Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tối cao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy đị
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Khoa luật
=== ===
Nguyễn thị ngọc
một số vấn đề lý luận về tội mua bán
trái phép chất ma túy trong bộ luật hình
sự việt nam năm 1999 thực tiễn tại huyện thanh ch-ơng - nghệ an giai đoạn 2008 - 2011
khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành luật
Vinh - 2012
Trang 2Tr-ờng đại học vinh
Vinh - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Phạm Thị Huyền Sang, trưởng bộ môn Luật hình sự, khoa Luật, trường Đại học Vinh - người đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Luật trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Con xin cảm ơn cha mẹ và gia đình đã sinh ra và nuôi dạy con khôn lớn, luôn bên cạnh động viên và ủng hộ con trên con đường mà con yêu thích
và lựa chọn
Cám ơn các bạn sinh viên khoa Luật khóa 2008-2012 Các bạn đã giúp
đỡ ủng hộ, cũng như đóng góp nhiều ý kiến quý báu, qua đó giúp mình hoàn thiện khóa luận tốt hơn
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng chắc hẳn khóa luận của em vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều những ý kiến đánh giá quý, phê bình của quý thầy cô, của anh chị và các bạn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 5
1.1 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy 5
1.1.1 Khái quát về ma túy 5
1.1.2 Phân loại các chất ma túy 6
1.1.3 Ảnh hưởng của ma túy đối với con người và xã hội 9
1.1.4 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Chương XVIII, Điều 194 Bộ luật Hình sự 12
1.2 Các dấu hiệu pháp lí về tội mua bán trái phép chất ma túy 13
1.2.1 Khách thể tội mua bán trái phép chất ma túy 13
1.2.2 Mặt khách quan tội mua bán trái phép chất ma túy 15
1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm 17
1.2.4 Chủ thể tội mua bán trái phép chất ma túy 18
1.3 Đường lối xử lý đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 19
1.3.1 Phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung 19
1.3.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng 20
1.4 Nhận xét 30
Chương 2 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2008 - 2011 33
2.1 Khái quát chung về tỉnh Nghệ An 33
2.2 Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An 34
2.3 Tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 37
2.3.1 Tình hình kinh tế - xã hội, đăc điểm địa lý của Thanh Chương 37
Trang 52.3.2 Tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện
Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 38
2.3.3 Thực tiễn xét xử tội mua bán trái phép chất ma túy ở huyện Thanh Chương trong giai đoạn 2008 - 2011 43
2.3.4 Nguyên nhân của tình trạng mua bán trái phép chất ma túy tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 46
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM NÀY 50
3.1 Những giải pháp chung cho tội phạm ma túy 50
3.1.1 Nhóm biện pháp giảm cung ma túy 50
3.1.2 Các biện pháp giảm cầu về ma túy 51
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An 52
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chỉ đạo của chính quyền địa phương với công tác phòng, chống các tội phạm về ma túy 52
3.2.2 Tăng cường các biện pháp về kinh tế - xã hội 52
3.2.3 Tăng cường, củng cố hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật 54
3.3 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 55
3.4 Một số giải pháp khắc phục tình trạng mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 57
3.4.1 Các giải pháp mang tính chuyên môn nghiệp vụ 57
3.4.2 Các biện pháp đấu tranh mang tính xã hội 58
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BLHS: Bộ luật Hình sự
2 BCA : Bộ Công an
3 BTP: Bộ tư pháp
4 CHDCND: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
5 CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hoá
6 UBND: Ủy ban nhân dân
7 TAND : Tòa án nhân dân
8 TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
8 TNHS: Trách nhiệm hình sự
9 TTLT: Thông tư liên tịch
10 TTATXH: Trật tự an toàn xã hội
Trang 7là thứ hàng hóa “hấp dẫn” mang lại “siêu lợi nhuận”, đồng thời cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm, làm băng hoại đạo đức, lối sống trong
xã hội, làm biết bao gia đình bất hạnh, đau khổ
Ở Nghệ An nói chung và trên địa bàn huyện Thanh Chương nói riêng, với đặc điểm vị trí đia lý hiểm trở, trình độ dân trí lại thấp nên làm cho các tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng cả về số vụ phạm tội cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về mua bán trái phép chất ma túy Hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ Song do ham lời bất chính, coi thường pháp luật và đạo lý, vẫn có rất nhiều người hàng ngày, hàng giờ dùng mọi thủ đoạn để buôn bán thứ hàng hóa chết người đó Ma túy đã trở thành một “quốc nạn” tác động trực tiếp vào từng cá nhân, từng gia đình và toàn xã hội Ma túy kéo theo một loạt các tội phạm như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản… và rất nhiều các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS
Vì vậy, đấu tranh phòng chống ma túy là vấn đề cấp bách được Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế, xã hội cho miền núi nhằm đẩy lùi tiến tới xóa bỏ tệ nạn ma túy Các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy đã
bị xử lý bằng những hình phạt rất nghiêm khắc Tuy nhiên, thực tiễn cho
Trang 8thấy cỏc tội phạm về ma tỳy núi chung, tội phạm mua bỏn trỏi phộp chất ma tỳy núi riờng vẫn khụng ngừng diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm
Vỡ cỏc lý do trờn, em quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận về
tội mua bỏn trỏi phộp chất ma tỳy trong BLHS Việt Nam năm 1999 Thực tiễn tại huyện Thanh Chương - Nghệ An giai đoạn 2008 - 2011” làm khoỏ
luận tốt nghiệp đại học của mỡnh
Ma tỳy đang là vấn đề toàn cầu thu hỳt được nhiều người nghiờn cứu Trong thời gian qua hàng loạt cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu, cỏc bài luận ỏn tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ nghiờn cứu về ma tỳy trong đú cú cỏc cụng trỡnh nổi bật:
“Đấu tranh, phũng chống cỏc tội phạm về ma tỳy trờn địa bàn tỉnh
Nghệ An” của Nguyễn Lương Hoà, luận văn thạc sĩ luật học năm 2003
“Đấu tranh, phòng chống tội phạm về ma tỳy trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay” của Phú Chỏnh ỏn Nguyễn Trọng Sơn - TAND
huyện Thanh Chương
“Hiểm họa ma tỳy và cuộc chiến mới” của GS TS Nguyễn Xuõn Yờm,
Trang 9Các công trình kể trên thường được các tác giả nghiên cứu ở những phương diện và góc độ khác nhau: tội phạm học, hình pháp học, luật học
Nhưng công tác đấu tranh phòng chống ma túy ngoài những đặc điểm chung thì ở mỗi địa phương lại có những đặc điểm riêng như: địa lí, kinh tế,
xã hội, tập quán, phương thức thủ đoạn khác nhau Hơn thế nữa Nghệ An đang là một địa bàn phức tạp về ma túy, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc ít người Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Ở góc độ khóa luận tốt nghiệp, mục đích của khóa luận là nghiên cứu một cách tổng quát nhất về tội mua bán trái phép chất ma túy về mặt lý luận cũng như nghiên cứu loại tội phạm này thực tiễn trên địa bàn huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An Qua việc phân tích các dấu hiệu pháp lý và đưa ra các số liệu cụ thể về mua bán trái phép ma túy trên địa bàn huyện để phân tích
và làm rõ một số vấn đề liên quan, khóa luận đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này ở giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của khóa luận là:
Về mặt lí luận: Phân tích các khía cạnh pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy Điều 194 BLHS Việt Nam 1999
Về mặt thực tiễn: Phân tích tình hình tội phạm, thực tiễn xét xử tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Thanh Chương nói riêng Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm này
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là một số vấn đề lí luận và thực
tiễn về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Trang 10Phạm vi nghiên cứu khóa luận là tình hình tội phạm về mua bán trái
phép chất ma túy trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An từ năm
2008 - 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về đấu tranh phòng chống tội phạm, có sử dụng các văn bản pháp luật, các báo cáo tổng kết xét xử, các tài liệu trong nước có liên quan
Khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, xã hội học Trong đó, phương pháp phân tích là chủ đạo nhằm đi sâu hơn vào vấn đề cần nghiên cứu
6 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 - BLHS
Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
Chương 2: Tội mua bán trái phép chất ma túy - Một số vấn đề thực
tiễn tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác phòng chống tội phạm này trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Trang 11
NỘI DUNG Chương 1 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy
1.1.1 Khái quát về ma túy
Từ xa xưa, con người đã phát hiện và biết cách sử dụng các chất ma túy Sau đó, ma túy tồn tại, phát triển và không ngừng lan rộng, trở thành một vấn đề lớn mà cả thế giới quan tâm Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa chung nhất về ma túy Xuất phát từ lập trường quan điểm và nghề nghiệp khác nhau, con người có sự giải thích khác nhau về loại chất này
Từ góc độ y học, năm 1982, Tổ Chức Y tế thế giới định nghĩa về ma túy như sau: “Ma túy theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp khác nhau với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật ”
Theo quan điểm tổng hợp chung các ý kiến từ các văn bản pháp luật:
“Ma túy được lý giải một chất đặc biệt, có hại nghiêm trọng đến con người và
xã hội, thuộc chất bị cấm, là loại hàng hoá bị pháp luật quản lý nghiêm ngặt
và khống chế sử dụng”
Ngày nay, ngoài sản phẩm của các cây có trong tự nhiên, ma túy còn được tổng hợp bằng các chất hoá học trong phòng thí nghiệm, do vậy khái niêm về ma túy càng trở nên phức tạp
Trên góc độ pháp luật thì thuật ngữ “ma túy ” lần đầu tiên được quy định tại điều 230 của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, với tội danh “Tổ chức sử dụng chất ma túy” Ngày 28/12/1989, Quốc Hội nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật hình sự, trong đó các hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển
Trang 12trái phép chất ma túy được quy định thành một điều luật riêng tai điều 96a nằm ở mục B, thuộc chương “Các tội phạm an ninh quốc gia”
Tại Thông tư liên ngành số 07 ngày 05/12/1992 của Tòa án nhân dân Tối cao và Bộ nội vụ (nay là Bộ Công An) đã hướng dẫn việc áp dụng điều 96a và điều 230 Bộ luật hình sự năm 1985 sửa đổi năm 1989, trong đó các chất ma túy được giải thích như sau: “Các chất ma túy nêu ở điều 96a bao gồm thuốc phiện và các chất ma túy khác như: Cần sa, heroin, Morphine, Cânbis, Pentanyl, Pethy dine…
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định các chất ma túy bao gồm: Nhựa cần sa, lá cây cô ca, quả thuốc phiện khô, tươi, heroin, côcain, các chất
ma túy khác ở thể lỏng và thể rắn
Điều 2, Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội nước Cộng Hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/12/2000 tại kỳ họp thứ 8, khoá X, quy định:
“Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần quy định trong các danh mục do Chính Phủ ban hành
Chất gây nghiện là chất kích thích, hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng”
Như vậy chúng ta có thể hiểu về ma túy như sau: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người đó Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho con người sử dụng và cộng đồng
1.1.2 Phân loại các chất ma túy
Phân loại ma túy là phân chia các chất ma túy ra từng nhóm khác nhau, dựa trên những căn cứ nhất định và tuỳ theo từng phương pháp, đối tượng nghiên cứu mà có cách thức phân loại các chất ma túy cho phù hợp Có nhiều cách phân loại nhưng nhìn chung có một số cách phân loại cơ bản sau đây
Trang 13Căn cứ vào nguồn gốc ma túy thì ma túy được chia thành 3 nhóm:
- Ma túy tự nhiên là các chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên, có được bằng cách thu hái từ các cây trong tự nhiên hoặc nuôi trồng
- Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được điều chế từ các chất là sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hoá chất để thu được chất ma túy có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu
- Ma túy tổng hợp là các chất ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học toàn phần từ các hoá chất Các chất ma túy tổng hợp có tác dụng mạnh và nhanh hơn ma túy tự nhiên và ma túy bán tổng hợp
Căn cứ vào khả năng bị lạm dụng, mức độ gây nghiện, ma túy được phân chia làm 2 loại:
- Ma túy có hiệu lực cao là ma túy khi sử dụng một lượng nhỏ và chỉ vài lần sử dụng có thể gây nghiện Khi cai thường gây ra những rối loạn nghiêm trọng về sinh lý Ví dụ như amphetamin, monthphetamin, heroin
- Ma túy có hiệu lực thấp là ma túy khi sử dụng một lượng lớn và nhiều lần mới gây nghiên, Ví dụ như thuốc phiện, côcainn, cần sa
Theo thông tư liên nghành số 01 ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Nộ Vụ (nay là Bộ Công An) thì
ở nước ta có 247 chất ma túy và tiền chất, được chia thành 4 bảng theo quy định của công ước quốc tế:
- Bảng 1: Gồm 44 chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng
- Bảng 2: Gồm 113 chất ma túy rất độc, dùng hạn chế trong y học và nghiên cứu khoa học
- Bảng 3: Gồm 68 chất ma túy hướng thần
- Bảng 4: Gồm 22 tiền chất là những chất có thể sản xuất ra ma túy Hiện nay, ở Việt Nam thường gặp một số loại ma túy sau:
* Cây thuốc phiện:
Còn được gọi là cây Anh túc, cây á phiện, a phù dung, có tên khoa học
là PAPA VER SOMNIFERUM, có tồn tại trong thiên nhiên trên 100 loài thảo
Trang 14mộc họ Papaveracea, trong đó có nhiều loài có khả năng sản xuất được Moocphin với hàm lượng cao Trên thế giới được trồng chủ yếu ở Đông Nam
Á, Trung Á, ở Việt Nam được trồng nhiều nhất ở Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An…
Thuốc phiện là nhựa của cây thuốc phiện, gồm có 3 loại:
- Thuốc phiện sống: Là sản phẩm chưa tinh chế từ cây thuốc phiện, có màu nâu đen, màu cánh gián dẻo hoặc nhão
- Thuốc phiện chín: Là chất dính, có màu đen, nặng và chắc, được làm
ra sau nhiều công đoạn xử lý thuốc phiện sống (ví dụ như rút nước…)
- Xái thuốc phiện: Là chất còn lại trên bàn đèn sau khi hút, xái này vẫn còn chứa Moocphin
* Cây cần sa:
Còn gọi là cây gai dầu, lanh mèo, gai mèo, đài ma, bồ đà, có tên khoa học là Canabis Sativa, thuộc họ Canabinaceae, là cây thảo mộc có thân mỏng thẳng, nhiều cành, cành mọc nhiều nhánh
Các hình thức Cần sa bao gồm:
Cần sa thảo dược: Có màu xanh hoặc hơi đỏ, thường ở dạng không kết dính hoặc kết dính, được sử dụng bằng hình thức hút
Nhựa Cần sa: Là chất lấy ra từ cây Cần sa tươi, có màu nâu hoặc đen,
ở dạng bột mịn hoặc ép thành miếng, được sử dụng bằng cách hút trực tiếp hoặc bỏ vào thức ăn
Tinh dầu Cần sa: Là nồng độ cần sa sau khi chiết xuất, là chất nhựa có màu hơi đỏ, nâu hoặc xanh, được sử dụng bằng cách nhỏ vào giấy thuốc lá để hút hoặc uống trực tiếp
* Cây cô ca:
Có tên khoa học là Ery Thoro Xylon - Cô ca lam, thuộc họ Ery Thoro xilanxeae Cô ca là cây thân gỗ, lá đơn tròn, to, hình bầu dục Thân cây cao tới 6m, lá mọc so le, cuống ngắn, có 2 lá nhỏ kèm 2 bên biến đổi thành gai Hoa nhỏ mọc đơn hoặc 3, 4 chiếc ở kẽ lá Quả hình trứng, khi chín có màu đỏ, mỗi quả chứa một hạt có nôi nhũ
Trang 15* Amphetamin và các chất dẫn xuất:
Amphetamin thuộc nhóm chất kích thích được sản xuất trong các phòng thí nghiệm ở dạng bột, viên nén và viên con nhộng, ống tiêm hoặc trong một số trường hợp tẩm vào giấy để đem đi tiêu thụ Có khoảng trên 10 chất dẫn xuất của Amphetamin khác nhau về công thức và tính chất hoá học, song giống vè nhau về tính chất dược lý và khả năng kích thích gây nghiện
Nó được sản xuất cách đây vài chục năm ở Canada và Hoa Kỳ
* Babiturat và các thuốc an thần:
Babiturat là nhóm thuốc an thần chống co giật, trong y tế thường được
sử dụng làm thuốc ngủ Chúng là các chất gây nghiện đồng thời nếu dùng lâu hoặc quá liều sẽ gây triệu chứng như mất trí nhớ, nói ngọng, ảo giác hoặc tổn thương cho hệ tuần hoàn Sử dụng liều quá cao có thể bị ngộ độc và dẫn đến
tử vong Ngoài Babiturat còn có các loại thuốc an thần như: Methaqualon, Mecelaqualon, Benzodiazepin, chúng có tác dụng ức chế thần kinh làm giảm hoạt động về thể chất và tinh thần
Tóm lại, tất cả các chất nói trên đều là nguồn gốc của ma túy Nó đều
có tính chất kích thích thần kinh và gây nghiện cho người sử dụng, đồng thời làm thay đổi trạng thái tâm lý của cơ thể Tất cả các chất trên, khi sản xuất, mua bán, tàng trữ, vân chuyển đều phải được Nhà nước quản lý và kiểm soát một cách chặt chẽ
1.1.3 Ảnh hưởng của ma túy đối với con người và xã hội
Có thể nói ma túy là một thảm hoạ lớn đối với nhân loại Khi đã nghiện
ma túy gây nên những hậu quả khôn lường cho bản thân, gia đình và xã hội Qua một số công trình nghiên cứu có thể nhận thấy rằng ma túy có những tác hại cơ bản:
* Nghiện ma túy:
Hiện nay chưa có một khái niệm đầy đủ về nghiện ma túy Có người cho rằng nghiện ma túy cũng như nghiện một số chất kích thích khác như: Rượu, thuốc lá, cà phê, chè và xem đó như là một thói quen, một sở thích
cá nhân
Trang 16Khái niệm nghiện ma túy có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp
- Về nghĩa rộng: Nghiện ma túy là tình trạng một bộ phận dân cư trong
xã hội, gồm những người có thói quen sử dụng chất ma túy
- Về nghĩa hẹp: Nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các chất ma túy, gây nên tâm trạng thèm muốn, khao khát vô độ, dẫn đến hành động một cách mù quáng, mất hết lý trí, gây nên tổn thất lơn lao cho chính bản thân và cộng đồng
Người nghiện ma túy, hay còn gọi là đối tượng nghiện (con nghiện) là người thường xuyên sử dụng ma túy để thoả mãn sự thèm muốn và thói quen của mình, đó là những người luôn bị phụ thuộc, trói buộc bởi tình trạng tâm lý khát khao, thèm muốn và sự đam me đáng sợ Khi lên cơn nghiện, con người
sa vào tình trạng khốn quẫn mất hết phương hướng, thậm chí mất hết tính người Người nghiện tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu của cơ thể và người sử dụng ma túy ngày càng tăng liều dùng và sự lệ thuộc vào chất ma túy rất khó cai một cách triệt để
* Ma túy với sức khoẻ và gia đình:
Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiêù bệnh tật, tác động xấu tới sức khoẻ của con người Những người nghiện ma túy thể chất và tinh thần bị huỷ hoại, trí nhớ bị suy giảm Một số đối tượng tỏ ra sợ sệt, chán chường, mệt mỏi, thất vọng và luôn có mặc cảm lầm lỗi, khổ tâm đối với người xung quanh mình Một số đối tượng khác sẵn sàng gây tội ác và làm bất cứ điều gì, miễn là có ma túy để thoả mãn cơn nghiện Khi lên cơn nghiện, họ đau đớn, vật vã, có khi dẫn đến tử vong
Gia đình là tế bào của xã hội, mái ấm gia đình là thiêng liêng đối với mỗi con người Tệ nạn ma túy phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm cho gia đình tan nát, nhiều người nghiện ma túy đánh đập vợ con, chém giết bố mẹ, ông bà
để đòi tiền hút, chích ma túy
Trang 17* Ma túy và AIDS:
Hiện nay, AIDS đang là một căn bệnh thế kỷ, nó trở thành hiểm hoạ đe doạ toàn nhân loại Bệnh AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch, làm cho cơ thể con người không còn khả năng chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ
Vi rút HIV chính là nguyên nhân làm phá huỷ hệ thống miễn dịch đó Bệnh AIDS có tốc độ lây lan khủng khiếp, chủ yếu qua các con đường tiêm chích
ma túy, quan hệ tình dục hoặc từ mẹ sang con
Vì vậy, ngăn chặn tệ nạn nghiện ma túy và các tội phạm vè ma túy là góp phần ngăn chặn căn bệnh HIV/AIDS một cách có hiệu quả
* Ma túy với tội phạm và trật tự an toàn xã hội:
Do ma túy la mặt hàng siêu lợi nhuận nên các tội phạm vè ma túy ngày càng gia tăng và phát triển rộng khắp, trở thành vấn đề toàn cầu Phương thức hoạt động của các tổ chức tội phạm này rất tinh vi, xảo quyệt và quyết liệt Tội phạm ma túy được trang bị các phương tiện và vũ khí hiện đại, sẵn sàng thủ tiêu những tên phản bội, khủng bố trả thù những người tham gia công tác phòng chống các tội phạm về ma túy; đồng thời mua chuộc, lôi kéo một số cán bộ pháp luật phục vụ cho hoạt động của chúng
Ngoài những tội phạm về ma túy, tệ nạn ma túy cũng là nguyên nhân, điều kiện để các loại tội phạm khác gia tăng Để có tiền sử dụng ma túy, nhiều người nghiện ma túy đã trộm cắp, giết người, cướp tài sản… Nơi nào có nhiều người nghiện ma túy thì tình hình trật tự an toàn xã hội nơi đó không được đảm bảo, cuộc sống bình yên của mỗi gia đình và cộng đồng bị
đe dọa
Nghiện ma túy và mại dâm luôn là bạn đồng hành, mại dâm tìm đến ma túy, ngược lại, các đối tượng nghiện ma túy tìm đến mại dâm đẻ thoả mãn tình dục do các chất ma túy kích thích gây nên Ngoài ra, ma túy còn là nguyên nhân của nhiều loại tệ nạn xã hội khác
Tóm lại, ma túy và tội phạm ma túy có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống con người, nó thực sự là một thảm hoạ đối với từng
Trang 18cá nhân và toàn xã hội Điều quan trọng là chúng ta phải nhận thức được tác hại của nó và tìm ra những biện pháp hữu hiệu, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội, đem lại sự bình yên cho nhân loại
1.1.4 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Chương XVIII, Điều 194 Bộ luật Hình sự
Tội mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi cố ý trao đổi các chất
ma túy bằng tiền hay hiện vật trái với các quy định của Nhà nước
Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tối cao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại
Chương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì
"Mua bán trái phép chất ma túy" là một trong các hành vi sau đây:
- Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;
- Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);
- Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất
ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;
- Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
- Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác
Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy nói trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy (với vai trò đồng phạm)
Trang 191.2 Các dấu hiệu pháp lí về tội mua bán trái phép chất ma túy
1.2.1 Khách thể tội mua bán trái phép chất ma túy
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại Có thể nói, trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Ở các chế độ
xã hội khác nhau thì các quan hệ xã hội được bảo vệ cũng khác nhau Hệ thống quy phạm pháp luật hình sự luôn là công cụ hữu hiệu để Nhà nước bảo
vệ các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
Điều 6 Hiến pháp 1992 đã quy định “Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa bệnh xã hội
nguy hiểm”
Hiện nay, việc sản xuất một số chất ma túy chủ yếu được tiến hành trong lĩnh vực y tế nhằm mục đích chữa bệnh Hoạt động này được quy định
chặt chẽ từ khâu quản lý, sản xuất đến buôn bán và sử dụng
Điều 3 Luật phòng chống ma túy 2000 cũng quy định cấm các hành vi liên quan đến ma túy như: trồng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán… các chất ma túy
Khách thể chung của các tội phạm về ma túy là chế độ quản lí nhà nước về ma túy ở tất cả các khâu, các quá trình quản lí Các tội phạm này có đối tượng là các chất ma túy và các vật dụng phục vụ sản xuất và sử dụng chất ma túy
Như vậy, tội mua bán trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, trực tiếp là chế độ quản lý của Nhà
nước về việc trao đổi chất ma túy Không những thế nó còn góp phần tạo ra
một lớp người nghiện trong xã hội, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự
công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của xã hội
Trang 20Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm
bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Đối tượng tác động của tội mua bán trái phép chất ma túy là các chất
ma túy bao gồm các chất ma túy theo nghĩa hẹp, các chất hướng thần, các tiền chất ma túy và hướng thần (gọi tắt là các tiền thần ma túy); các cây trồng hoặc nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy
Theo Nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 và Nghị định 133/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy bao gồm 228 chất chia thành 3 danh mục và 40 hóa chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy
Một chất nào đó là ma túy thì chất đó phải có các đặc điểm:
- Được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành, nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp
- Là chất độc gây nghiện
- Khi thâm nhập vào cơ thể con người thì làm biến đổi một số chức
năng thần kinh, làm cho người nghiện phụ thuộc cả về thể xác lẫn tinh thần…
Theo Thông tư liên tịch số 17/2007 của Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tư pháp ngày 24/12/2007 về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999 quy định:“Chất ma túy” là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành Trong đó, cần phân
biệt các trường hợp sau:
- Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch hêrôin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn
bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng
moócphin trong dung dịch để tính trọng lượng của chất ma túy đó;
Trang 21- Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác định hàm lượng moócphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của
thuốc phiện
1.2.2 Mặt khách quan tội mua bán trái phép chất ma túy
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm, không có mặt khách quan thì sẽ không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy không có tội phạm Mặt khách quan được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại
bên ngoài thế giới khách quan
Mặt khách quan bao gồm các yếu tố:
- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
- Các điều kiện khác bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội
(công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…)
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản, những biểu hiện của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành
vi khách quan, không có hành vi khách quan thì không có tội phạm
Mua bán dân sự là quyền của mỗi công dân Song ma túy là loại hàng hóa Nhà nước độc quyền quản lý nên mọi hành vi trao đổi ma túy trái với các quy
định của pháp luật đều bị coi là mua bán ma túy trái phép, bị coi là tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm về ma túy tuy khác nhau về hình thức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưng giống nhau
ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về chế độ quản
lí nhà nước về ma túy Đó có thể là những hành vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm các cá nhân làm (như hành vi khách quan của các tội quy định
từ Điều 192 - Điều 200 BLHS) hoặc có thể là những hành vi của những người
có trách nhiệm được Nhà nước giao cho thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định về quản lí, sử dụng chất
Trang 22ma túy (như hành vi khách quan của tội “cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 200 BLHS)
Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tối cao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi mua bán trái phép chất ma túy được thực hiện dưới những hình thức như: Bán trái phép chất ma tuỷ cho người khác, mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác, xin chất ma túy nhằm bán trái prhép cho người khác, tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác, vận chuyển chất ma túy đem bán cho người khác
Thông thường, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bao giờ cũng bao gồm nhiều giai đoạn, trong đó có giai đoạn cất giữ (tàng trữ) và vận chuyển chất ma túy Đó là các bước tất yếu của một quá trình mua bán Bởi không phải lúc nào người mua ma túy cũng có thể bán lại ngay lập tức chất ma túy
đó cho người khác Đôi khi người ta phải tàng trữ chất ma túy để dự trữ hàng, tìm thời điểm thích hợp để bán hoặc vận chuyển chất ma túy đến địa điểm thuận lợi để bán Vì vậy khi một người cất giữ hoặc vận chuyển trái phép chất
ma túy bán chất ma túy đó thì dù đã bán được ma túy hay chưa người đó cũng
bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy Trong trường hợp này không cần xử lý thêm về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy nữa.Tuy nhiên cần phải chứng minh được mục đích của người đó là nhằm bán trái phép chất ma túy Trách nhiệm này thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và
người tiến hành tố tụng
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành
vi kể trên
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan
hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Đó có thể là thiệt hại về vật
chất, thể chất hoặc tinh thần…
Trang 23Các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội… không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán trái phép chất ma túy
1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm là thể thống nhất của mặt khách quan và mặt chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn luôn gắn liền
với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm động cơ phạm tội, mục đích phạm tội và lỗi của người phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ CTTP nào Tội mua
bán trái phép chất ma túy cũng không phải là ngoại lệ
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho
xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi khi hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Lỗi trong luật Hình sự Việt Nam là lỗi cá nhân, lỗi của con người cụ thể khi thực hiện hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội Khoa học luật Hình sự phân chia thành các hình thức lỗi: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả (quy định tại Điều 9 và Điều 10
BLHS 1999)
Pháp luật bảo hộ quyền mua bán của mỗi cá nhân Tuy nhiên đối tượng của hành vi mua bán phải là tài sản được phép giao dịch Ma túy là loại “hàng hoá” đặc biệt, được Nhà nước độc quyền quản lý Vì vậy mọi hành vi mua
bán ma túy không được sự cho phép của Nhà nước đều bị coi là có lỗi
Trang 24Lỗi của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là lỗi cố ý trực tiếp Về ý chí, người phạm tội nhận thức được hành vi mua bán ma túy là hành
vi trái pháp luật, họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác nhưng họ vẫn thực hiện hành vi mua bán ma túy Về lý chí, người phạm tội nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy gây
hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó phát sinh
Tuy nhiên, tội mua bán trái phép chất ma túy là tội có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc Do vậy vấn đề có thấy trước hay không thấy trước hậu quả thường không được đặt ra khi xem
xét lý trí của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp
Có nhiều động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và họ còn có nhiều mục đích khác nhau khi thực hiện hành vi này Tuy nhiên động cơ mục đích không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Nên vấn đề động cơ và
mục đích không cần phải xét đến
1.2.4 Chủ thể tội mua bán trái phép chất ma túy
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ
tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999, đối chiếu với tội mua bán trái
trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi mua bán trái phép chất ma túy cần phải chú ý [6]
- Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành
vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất
Trang 25ma túy của các lần cộng lại dưới mức tối thiểu hoặc không xác định được tổng trọng lượng các chất ma túy của tất cả các lần đã đến mức tối thiểu theo quy định tại các điểm g, h, i, k, l, m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì họ không
phải chịu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành
vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất
ma túy của các lần cộng lại từ mức tối thiểu quy định tại các điểm g, h, i, k, l,
m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì phụ thuộc vào tổng trọng lượng chất ma túy được xác định trong từng trường hợp cụ thể, mà họ phải bị xét xử theo khoản tương ứng (khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4) quy định tại Điều 194 Tuy nhiên
trong trường hợp này cần phân biệt:
Trường hợp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên và trọng lượng chất ma túy của mỗi lần thuộc trường hợp quy định tại các điểm g, h, i, k, l,
m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì tùy thuộc vào loại chất ma túy mà họ phải
bị áp dụng điểm tương ứng và điểm b “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản
2 Điều 194
Trường hợp người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên và trọng lượng chất ma túy của mỗi lần thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 194 thì cùng với việc phải bị xét xử theo khoản tương ứng, họ còn phải bị áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1
Điều 48
1.3 Đường lối xử lý đối với tội mua bán trái phép chất ma túy
1.3.1 Phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung
Khoản 1 Điều 194 là cấu thành cơ bản của tội mua bán trái phép chất
ma túy, đó là các trường hợp phạm tội mua bán trái phép chất ma túy không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 (phạm tội
Trang 26không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung) Khoản 1 Điều 194
quy định “người nào…mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù có thời
hạn từ 2 năm đến 7 năm”
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều
194 Bộ luật Hình sự, tòa án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình
phạt tại chương VII Bộ luật Hình sự (từ Điều 45 - Điều 54)
Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 thì tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt: Tòa án có thể quyết định
hình phạt dưới 2 năm từ nhưng không được dưới 3 tháng tù
Khoản 1 Điều 185đ của BLHS 1985 quy định hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm Như vậy khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn BLHS 1985 Do đó, đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thực hiện trước 0h00 ngày 01/07/2000 mà sau 01/07/2000 mới phát hiện xử lý thì
áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS 1999
1.3.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng
Theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự “phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ bảy đến mười lăm năm”
Có tổ chức (điểm a khoản 2)
Theo khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ với những người cùng thực hiện
tội phạm.”
Mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức là trường hợp có nhiều người
cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu Đây thường là nhóm tội phạm được hình thành theo phương hướng lâu dài bền vững, chúng có điều kiện chuẩn bị các công cụ, phương
tiện đầy đủ chu đáo
Trang 27Trong phạm tội có tổ chức thường có các dạng người như người
tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức được quy định rõ
theo khoản 2 Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999
Phạm tội nhiều lần (điểm b khoản 2)
Mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần là đã hai lần mua bán trái phép chất ma túy trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời trong số các lần phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu TNHS về tổng số lượng các chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt
Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau:
- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng trong đó có một lần chưa tới mức truy cứu TNHS
- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy trong đó đã có một lần bị kết án hoặc được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt
- Người phạm tội có hai lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng mỗi lần thực hiện một hành vi khác nhau (ví dụ: một lần vận chuyển trái phép chất ma túy, một lần mua bán trái phép chất ma túy)
- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng một lần bị xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm c khoản 2)
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán trái phép chất ma túy
là người có chức vụ, quyền hạnh trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang… đã sử dụng vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn của mình trong cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy
Ví dụ: A là trưởng công an phường, trong một lần đi công tác ở Điện Biên, A đã lợi dụng chức vụ của mình câu kết với các đối tượng mua bán ma
Trang 28túy ở Điện Biên để mua ma túy với giá rẻ về bán lại cho một số người ở khu vực A sống
Nếu có chức vụ, quyền hạn nhưng việc phạm tội không liên quan
gì đến chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp này
Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức (điểm d khoản 2)
Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy
là trường hợp người phạm tội lợi dụng cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để mia bán trái phép chất ma túy
Trường hợp này người phạm tội nhân danh cơ quan, tổ chức mà mình
là thành viên để mua bán trái phép chất ma túy Còn trường hợp lợi dụng chức
vụ, quyền hạn là người phạm tội nhân danh cá nhân với chức vụ, quyền hạn
cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy
Vận chuyển, mua bán qua biên giới (điểm đ khoản 2)
Mua bán ma túy qua biên giới là mua, bán, trao đổi thanh toán chất ma túy qua biên giới nước CHXHCN Việt Nam với nước ngoài
Người nào vận chuyển ma túy qua biên giới cho người khác mà biết mục đích của người đó là mua bán trái phép chất ma túy thì cũng bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới với vai trò là người giúp sức trong đồng phạm
Tội phạm chỉ hoàn thành khi người phạm tội đã mua bán trái phép chất
ma túy qua biên giới Nếu mục đích của người phạm tội là mua bán qua biên giới nhưng chưa mua bán qua biên giới được thì không coi là mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới (việc xác định mục đích mua bán qua biên giới trong trường hợp này cũng rất khó khăn)
Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em (điểm e khoản 2)
Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội là trường hợp người phạm tội đã
dụ dỗ, mua chuộc, hăm dọa khống chế, lôi kéo… người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy Nếu trẻ em chưa tới mức bị truy cứu TNHS thì người phạm tội vẫn bị coi là sử dụng trẻ em vào việc phạm tội
Trang 29Bán ma túy cho trẻ em là dùng ma túy mà mình có được dưới bất
kỳ hình thức nào để bán cho người dưới 16 tuổi để lấy tiền hoặc lấy tài sản
Nếu người phạm tội chỉ sử dụng trẻ em vào việc phạm tội thì chỉ bị truy cứu TNHS về tình tiết sử dụng trẻ em vào việc phạm tội Nếu người phạm tội chỉ bán ma túy cho trẻ em thì chỉ bị truy cứu TNHS về tình tiết bán ma túy cho trẻ em
Đ189đ BLHS 1985 quy định: “Sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm pháp” còn khoản 2 Điều 194 BLHS 1999 quy định: “Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em” là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy đối với hành vi sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em xảy ra trước 0h00 ngày 01/07/2000 mà sau 0h00 ngày 01/07/2000 mới bị phát hiện xử lý thì không áp dụng tình tiết này
Khi áp dụng tình tiết cần phải chú ý:
- Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy hoặc mua chất ma túy trái phép thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS thì bị coi là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 194 thì không coi là mua bán trái phép chất ma túy
Ví dụ: A nợ B 10 triệu đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên đến
ngày trả nợ A vẫn không thanh toán được cho B B đã ép A phải cho con trai
A là C (13 tuổi) đến làm cho B để trả nợ Hàng ngày khi có khách gọi điện mua hêrôin, B đều bắt C mang hêrôin đến điểm hẹn giao hàng và mang tiền
về cho B Hành vi của A bị truy tố theo tình tiết định khung “sử dụng trẻ em vào việc phạm tội”
Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng của chất ma túy quy định tại một trong các điểm
từ điểm… đến điểm… khoản… điều này (điểm o khoản 2, điểm h khoản
3, điểm h khoản 4)
Trang 30* Trường hợp các chất ma túy đó đều có trọng lượng dưới mức tối thiểu quy định tại khoản 2 thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định như sau:
Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy
so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng trong quy định tại khoản 2
Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại
với nhau
Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm
về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100% thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 1, nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất
ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo tình tiết định khung: “có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm o khoản 2
* Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng một điểm của khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 thì cộng trọng lượng của các chất ma túy đó lại với nhau và so sánh với quy định về trọng lượng trong điều luật tương ứng để truy cứu
TNHS người phạm tội theo khoản nào phù hợp của điều luật đó
Ví dụ: Một người mua bán 300g nhựa thuốc phiện và 300g nhựa cần sa
Do nhựa thuốc phiện và nhựa cần sa được quy định trong cùng điểm g khoản
2, điểm a khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 194 nên chỉ cần cộng trọng lượng nhựa thuốc phiện và nhựa cần sa là 300g + 300g = 600g Đối chiếu với quy định về trọng lượng trong Điều 194, thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm g khoản 2 Điều 194
* Trường hợp các chất ma túy đó có trọng lượng tại các điểm khác nhau của cùng khoản 2 (khoản 3) thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:
Trang 31Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy
so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại khoản 3 (khoản 4)
Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại
với nhau
Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm
về trọng lượng các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm h khoản 3 (điểm h khoản 4) Điều 194
Ví dụ: Một người mua bán 4kg nhựa thuốc phiện và 30g côcain (đều thuộc khoản 3 Điều 194) Tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định như sau:
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm a khoản 4 Điều 194 là 80% (4kg so với 5kg)
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cocain so với mức tối thiểu đối với cocain quy định tại điểm b khoản 4 là 30% (30g so với 100g)
- Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện và cocain
là 80% + 30% = 110% (thuộc trường hợp 100% trở lên) cho nên người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm h khoản 4 Điều 194
* Trường hợp trong các chất ma túy đó, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 1, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 2 (hoặc khoản 3), hoặc có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 2, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 3 Điều 194, thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:
Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy
có trọng lượng nhiều nhất so với mức tối thiểu đối với chất đó quy định tại khoản 3 (khoản 4) Điều 194 theo nguyên tắc chất ma túy có trọng lượng nhiều
Trang 32nhất thuộc khoản 2 thì so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại khoản 3; chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất thuộc khoản 3 thì so với mức tối thiểu đối với chất đó quy định tại khoản 4
Bước 2: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy
khác so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại khoản 3 (khoản 4) Điều 194 theo nguyên tắc mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất ở khoản nào thì mức tối thiểu của các chất ma túy khác lấy ở khoản đó
Bước 3: Cộng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy
lại với nhau và xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy là từ 100% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất ma túy đó tương đương với số lượng của các chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm h khoản 3 (điểm h khoản 4) (khoản tương ứng của điều luật có quy định mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất)
Ví dụ: Một người mua bán 4,5kg nhựa thuốc phiện và 4g hêrôin Trong trường hợp này nhựa thuốc phiện có trọng lượng thuộc điểm a khoản 3 Điều
194, còn hêrôin có trọng lượng thuộc khoản 1 Điều 194, do đó, nhựa thuốc phiện có trọng lượng nhiều nhất Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm a khoản 4 Điều 194 là 90% (4,5kg so với 5kg)
- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của hêrôin so với mức tối thiểu đối với hêrôin quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 là 4% (4g so với 100g)
- Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất nhựa thuốc phiện
và hêrôin là 90% + 4% = 94% (dưới 100%), cho nên người phạm tội vẫn chỉ
bị truy cứu TNHS theo khoản 3 Điều 194
Trang 33Tái phạm nguy hiểm (điểm p khoản 2)
Tái phạm nguy hiểm là đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại mua bán trái phép chất
ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 hoặc đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Ví dụ: Lương Văn Ba đã bị kết án 4 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” Điều 139 BLHS 1999, ra trại ngày 16/04/2006 Ngày 15 tháng 8 năm
2009, Ba bị công an huyện Thanh Chương- tỉnh Nghệ An bắt quả tang khi đang bán 11 gói heroin nặng 9,8g Lương Văn Ba đã bị TAND huyện Thanh Chương áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194, xử phạt 7 năm 6 tháng tù
Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 194 thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, là tội phạm rất nghiêm trọng Khoản 2 Điều 185đ BLHS 1985 quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm Như vậy khoản 2 Điều 194 BLHS 1999 quy định mức hình phạt nhẹ hơn Do
đó hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra trước 0h00 ngày 01/07/2000
mà sau 0h00 ngày 01/07/2000 mới phát hiện xử lý thì áp dụng khoản 2 Điều
Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 thì người phạm tội
có thể bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 thì người phạm tội
có thể bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Theo Nghị quyết
Trang 34số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 về hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS, tại tiểu mục 3.1 đã hướng dẫn
* Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau, thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với trọng lượng chất ma túy như sau:
a) Xử phạt 20 năm tù nếu:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 5kg đến dưới 10kg
- Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ 100g đến dưới 300g
- Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 75kg đến dưới 200kg
- Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 600kg đến dưới 1.500kg
- Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 150kg đến dưới 450kg
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 300g đến dưới 900g
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 750ml đến dưới 2.000ml
- Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng một trong các chất ma túy thuộc điểm a này
b) Xử phạt tù chung thân nếu:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ 10kg đến dưới 20kg
- Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ 300g đến dưới 600g
- Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ 200kg đến dưới 600kg
- Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ 1500kg đến dưới 4.500kg
- Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ 450kg đến dưới 1.200kg
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 900g đến dưới 2.500g
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 2.000ml đến dưới 5.000ml