BÀI TẬP MÔN TRIẾT HỌC Học viên lớp cao học Quang Học CH: Từ qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất anh chị hãy giải thích tính tất yếu và những nội dung cơ bản của quá
Trang 1BÀI TẬP MÔN TRIẾT HỌC Học viên lớp cao học Quang Học
CH: Từ qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất (anh
chị )hãy giải thích tính tất yếu và những nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển trí thức ở Việt Nam hiện nay
Triết học là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống xã hội của bất kỳ quốc gia nào Triết học không chỉ tác động đến sự phát triển trong tư tưởng của con người mà nó còn tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên Thế giới, trong đó có Việt Nam Triết học là nền tảng, cơ sở của mọi đường lối quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước, ngay cả trong thời đại hội nhập ngày nay
Một trong những vấn đề lớn của Triết học Mác – Lênin là quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất Chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hiểu được mối quan hệ biện chứng này sẽ giúp cho quá trình phát triển của xã hội trở nên dễ dàng hơn
I Những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất
1.Lực lượng sản xuất : là một khái niệm trung tâm của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Việc nghiên cứu rõ nội hàm của khái niệm này là cơ sở để hiểu toàn bộ sự vận động và phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong lịch sử xã hội loài người Theo C Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng của con người Đó là hoạt động cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người C Mác cho rằng, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên Khi tiến hành sản xuất vật chất, con
Trang 2người dùng những công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu thiết yếu của mình Cũng trong quá trình đó, con người nắm bắt được những quy luật của tự nhiên, biến giới tự nhiên từ chỗ hoang sơ, thuần phác trở thành “thế giới thứ hai” với sự tham gia của bàn tay và khối óc của con người Sản xuất vật chất luôn thay đổi nên lực lượng sản xuất là một yếu tố động và là một quá trình luôn được đổi mới, phát triển không ngừng Khi bàn đến lực lượng sản xuất, C Mác cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản cấu thành nên nó, đó là người lao động và tư liệu sản xuất.Như vậy, theo quan điểm
của C Mác, có thể hiểu, lực lượng sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định
Ngoài việc bàn đến hai yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất, C Mác cũng
đề cao, coi trọng vai trò của khoa học đối với sản xuất vật chất nói chung và với
sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng.
Trong bối cảnh hiện nay, với mục tiêu phát triển bền vững, quan niệm về lực lượng sản xuất cần được bổ sung khía cạnh “con người sống hài hòa với tự nhiên” Trong lịch sử loài người đã và đang trải qua ba giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất Giai đoạn 1: Lực lượng sản xuất phát triển một cách tự phát Đây là giai đoạn mà kinh nghiệm sản xuất trực tiếp của người lao động sản sinh ra
kỹ thuật Nó xảy ra trước cách mạng công nghiệp Giai đoạn 2: Lực lượng sản xuất phát triển bằng mọi giá Đây là giai đoạn sau cách mạng công nghiệp Ở giai đoạn này, con người đã tận dụng những thành quả của khoa học, kỹ thuật để khai thác ngày càng nhiều tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Giai đoạn 3: Lực lượng sản xuất phát triển một cách có chọn lọc Do mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên ngày càng trở nên xung khắc, biểu hiện qua những thiên tai, lũ lụt, biến đổi khí hậu , nên con người từng bước điều chỉnh hoạt động sản xuất vật chất của mình, chuyển hướng sang phát triển lực lượng sản xuất một cách có chọn
Trang 3lọc, tránh làm tổn hại đến tự nhiên Vì vậy, thay vì phát triển lực lượng sản xuất như trước kia, ngày nay cần phải phát triển lực lượng sản xuất một cách chọn lọc, bởi “lực lượng sản xuất là khái niệm thể hiện không chỉ hoạt động đấu tranh mà còn thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa con người và giới tự nhiên”
Thứ ba, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng in-tơ-nét, khoa học nói riêng và tri thức nói chung được phổ biến nhanh chóng, hầu như tức thời, với nhiều sự kiện khoa học trên toàn thế giới Dòng tri thức, dòng công nghệ cùng dòng vốn được lưu thông với tốc độ chưa từng có trên toàn thế giới Người ta có thể sản xuất từng bộ phận cấu thành của một sản phẩm ở nhiều nơi trên thế giới, sau đó lắp ráp và lưu thông ở các nước khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy, đầu ra của lực lượng sản xuất hiện đại không còn là sản phẩm riêng của lao động ở một quốc gia nữa, mà là sản phẩm mang tính toàn cầu Do
đó, lực lượng sản xuất hiện đại trở thành một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa Đây là đặc điểm mới, chỉ riêng có ở lực lượng sản xuất hiện đại mà lực lượng sản xuất ở các giai đoạn trước kia chưa có hoặc mới ở trong một phạm vi hẹp.
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã khiến cho tri thức khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
2 Quan hệ sản xuất: là mỗi quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất ( sản xuất và tái sản xuất xã hội)
Quan hệ sản xuất bao gồm:
Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất( quan hệ sở hữu) :nói lên ai là chủ sở hữu đối với nhà máy, xí nghiệp ,các thiết bị, các nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất
Quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất: nói lên ai là người tổ chức, quản lý và điều hành quá trình sản xuất
Trang 4Quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó : nói lên ai là người có quyền phân phối, chia thành quả sản xuất, cho những ai và như thế nào?
Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định hai mối quan hệ kia, đồng thời tác động trở lại bằng cách thúc đẩy hay kìm hãm
3 Nội dung của quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Theo nhận thức truyền thống, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau trong mỗi phương thức sản xuất Lực lượng sản xuất là cơ sở vật chất, điều kiện vật chất có vai trò quyết định quan hệ sản xuất - hình thức xã hội của sản xuất Khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thì tất yếu phải được thay thế bằng phương thức sản xuất tiến bộ hơn.Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối Do
đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động.Sự tác động của quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng, hoặc là tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và mở rộng thị trường thế giới trong thế kỷ
XX, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay đã tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại và đồ sộ hơn nhiều
- Như vậy, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển phá vỡ sự phù hợp về mặt trình độ của quan hệ sản xuất đối với nó đòi hỏi phá bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời
và thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn Quá trình đó lặp đi lặp lại tác động cho xã hội loài người trải qua những phương thức sản xuất từ thấp đến cao dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội
Trang 5- Để phát triển lực lượng sản xuất, con đường tất yếu là phải diễn ra cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó
là quá trình phát triển không ngừng ở tất cả các nước dưới những hình thức và mức độ khác nhau
II Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt nam trước kia và hiện nay
+ Ở Việt Nam, do điểm xuất phát rất thấp từ một nước nông nghiệp lạc hậu trong chế độ phong kiến hàng nghìn năm, bị chủ nghĩa thực dân cai trị hàng trăm năm, nên yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa càng bức thiết Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước vừa giành được độc lập lại phải tiến hành kháng chiến lâu dài chống xâm lược nên chưa có điều kiện để chuyển lên con đường XHCN Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn xây dựng
CNXH phải phát triển kỹ nghệ, tức là phát triển công nghiệp, khoa học, kỹ thuật
- Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) nêu rõ:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” Đó là một quá trình lâu dài, “Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Trang 6Đại hội VIII của Đảng khẳng định Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, hoàn thành những nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ, cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ do Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đề ra và xác định giáo dục, đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đất nước
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là cần thiết và đúng đắn
Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
đã thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực Gần 30 năm đổi mới, nhiều công trình lớn của đất nước được xây dựng và đi vào hoạt động Đó là nhà máy thủy điện Yaly, Sơn La, Tuyên Quang cùng với Hòa Bình, Trị An trước đó,
hệ thống tải điện Bắc Nam, cùng với các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, nhiệt điện đã là thành tựu lớn của điện khí hóa toàn quốc Công nghiệp dầu khí với khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau Hiện đại hóa ngành khai thác than và khoáng sản Tiếp tục phát triển công nghiệp gang thép, cơ khí Phát triển công nghệ thông tin và viễn thông Nâng cấp hệ thống đường giao thông Xây mới các cầu hiện đại: Mỹ Thuận, Cần Thơ, các cầu ở Đà Nẵng, cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy ở Hà Nội và nhiều cầu hiện đại khác Hiện đại hóa các sân bay, cảng biển Phát triển hàng trăm khu công nghiệp và chế xuất, hình thành những trung tâm công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước
Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) vững chắc: năm 2000 tăng gấp 2,07 lần năm 1990, năm 2010 tăng gấp 3,26 lần năm 2000 Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể: năm 1986 là 202 USD, 2001 là 417 USD, 2006 hơn 600
Trang 7USD, năm 2008 là 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo, năm 2010 là 1.168 USD và 2012 là 1.700 USD, 2013 là 2.000 USD
Sự phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng năm 1988 chiếm 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%, năm 2003: 40%, năm 2005: 41% và năm 2010 là 41,1% Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 1988: 46,3%, năm 2003: 21,8%, năm 2005: 21%, năm 2010: 20,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP 1988: 33,1%, năm 2003 là 38,2%, năm 2005: 38% và năm 2010: 38,3% Đó là những con số rất có ý nghĩa mà các Đại hội của Đảng đã tổng kết Tuy vậy, năng suất lao động ở Việt Nam còn rất thấp và tăng chậm Từ năm 2000 đến 2010, năng suất lao động chỉ tăng hơn 4% So với các nước Inđônêxia, Malaysia và Thái Lan, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn hàng chục lần Năng suất lao động là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Công nghiệp Việt Nam có sự phát triển, song vẫn chủ yếu là khai thác tài nguyên
và gia công, “Công nghiệp chế tạo, chế biến phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỷ trọng lớn”.
Trải qua nhiều năm đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lực lượng sản xuất đã
có những bước phát triển rất quan trọng Song, việc xây dựng quan hệ sản xuất mới - hình thức xã hội của sản xuất - vẫn chưa hết lúng túng và còn những hạn chế, thiếu đồng bộ
III Phương hướng để tiếp tục vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định đặc trưng thứ ba trong mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam là: “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp” Cương lĩnh nhấn mạnh việc
Trang 8nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có quan hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”
Phát triển mạnh mẽ hơn nữa lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ cao là vấn đề bức thiết để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững và phát triển kinh tế tri thức Khi công nghiệp vẫn chủ yếu là khai thác tài nguyên, gia công, lắp ráp, công nghiệp chế tạo, chế biến còn phát triển chậm thì định hướng đúng đắn trong phát triển khoa học, công nghệ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển có tầm quan trọng đặc biệt Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Ưu tiên phát triển và hoàn thành những công trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị thay thế nhập khẩu cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng; công nghiệp công nghệ cao sản xuất linh kiện điện tử, máy tính, công nghiệp dầu khí, điện, than, khai khoáng, hóa chất, luyện thép, xi măng, phân đạm… công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp quốc phòng, an ninh với trình độ công nghệ ngày càng cao, sạch, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, tăng sức cạnh tranh và giá trị gia tăng”.
Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản Phát triển mạnh công nghiệp xây dựng và phát triển hợp lý công nghiệp sử dụng nhiều lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, nhất là các máy điều khiển kỹ thuật số, hệ thống tự động hóa Phấn đấu đến năm 2020, “Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp”
Hiện nay, thực hiện quan điểm của Đại hội XI về cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng
cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững và đúng định
Trang 9hướng XHCN Phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, biện pháp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo “cốt vật chất” cho quan
hệ sản xuất mới Tiếp tục thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học và công nghệ hiện đại trong điều của cuộc cách mạng 4.0 Xây dựng, hoàn thiện luật pháp và chính sách kinh tế để kiến tạo sự phát triển bền vững Đào tạo nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, nhất là trong bộ máy quản lý, quản trị nhà nước.
Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào tạo đặc biệt là đào tạo nghề Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo nghề, nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng
Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để hoàn thiện quan hệ sản xuất
Tăng cường những bước cơ bản về cơ sở vật chất cho khoa học – công nghệ, tập trung xây dựng một số phòng thí nghiệm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, hóa dầu…
KẾT LUẬN
Hiện nay, thế giới đang chuyển đổi mạnh mẽ với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo Trong bối cảnh đó, để tận dụng thời cơ và vượt qua thách thức của cuộc chuyển đổi số, hướng đến mục tiêu năm 2045 nước
ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao, thì khâu đột phá đầu tiên phải được
Trang 10tính đến là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc
Cuộc cách mạng chuyển đổi công nghệ số và trí tuệ nhân tạo chắc chắn sẽ làm cho
cơ cấu xã hội biến đổi và các tổ chức chính quyền nhà nước các cấp tinh gọn hơn, thông minh hơn, hiệu quả hơn Nói cách khác, cuộc cách mạng này không những làm thay đổi cách quản trị xã hội mà còn làm thay đổi cả cách suy nghĩ, cách ứng
xử, lối tư duy của con người, thậm chí cả cách thức, biện pháp tiến hành chiến tranh trong tương lai không xa Bởi vậy, nếu nước nào chậm trễ và tụt hậu trong cuộc cách mạng mới này thì khoảng cách với các nước phát triển cao sẽ ngày càng rộng ra thêm Điều này đồng nghĩa với việc các nước đang phát triển và kém phát triển sẽ tụt hậu càng xa hơn nữa so với các nước phát triển Do vậy, cơ hội để các nước đang phát triển đuổi kịp các nước phát triển sẽ càng trở nên mong manh hơn,
sự bất bình đẳng giữa các quốc gia cũng vì vậy chưa thể nào khắc phục được Trong bối cảnh thế giới thay đổi và đứng trước nhiều thách thức như vậy, nếu nước ta muốn rút ngắn được khoảng cách với các nước phát triển và hướng đến mục tiêu năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao thì khâu đột phá đầu tiên phải được tính đến là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng một cách thật hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là phải hết sức tôn trọng nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc Nói cách khác, muốn cho đất nước phát triển chúng ta phải phát hiện sớm người tài để chọn đúng người tài cho từng lĩnh vực của hoạt động xã hội; phải thật sự trọng dụng người tài; phải biết dùng người tài đúng lúc, đúng chỗ và không kém phần quan trọng là có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với người tài nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh, sáng chế, công nghệ, điều hành, quản lý và
tổ chức xã hội Đây chính là phần quan trọng của khâu đột phá trong công tác tổ chức, cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa