 Giải pháp về nhận thức, chuyên môn 16

Kết luận 17

Danh mục tài liệu tham khảo 18



Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự

CQQLNN Cơ quan quản lý nhà nước

CTNH Chất thải nguy hại

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

ĐƯQT Điều ước quốc tế

LBVMT Luật bảo vệ môi trường

UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 4

Lời nói đầu

Chất thải nguy hại (CTNH) đã và đang tác động tiêu cực cao đến con người

và môi trường Đặc biệt đối với các nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa như Việt Nam, lượng CTNH ngày càng tăng do hoạt động công nghiệp và một phần phải chịu từ việc nhập khẩu sản phẩm từ các nước phát triển So với trước đây, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý CTNH hiện nay khá đầy đủ và rõ ràng Tuy nhiên sau một thời gian thực thi, các quy định pháp luật về quản lý CTNH còn nhiều bất cập, công tác quản lý lỏng lẻo, khiến tình trạng vi phạm trong lĩnh vực CTNH ngày càng diễn biến phức tạp.Từ đó quản lý CTNH được đặt ra như một vấn đề cấp thiết cần hoàn thiện, khắc phục để nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Việt Nam Bài viết nêu ra những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý CTNH và chỉ ra thực trạng, bất cập các quy định pháp luật

về vấn đề này Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện

Trang 5

1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý CTNH

1.1 Định nghĩa chất thải nguy hại

Thuật ngữ “chất thải nguy hại” bắt đầu xuất hiện từ những năm 70 của thế

kỷ XX Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về CTNH trên thế giới, điển hình như:

Ở Cannada, CTNH được định nghĩa là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó

Ở Mỹ (được đề cập trong luật RCRA), CTNH là những chất nằm trong danh sách CTNH của EPA, có một trong 04 đặc tính cháy nổ, ăn mòn, phản ứng

và độc tính

Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (1985): CTNH là chất thải phóng xạ, chất thải y tế và các chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác

Tại Việt Nam, Điều 3.13 LBVMT 2014 định nghĩa: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác” Như vây, xác định CTNH dựa vào

yếu tố có chứa các tính chất nguy hiểm, có thể gây nguy hại trực tiếp đến con người và môi trường So với LBVMT 2014 thì Dự thảo sửa đổi LBVMT 2020 đã sửa đổi định nghĩa CTNH theo hướng toàn diện hơn khi quy định CTNH theo hướng là chất thải vượt ngưỡng CTNH

Trang 6

Nhìn chung khái niệm CTNH các nước đều đề cập đến 4 đặc tính cơ bản: cháy

nổ, ăn mòn, độc tính và hoạt tính

1.2 Quy định pháp luật về quản lý CTNH

Pháp luật về quản lý CTNH là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến CTNH đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với nhau trong quy trình quản lý CTNH nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Đây là công cụ quản lý CTNH hữu hiệu nhất thông qua thể chế hóa hoạt động quản lý CTNH bằng pháp luật

Sau khi LBVMT năm 2014dành riêng mục 2 chương IX về quản lý CTNH

có hiệu lực Nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết về quản lý CTNH cũng được ban hành như: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, nghị định số40/2019/NĐ-CP, Thời gian qua Việt Nam cũng đã tích cực hội nhập, tham gia nhiều ĐƯQT về quản lý CTNH như: công ước Basel, công ước Stokholm, công ước Marpol,

Pháp luật về môi trường tạo ra một khung pháp lý điều chỉnh cụ thể quy trình quản lý CTNH từ giai đoạn phát sinh, thu gom, vận chuyển đến xử lý Cụ thể:

 Giai đoạn phát sinh CTNH: chủ nguồn thải phải lập hồ sơ đăng kí với

CQQLNN về môi trường; cơ sở xử lý CTNH phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 93 LBVMT 2014 và Điều 8 thông tư 36/2015/TT-BTNMT và được Bộ TN&MT cấp giấy phép

 Giai đoạn phân loại, thu gom: trong trường hợp chủ nguồn thải không đáp ứng được quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì kí hợp đồng chuyển giao cho

cơ sở được cấp giấy phép xử lý CTNH1

1 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường 2014

Trang 7

 Giai đoạn vận chuyển: thiết bị vận chuyển phải là những phương tiện

chuyên dụng được đăng kí trong giấy phép Vận chuyện CTNH sang các nước phải tuân thủ theo ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên2

 Giai đoạn xử lý: CTNH phải được xử lý riêng biệt, tùy theo đặc thù mà có phương pháp xử lý khác nhau

Đồng thời, cũng quy định rõ trách nhiệm của những chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý CTNH từ cá nhân, tổ chức đến các CQQLNN về môi trường bởi CTNH phát sinh từ nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp,

y tế,

i Trách nhiệm chủ nguồn thải: thực hiện các trách nhiệm quy định Điều 7

thông tư 36/2016/TT-BTNMT

ii Trách nhiệm chủ xử lý CTNH: thực hiện các trách nhiệm tại Điều 12 nghị

định 38/2015/NĐ-CP và các yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý quy định từ Khoản 2 đến Khoản 13 Điều 9 thông tư 36/2016/TT-BTNMT

iii Trách nhiệm Tổng cục môi trường: quản lý, kiểm tra hoạt động, các hồ sơ liên quan đến các tổ chức, cá nhân có Giấy phép xử lý CTNH hoặc Giấy

phép quản lý CTNH do Bộ TN&MT cấp; Sao gửi Giấy phép xử lý CTNH hoặc Quyết định thu hồi Giấy phép do Bộ TN&MT cấp đến UBND cấp tỉnh, Sở TN&MT nơi có địa điểm cơ sở xử lý được cấp phép; xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia.3

iv Trách nhiệm Sở TN&MT: các trách nhiệm tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 14

nghị định 38/2015/NĐ-CP và quản lý hoạt động và hồ sơ liên quan đến các

tổ chức, cá nhân có Giấy phép quản lý CTNH do tỉnh cấp; công khai thông tin; lập báo cáo định kỳ

2 Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường 2014

quản lý chất thải nguy hại

Trang 8

Chế tài xử phạt vi phạm các hành vi vi phạm quản lý CTNH là phương tiện răn đe, giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật Tùy vào mức độ vi phạm mà các chủ thể vi phạm pháp luật quản lý CTNH sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự Mức xử phạt hành chính về quản lý CTNH quy định tại Điều 21, 22, 23 Nghị định 155/2016/NĐ-CP đã nâng mức phạt lên so với nghị định 179/2013/NĐ-CP Đây là mức phạt đối với cá nhân Mức đối với

tổ chức gấp hai lần so với quy định tại Nghị định này

1.3 So sánh quy định quản lý CTNH ở LBVMT 2014 và Dự thảo LBVMT sửa đổi 2020

Dự thảo gộp các quy định về quản lý chất thải rắn, CTNH, chất thải y tế nguy hại vào cùng điều khoản Nhiều quy định về quản lý CTNH trong Dự thảo được sửa đổi bổ sung theo hướng chặt chẽ, chi tiết hơn, như: quy định về phân nhóm CTNH; quy định chi tiết hơn về vận chuyển CTNH; cấm chôn trực tiếp chất thải, chỉ được phép chôn lấp chất thải khi đã qua xử lý; chuyển chất thải phóng xạ sang phạm vi quản lý của Luật Năng lượng nguyên tử; bổ sung điều kiệncơ sở xử lý CTNH phải nằm trong khu xử lý chất thải tập trung

1.4 Kinh nghiệm quản lý CTNH của các nước

Luật pháp môi trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc coi khía cạnh quan trọng nhất là giảm thiểu phát sinh chất thải, tiếp đó là tái sử dụng chất thải Việc phân loại CTNH và không nguy hại dựa trên hệ thống phân loại và dán nhãn các chất

và chế phẩm nguy hiểm để đảm bảo áp dụng các nguyên tắc tương tự trong toàn

bộ vòng đời của vật liệu Việc phân loại như vậy đảm bảo CTNH được xác định

và lưu ý; đồng thời các loại CTNH khác nhau không được trộn lẫn và CTNH không được trộn lẫn với chất thải không nguy hại Nhưng quy định này không áp dụng đối với chất thải hỗn hợp phát sinh từ các hộ gia đình sản xuất

Trang 9

Nguyên tắc chính quản lý CTNH của các nước này là ghi nhãn bổ sung, lưu giữ hồ sơ và có trách nhiệm kiểm soát, giám sát các hoạt động từ "cái nôi đến ngôi mộ", tức là từ phát sinh chất thải đến xử lý cuối cùng

Ở Nhật Bản, việc xử lý CTNH theo các quy định về Chất thải được quản lý đặc biệt Cấm đồng xử lý chôn lấp các CTNH và chất thải không nguy hại tại cùng một bãi Trên thực tế, việc xác định chất thải nào độc hại hay không độc hại có thể khác nhau tùy theo vùng Ví dụ, trong một số trường hợp, một số loại nhựa

có thể độc hại về mặt hóa học hoặc có khả năng độc hại, tuy nhiên, tại Nhật Bản, nhựa được phân loại là chất thải rắn và được xử lý giống như chất thải thực phẩm và vườn Ngoài ra, điều quan trọng cần cân nhắc là việc quản lý các CTNH gia đình khác nhau phụ thuộc vào chính sách của từng địa phương Ví dụ, hầu hết các thành phố cấm sơn và thuốc trong chất thải sinh hoạt và thu gom riêng đèn huỳnh quang hoặc nhiệt kế, bình xịt và pin, trong khi một số thành phố thì không làm như vậy4

2.1 Thực tiễn phát sinh CTNH và vi phạm pháp luật quản lý CTNH

Gánh nặng lớn từ lượng CTNH phát sinh làm gia tăng áp lực đối với sự an toàn của môi trường Theo dữ liệu tổng hợp của Bộ TN&MT, năm 2019 lượng CTNH phát sinh khoảng 874.589 tấn Nguồn phát sinh chủ yếu từ hoạt động công nghiệp, trọng điểm là các khu công nghiệp phía nam phát sinh từ 82.000 - 134.000 tấn/năm Việc nhập khẩu phế liệu cũng đã đưa nhiều CTNH vào nước ta như: vỏ ô tô, tàu biển có các tạp chất, đồ điển tử đã qua sử dụng, Giữa tháng 6.2018 vừa qua, lực lượng Hải quan đã phải báo động tình trạng hàng ngàn container phế liệu vô chủ đã nhập vào VN gây ùn ứ cảng Ước tính CTNH từ hoạt đông nông nghiệp là 9000 tấn/năm Ngoài ra, cả nước còn tồn lưu gần 50 tấn thuốc bảo vệ thực vật; 37.000 tấn hóa chất bị tịch thu

4 Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Báo cáo kinh nghiệm các nước trong quản lý môi trường, Hà nội

Trang 10

đang chờ xử lý - đây đều là những chất thải có tính phát tán nhanh Trong lĩnh vực y tế, tổng lượng CTNH phát sinh khoảng 21.374 tấn (tăng 591 tấn so với năm 2017), trong đó chất thải lây nhiễm chiếm gần 91% tổng lượng Trong khi đó cả nước hiện nay có 118 cơ sở xử lý CTNH (tăng 05 cơ sở so với năm 2017) được cấp phép với công suất xử lý khoảng 1.500 nghìn tấn/năm5 Chi phí chi trả để xử lý CTNH khá cao nên nhiều cá nhân, doanh nghiệp không hề có ý thức vệ môi trường, vì mục đích lợi nhuận mà cố tình vi phạm bằng những thủ đoạn tinh vy Hiện nay tồn tại tình trạng CTNH bị các cơ sở xử

lý CTNH hoặc chủ nguồn thải chia nhỏ, trộn lẫn vào chất thải thông thường để giảm bớt chi phí xử lý hoặc một số trường hợp thu gom CTNH nhưng không xử

lý đạt quy chuẩn mà vận chuyển trái phép, lén lút đổ trộm ra môi trường6 Điển hình một số vụ việc như: Tháng 5/2019, hàng chục thùng phuy chứa CTNH đổ trộm ở Đại lộ Thăng Long; đổ trộm dầu thải gây “cuộc khủng hoảng” nước sạch Sông Đà (Hòa Bình), Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã môi trường xanh chôn lấp trái phép hàng chục tấn CTNH,

2.2 Những bất cập pháp luật về quản lý CTNH

Thứ nhất, quy định về quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển chưa được quy định chi tiết và thiếu tính khả thi Cụ thể:

Chưa có chế tài cụ thể áp dụng việc phân loại CTNH tại nguồn Đây là một điểm yếu kém trong pháp luật quản lý CTNH của nước ta so với các nước Đồng thời thiếu sự đồng bộ trong quá trình thu gom CTNH Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lượng CTNH công nghiệp và làng nghề gia tăng, nhiều loại CTNH được thu gom cùng rác thải sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng

5 https://baotainguyenmoitruong.vn/minh-bach-hoa-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-299621.html , tham khảo ngày 24/05/2020

6 http://www.baobariavungtau.com.vn/kinh-te/201906/con-lo-hong-trong-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-860879/ , tham khảo ngày 26/05/2020

Trang 11

Theo Điều 9.2 thông tư 36/2015/TT-BTNMT thì chủ thể xử lý CTNH “chịu toàn bộ trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại” Nhưng không

quy định sẽ chịu trách nhiệm ra sao, hình thức như thế nào

Điều 8.2 thông tư 36/2015/TT-BTNMT quy định : “phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải có hệ thống định vị vệ tinh (GPS) được kết nối mạng thông tin trực tuyến” Điều khoản này chưa khả thi trong thực tiễn ngày nay Bởi

lẽ, tại Việt Nam hệ thống định vị GPS chưa được sử dụng nhiều và vẫn còn là một khái niệm xa lạ đối với chủ thể hoạt động liên quan đến xử lý CTNH tại VN, không chỉ chi phí cao mà để hoạt động bình thường đòi hỏi phải có kết nối mạng

ổn định Vì thế hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp không ghi lại được hành trình vận chuyển khi đi vào nơi không có mạng7

Thứ hai, quy định về cung ứng dịch vụ quản lý CTNH: (1) về hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH: LBVMT 2014 và các văn bản dưới luật hướng dẫn về quản lý CTNH hiện chưa có quy định cụ thể về nội dung, hình thức của hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH (gồm các loại hợp đồng thoả thuận thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH) Đây là một thiếu xót bởi nhu cầu giao kết của các chủ nguồn thải ngày càng cao và không có quy định rõ về những điều khoản cơ bản phải có trong nội dung hơp đồng sẽ không bảo đảm được lợi ích cân bằng của các bên, đây cũng là căn cứ giải quyết khi xảy ra tranh chấp giữa các bên chủ thể Không có sự thống nhất về hình thức hợp đồng sẽ phần nào gây khó khăn cho công tác kiểm tra của CQQLNN về môi trường. (2) Về mức giá dịch vụ: Ở nghị định 38/2015/NĐ-CP hoạt động quản lý CTRSH được điều chỉnh về giá dịch vụ8.Trong khi đó, lại không điều chỉnh hoạt động quản lý CTNH, chất thải rắn công nghiệp thông thường Đây là lý do tại sao giá

7 https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/117/822 , tham khảo ngày 26/05/2020

8 Điều 25, 26 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu

Trang 12

dịch vụ xử lý CTRSH của mọi cơ sở xử lý đều phải được Sở Tài chính hoặc Bộ Tài chính thẩm định và UBND cấp tỉnh phê duyệt Không có các quy định cụ thể hướng dẫn về mức giá dịch vụ quản lý CTNH, các chủ thể cung ứng dịch vụ này

có thể tùy tiện áp dụng mức giá cho dịch vụ của mình mà các chủ nguồn thải khác sẽ không có căn cứ nào để xác định mức giá được đưa ra có phù hợp hay không9

Thứ ba, về chế tài xử phạt vi phạm quy định quản lý CTNH: Điều 236 BLHS 2015 quy định mức phạt hành chính và xử lý hình sự dựa trên số lượng CTNH thuộc Phụ lục A Công ước Stockholm mà người phạm tội thải ra môi trường và mức độ nguy hiểm của chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mà cá nhân phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 10 năm Ngoài ra, có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, đối tượng giới hạn của điều khoản này chỉ là cá nhân phạm tội, còn trách nhiệm hình sự của pháp nhân phạm tội – các chủ thể vi phạm quản lý CTNH trong sản xuất nhiều hơn cả thì chưa được quy định Điều 78, 79 luật này có quy định về việc pháp nhân gây thiệt hại môi trường bị đình chỉ hoạt động nhưng chỉ dừng lại

ở mức chung chung, không biết mức độ thiệt hại ra sao thì bị đình chỉ hoạt động

Do đó mà chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe Một số doanh nghiệp có nguồn thải lớn vẫn cố ý vi phạm và chịu nộp phạt bởi lẽ mức phí này thấp hơn chi phí xử lý CTNH theo đúng yêu cầu, quy trình luật định mà chế tài trách nhiệm hình sự thì chưa được quy định rõ ràng

Thứ tư, quy định về trách nhiệm giám sát của chủ nguồn thải: theo thông tư 36/2015/TT-BTNMT thì chủ nguồn thải không phải giám sát hoạt động quản lý

9 http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/gia-cung-ung-dich-vu-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-duoi-goc-do-phap-luat-moi-truong-140671.html , tham khảo ngày 28/05/2020

Ngày đăng: 16/12/2021, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w