1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo luật hình sự việt nam

97 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu
Người hướng dẫn TS. Phan Anh Tuấn
Trường học Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 16,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (11)
    • 1.1. Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực (11)
    • 1.2. Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực (0)
    • 1.3. Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản (26)
  • CHƯƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI (34)
    • 2.1. Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu (34)
    • 2.2. Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn (0)
    • 2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu (40)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

- Một số luận văn có liên quan đến vấn đề định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội XPSH theo Luật Hình sự Việt Nam như: 1 Luận văn Thạc sĩ “Dấu hiệu định tội của tội lạm d

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực

Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), dấu hiệu “dùng vũ lực” là căn cứ định tội của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và là một thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS); đồng thời được thể hiện như dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (Điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (Điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS) và Tội trộm cắp tài sản (Điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS).

Dấu hiệu dùng vũ lực trong các tội phạm nêu trên được hiểu như sau:

(1) Dấu hiệu dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) được hiểu như sau:

Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên người nhằm làm cho nạn nhân không thể chống cự được Hành vi này có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội và phải nhằm vào con người (bao gồm chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài sản hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình) Nếu hành vi dùng sức mạnh tác động lên vật thì không được gọi là hành vi “dùng vũ lực”.

Trong tội cướp tài sản, hành vi dùng vũ lực ở mức độ nguy hiểm có khả năng khiến nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được; hoặc nói cách khác, ý thức chủ quan của người phạm tội nhằm làm cho sự chống cự của nạn nhân không xảy ra, hoặc xảy ra nhưng không thành công, hoặc khiến nạn nhân tê liệt ý chí để không dám chống cự Hành vi dùng vũ lực có thể được thể hiện qua các hình thức như bắn, đánh, trói, chém người đang quản lý tài sản hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt.

(2) Dùng vũ lực là một trong các thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) được hiểu như sau:

Điều 169 của Bộ luật hình sự quy định Tội bắt cóc nhằm mục đích tống tiền hoặc uy hiếp người quản lý tài sản bằng cách bắt cóc người làm con tin, nhằm buộc họ phải giao tài sản Bản chất của hành vi bắt cóc con tin là bắt giữ, giam giữ người một cách trái pháp luật Hành vi này có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, dụ dỗ, mua chuộc hoặc lừa dối.

Như vậy, dùng vũ lực chỉ là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS)

Dùng vũ lực được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt 'hành hung để tẩu thoát' tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản BLHS).

Về mặt lý thuyết, các tội xâm phạm sở hữu xâm phạm quan hệ sở hữu, nhưng khi hành vi dùng vũ lực thể hiện dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” được quy định trong ba tội phạm nêu trên, nó đồng thời xâm phạm nhân thân của người bị hại và làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội so với trường hợp bình thường Vì vậy, dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” được coi là dấu hiệu định khung tăng nặng của các tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản.

Vấn đề tiếp theo là làm rõ khái niệm “hành hung để tẩu thoát” được quy định tại Điều 171, Điều 172 và Điều 173 BLHS năm 2015 như thế nào Việc chưa có sự thống nhất về cách hiểu khái niệm này sẽ khiến chúng ta khó có cơ sở để đánh giá việc áp dụng tình tiết này trên thực tiễn, từ đó lộ ra các vướng mắc và bất cập và cản trở quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự.

Dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” quy định tại quy định các Điều 171, 172,

Nội hàm của Điều 173 BLHS năm 2015 và cách thực thi trên thực tế hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào các văn bản hướng dẫn do các cơ quan tiến hành tố tụng ban hành Những văn bản hướng dẫn này có giá trị pháp lý bắt buộc đối với cơ quan tiến hành tố tụng, nên chúng quyết định cách giải thích và áp dụng Điều 173 trong các vụ án và quá trình tố tụng Các tài liệu khác ngoài các hướng dẫn này chỉ mang tính tham khảo và không có hiệu lực bắt buộc, do đó sự nhất quán trong áp dụng được định hình bởi các hướng dẫn do cơ quan có thẩm quyền ban hành Vì vậy, để nắm vững nội dung và phạm vi áp dụng của Điều 173 BLHS 2015, cần xem xét kỹ lưỡng các văn bản hướng dẫn liên quan và thực tiễn thi hành thay vì chỉ dựa vào tài liệu tham khảo.

Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2001 do Bộ Tư pháp, Bộ Công an, TAND tối cao và VKSND tối cao ban hành nhằm hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999, quy định rõ dấu hiệu "hành hung để tẩu thoát" trong các tội xâm phạm sở hữu và cách nhận diện, từ đó bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nhất quán và phù hợp với mục tiêu bảo vệ sở hữu và trật tự xã hội.

“6 Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1 Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là

"hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Đoạn hướng dẫn này phân tích dấu hiệu 'hành hung để tẩu thoát' trong các tội xâm phạm sở hữu, nhằm làm rõ căn cứ và cách nhận diện khi áp dụng thực tế Dù nội dung hướng dẫn chưa giải quyết được tất cả vướng mắc trong thực tiễn, nó vẫn là cơ sở để thống nhất cách hiểu và áp dụng dấu hiệu này trong các tình tiết của vụ án Việc chuẩn hóa nhận thức về dấu hiệu này giúp tăng tính nhất quán trong quá trình truy tố và xét xử các tội xâm phạm sở hữu.

Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực đòi hỏi dựa vào khái niệm định tội danh; khái niệm này được hiểu là việc xác định và ghi nhận sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội đã thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong hệ thống pháp luật hình sự Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, định tội danh là quá trình xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự trùng khớp giữa hành vi vi phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm được mô tả trong các quy phạm hình sự, từ đó bảo đảm kết luận kết tội phản ánh đúng bản chất của hành vi trong khuôn khổ luật pháp.

Trên cơ sở đó, khái niệm định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có dùng vũ lực thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu được xác định bằng việc đánh giá và ghi nhận sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi này với các dấu hiệu cấu thành tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong luật hình sự.

Võ Khánh Vinh (2013), trong Lý luận chung về định tội danh, cho rằng định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu khi có dùng vũ lực là một trường hợp định tội danh cụ thể; do đó nó có các đặc điểm của định tội danh 2.

Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản

Trong Mục 1.2, các vướng mắc liên quan đến việc xác định đúng tội danh cho hành vi cưỡng đoạt tài sản (CĐTS) trong nhóm tội xâm phạm sở hữu khi có yếu tố dùng vũ lực được phân tích và làm rõ nhằm đảm bảo căn cứ cấu thành tội phạm và áp dụng pháp luật đúng đắn Những thách thức nổi bật tập trung ở việc phân biệt giữa các tội danh liên quan, đánh giá mức độ cưỡng ép và phạm vi xâm phạm, đồng thời làm rõ cách xử lý các yếu tố khách quan và chủ quan để tránh nhầm lẫn hoặc bỏ sót hành vi phạm tội trong hồ sơ vụ án Việc làm rõ những vướng mắc này góp phần tăng tính nhất quán trong quy trình tố tụng, nâng cao hiệu quả truy tố và đảm bảo quyền lợi của bị hại cũng như người bị cáo, đồng thời bảo vệ tính hợp lý của hình phạt phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi.

Thứ nhất, khi CĐTS có dùng vũ lực, cần xác định trường hợp nào có dấu hiệu để định tội trộm cắp tài sản với khung hình phạt "hành hung để tẩu thoát" và trường hợp nào được xử lý chuyển hóa để định tội cướp tài sản Việc đánh giá dựa trên mức độ hung hãn, động cơ và mục đích tẩu thoát sẽ quyết định xem hành vi đó được xử lý như trộm cắp tài sản hay được chuyển hóa thành cướp tài sản.

Trong trường hợp dùng vũ lực khi thực hiện hành vi phạm tội, việc định tội danh phụ thuộc vào yếu tố cấu thành và hậu quả của hành vi Nếu toàn bộ hành vi đáp ứng đầy đủ yếu tố của một tội duy nhất như tội cướp tài sản thì chỉ xử lý bằng một tội danh; ngược lại, nếu hành vi thỏa mãn đồng thời nhiều yếu tố cấu thành của các tội khác nhau, áp dụng pháp luật xử lý về nhiều tội danh (ví dụ: cướp tài sản và cố ý gây thương tích hoặc các tội liên quan khác) Việc phân tách tội danh dựa trên kết quả điều tra, mức độ nguy hiểm cho xã hội và mối liên hệ giữa các hành vi trong vụ án, nhằm xác định đúng bản chất vụ việc và quyền truy cứu trách nhiệm của bị can Cơ quan điều tra và viện kiểm sát sẽ cân nhắc ý định, tính chất của vũ lực, hậu quả và mối liên hệ giữa hành vi cướp tài sản với hậu quả để quyết định gắn một tội danh hay nhiều tội danh.

* Đối với vướng mắc thứ nhất, nguyên nhân của vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau:

Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2001 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, TAND Tối cao và VKSND Tối cao về việc áp dụng các quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999 (viết tắt là TTLT 02/2001), dấu hiệu "hành hung để tẩu thoát" trong các tội xâm phạm sở hữu được hướng dẫn.

“6 Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1 Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã nhằm tẩu thoát

6.2 Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là

"hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Thông tư liên tịch số 02/2001 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bằng cách liệt kê các trường hợp cụ thể của tình tiết “hành hung để tẩu thoát” và của trường hợp chuyển hóa từ “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu sang tội cướp tài sản; chính sự liệt kê đó làm giới hạn phạm vi của tình tiết rất khái quát là “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu và cũng giới hạn của cả trường hợp cướp tài sản là dùng vũ lực nhằm CĐTS; hay nói cách khác, đây là trường hợp mà hình thức (các trường hợp cụ thể của tình tiết “hành hung để tẩu thoát”, trường hợp cụ thể chuyển hóa sang cướp tài sản) không phản ánh được hết nội hàm của tình tiết “hành hung để tẩu thoát” và dấu hiệu “dùng vũ lực nhằm CĐTS” của tội cướp tài sản; do đó, trong thực tiễn, khi gặp trường hợp phạm tội cụ thể mà không rơi vào các trường hợp được liệt kê, Thông tư liên tịch số 02/2001 đã khiến các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng khi xác định trường hợp cụ thể này là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” hay chuyển hóa sang tội cướp tài sản.

Về lý thuyết, tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu và quá trình chuyển hóa tội danh luôn gắn với toàn bộ diễn biến phạm tội từ lúc hành vi chiếm đoạt bắt đầu cho tới khi kết thúc Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 02/2001 lại liệt kê theo từng tội gốc (cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản) để xác định sự chuyển hóa sang tội cướp tài sản: nếu kẻ phạm đã chiếm đoạt được tài sản mà bị nạn nhân hoặc người khác giành lại, và kẻ phạm tiếp tục dùng vũ lực thì sẽ có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.

Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị TAND Tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn mới về tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu, thay thế nội dung hướng dẫn hiện hành tại Thông tư liên tịch số 02/2001 để làm rõ nội hàm của tình tiết này và phân biệt rõ với trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản, từ đó hướng dẫn áp dụng pháp luật một cách nhất quán và phù hợp với thực tiễn xét xử.

Trong các tội xâm phạm sở hữu, dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” xác định trường hợp hành hung nhằm thoát khỏi sự truy đuổi và được xem là hành hung để tẩu thoát; ngược lại, hành hung “để CĐTS” là trường hợp cướp tài sản, không phụ thuộc vào việc nạn nhân hoặc người khác có giành lại tài sản hay không theo Thông tư liên tịch số 02/2001 Trong trường hợp người phạm tội hành hung “để tẩu thoát” và cũng “để CĐTS” thì đây là trường hợp cướp tài sản.

Cơ sở để hướng dẫn nêu trên là quy định của BLHS năm 2015 về dấu hiệu

Liên quan đến các tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS), công nhiên CĐTS (Điều 172 BLHS) và trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS), cũng như dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), BLHS 2015 quy định rằng dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” chỉ gồm sự kết hợp giữa hành hung và để tẩu thoát, không kèm theo điều kiện nào khác; còn để cấu thành tội cướp tài sản theo Điều 168 năm 2015 thì chỉ cần dấu hiệu “dùng vũ lực” (hành hung) kết hợp với dấu hiệu “nhằm CĐTS” (để CĐTS), và không yêu cầu thêm điều kiện khác.

Trong trường hợp hành hung để CĐTS, nghĩa là chuyển hóa sang tội cướp tài sản, dấu hiệu "hành hung" phải có mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của bị hại hoặc của người tham gia đuổi bắt người phạm tội.

Phần cơ sở của hướng dẫn này bắt nguồn từ đặc điểm của hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản: mức độ vũ lực phải ở mức có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự, tức là có khả năng làm cho sự chống cự về mặt thực tế không xảy ra được hoặc xảy ra nhưng không có kết quả hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí, không dám kháng cự Về mặt thực tế, vụ án thứ hai có tình tiết Danh H giật mạnh sợi dây chuyền và xô bà.

Trong vụ án này, hành vi xô ngã khiến nạn nhân ngã xuống nền xi măng chưa được xem là tình tiết sử dụng vũ lực trong tội cướp tài sản, bởi nó không ở mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng cự của bị hại Vì vậy, tình tiết xô ngã được xem là diễn biến khách quan của vụ án, chưa đủ để cấu thành tội cướp tài sản với yếu tố bạo lực.

Thứ ba, tình tiết "hành hung để tẩu thoát" trong các tội xâm phạm sở hữu hoặc "hành hung" chuyển hóa sang tội cướp tài sản phải được hiểu trong phạm vi thời gian mà hành vi chiếm đoạt đã bắt đầu và chưa kết thúc Hành vi chiếm đoạt chưa kết thúc ở đây được hiểu là người phạm tội chưa có khả năng thực tế thực hiện đầy đủ các bước chiếm đoạt hoặc vẫn đang bị ngăn cản trong quá trình thực hiện, tức là hành vi phạm tội đang diễn ra nhưng chưa hoàn tất.

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI

Ngày đăng: 26/12/2022, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN