1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999 một số vấn đề lý luận và thực tiễn

69 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Sản Xuất, Buôn Bán Hàng Giả Trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Năm 1999. Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Trần Anh Toàn
Người hướng dẫn GV. Đặng Thị Phương Linh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Cử Nhân Luật
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 657,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của khoá luận Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ quy định của pháp luật Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn xét xử

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA LUẬT

===  ===

TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp cuối khoá, ngoài sự cố gắng nổ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ của Hội đồng khoa học khoa Luật, các Thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn Luật Hình sự Đặc biệt, là sự hướng dẫn

và giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của Giảng viên Đặng Thị Phương Linh

Xin trân trọng cảm ơn Giảng viên Đặng Thị Phương Linh - người trực tiếp hướng dẫn khoá luận đã hướng dẫn chu đáo, giúp đỡ động viên em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận, xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo trong tổ bộ môn Luật Hình sự đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hoàn thành đề tài khoá luận

Với kinh nghiệm và năng lực nghiên cứu còn hạn chế, đề tài sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo cũng như những người quan tâm đến vấn đề này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi khoá luận 2

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

4 Kết cấu của khoá luận 3

NỘI DUNG 4

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 4

1.1 Khái niệm hàng giả, tội sản xuất buôn bán hàng giả 4

1.2 Khái quát quy định của BLHS Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 12

Chương 2 TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG BỘ LUẬTHÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 21

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả 21

2.2 Hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả 35

2.3 Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng giả với một số tội khác trong BLHS năm 1999 41

Chương 3 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLHS VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 47

3.1 Thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ năm 2006 - 2010 47

3.2 Những hạn chế của hoạt động xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả và nguyên nhân của hạn chế đó 52

3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 57

KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

* Tài liệu tham khảo:

1 Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí khoa học ĐHQHN, Kinh tế - luật 2008

2 PGS TS Đoàn Minh Duệ - PGS TS Trần Xuân Sinh, giáo trình Phương

pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Tư pháp 2008

3 Trần Văn Độ, Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Nxb Công an

nhân dân, Hà Nội 2004

4 GS TS Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an

nhân dân Hà Nội 2005

5 GS TS Nguyễn Ngọc Hoà, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb

Công An nhân dân 2008

6 GS TS Nguyễn Ngọc Hoà, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập II, Nxb

Công An nhân dân 2008

7 Thanh Lê, Xã hội học tội phạm, Nxb Công An nhân dân 2002

8 Th.s Đinh Văn Quế, Bình luận án, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1998

9 Th.s Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (Phần các tội

phạm cụ thể), Nxb Thành phố HCM 2002

10 Trần Quang Tiệp, Lịch sử luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia

Hà Nội 2003

11 Đào Trí Úc, Tội phạm học luật Hình sự và luật Tố tụng Hình Sự Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1994

12 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb

Công an nhân dân 2008

* Văn bản pháp luật:

13 Sắc luật số: 03.SL ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt

14 Pháp lệnh số: 07-LCT/HĐNN7 ngày 10/7/1982 pháp lệnh trừng trị các tội

đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép

15 Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp

hành chính các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép

16 Bộ luật Hình sự Việt Nam 1985, Nxb Tư pháp 2000

Trang 5

17 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/04/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản

xuất và buôn bán, hàng giả

18 Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1991, về kiểm tra, xử lý việc sản

xuất, buôn bán hàng giả

19 Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), Nxb Lao

động 2010

20 Thông tư liên tịch số: 10/2000/TTLT ngày 27/04/2000 của Bộ Thương mại,

Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ khoa học công nghệ

21 Nghị quyết số: 01/2006/NQ- HĐTP ngày 15/2/2006 hướng dẫn áp dụng một

Trang 6

BLHS Bộ luật hình sự

Trang 7

Hiện nay trên thế giới việc sản xuất hàng giả đã trở thành một nghành công nghiệp có quy mô rộng lớn nằm rải rác khắp mọi nơi

Sản xuất hàng giả đã trở thành một nghành công nghiệp hùng mạnh góp phần đáng kể vào nguồn thu ở các nước đang phát triển Nhưng nó lại làm cho các nhãn hiệu, các nhà sản xuất bị thiệt hại vô cùng lớn, có những tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Sự thiệt hại vì hàng giả, hàng nhái được ước lượng vào năm 2005: tại Mỹ

là 200 - 250 tỉ đô la, tại Pháp là 60 - 80 tỉ đô la, tại Italia là 40 - 60 tỉ đô la… với các mặt hàng mà nhãn hiệu của nhà sản xuất ở các nước đó bị “ăn cắp” và số công nhân bị mất việc tổng cộng lên đến 900.000 đến 1 triệu người/ năm

Sản xuất, buôn bán hàng giả đã trở thành “nạn dịch”, với số lượng và mặt hàng ngày càng đa dạng, tác động không nhỏ đến trật tự kinh tế thế giới

Ở Việt Nam, kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng gia tăng Tệ nạn hàng giả không chỉ gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế, làm tổn hại về vật chất, mất uy tín quốc gia, nhà sản xuất, người tiêu dùng mà tai hại hơn nó còn có thể gây ra những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người Theo số liệu thống kê của Cục quản

lý thị trường và theo báo cáo của Công an 43/64 tỉnh thành trong 5 năm 2002 -

2007 thì lượng hàng giả đã bị bắt giữ bao gồm: 25.450 chai rượu các loại; 85.000 tấn xi măng, 25 tấn mỹ phẩm các loại; 35 triệu cơ số thuốc tân dược; 19 tấn bánh kẹo; 8 tấn bột ngọt… Từ thực tế này đòi hỏi phải có những biện pháp

để ngăn chặn đẩy lùi nạn hàng giả, trong đó pháp luật hình sự là một biện pháp hữu hiệu

Kế thừa các quy định của BLHS năm 1985, BLHS 1999 có nhiều điểm mới tiến bộ, trong đó có quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cũng cho thấy một số quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn còn tỏ ra bất cập Việc nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong việc hoàn thiện lý luận các quy định về tội này, mà còn có ý nghĩa trong việc nâng cao

Trang 8

hiệu quả của hình phạt trên thực tế, góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm

Với những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

trong Bộ luật hình Việt Nam năm 1999 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để

làm khóa luận tốt nghiệp cho mình

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu và phạm vi khoá luận

2.1 Mục đích của khoá luận

Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ quy định của pháp luật Việt Nam

về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn xét xử để tìm ra những bất cập, vướng mắc, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội sản xuất, buôn

bán hàng giả

2.2 Nhiệm vụ của khoá luận

Xuất phát từ mục đích trên, khoá luận xác định một số nhiệm vụ cần thực hiện:

Thứ nhất, khái quát một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng

giả

Thứ hai, Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là

BLHS năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn và chỉ ra một số bất cập, vướng mắc qua đó

đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Khoá luận nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS năm 1999

2.4 Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận phân tích, đánh giá, khái quát những vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả dưới góc độ luật hình sự trong khoảng thời gian từ 2006

Trang 9

đến nay để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của PLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chính sách hình

sự trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu, từ việc chọn đối tượng nghiên

cứu, thu thập thông tin và phân tích kết quả nghiên cứu thông qua số liệu xét xử

liên quan đến tội sản xuất, buôn bán hàng giả những năm gần đây, các văn bản

tài liệu pháp luật liên quan, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học khác

liên quan và các bài báo, thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông

đại chúng…

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng các phương pháp khác

như phương pháp xử lý số liệu, sử dụng bảng biểu, phương pháp thống kê kinh

tế, phương pháp so sánh,

4 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận khoá luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Chương 2 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam năm

1999

Chương 3 Thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số

số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình

sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI SẢN XUẤT,

Trang 10

BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

1.1 Khái niệm hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả

1.1.1 Khái niệm hàng giả

Khái niệm về hàng giả là một khái niệm rất phức tạp

Theo quan niệm chung thì hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản xuất trái pháp luật không phải là những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng của nó

Trước khi BLHS năm 1999 ra đời, theo từ điển giải thích thuật ngữ luật

học của Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì khái niệm hàng giả được

định nghĩa: “hàng giả là thứ hàng hoá có giá trị sử dụng của loại hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị sử dụng của loại hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng (hàng giả về hình thức)” [12]

Nghị Định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất và buôn bán hàng giả đã đưa ra định nghĩa về hàng giả Theo Nghị định này “hàng giả là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó” [17] Đồng thời Nghị định 140 cũng đưa ra 6 dấu hiệu để hàng hoá bị coi là hàng giả:

1 Sản phẩm, hàng hóa (kể cả nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ nhãn đồng ý;

2 Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương tự

có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của cơ

sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công

Trang 11

nghiệp (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia;

3 Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng;

4 Sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam;

5 Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu cho phép;

6 Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.” [17]

Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1991 cũng phân loại hàng giả và phân biệt hàng giả và hàng kém chất lượng tuy nhiên những định nghĩa, dấu hiệu và sự phân biệt này chưa chính xác và đầy đủ để nhận biết hàng giả Do vậy

để giải thích đầy đủ và chính xác hơn thế nào là hàng giả, tại Thông tư liên tịch số: 10/2001/TTLT ngày 27/4/2000 của Bộ thương mại, Bộ tài chính, Bộ công

an, Bộ khoa học công nghệ và hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả đã quy định

cụ thể về các dấu hiệu của hàng giả

Từ đó chúng ta có thể chia hàng giả làm bốn loại như sau:

1 Hàng giả về nội dung: là hàng giả về chất lượng hoặc công dụng Đây

là loại hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng không đúng bản chất tự nhiên tên gọi và công dụng của loại hàng hóa đó, hàng hoá đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng, không

có hoặc ít dược chất, có chứa dược chất khác với tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì…

Ví dụ: Dùng bột mỳ để làm thuốc B1, dùng nước tinh khiết hòa với muối

để làm thuốc nhỏ mắt…

Trang 12

2 Hàng giả về hình thức: là hàng giả về nhãn hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ … Đây là loại hàng hóa mang nhãn hiệu, kiểu dáng… của cơ sở sản xuất khác nhưng có giá trị sử dụng

Ví dụ: Những chiếc đồng hồ mang nhãn hiệu nổi tiếng của Thụy Sỹ

nhưng thực ra là đồng hồ do Trung Quốc được làm với kiểu dáng và hình thức giống hệt đồng hồ Thụy Sỹ Hay những chiếc túi xách của hãng thời trang nổi tiếng Louis Vutton của Pháp được làm giả kiểu dáng giống hệt nhưng chất liệu kém hơn…

3 Hàng giả về nội dung và hình thức: Đây là loại hàng hóa mang nhãn hiệu kiểu dáng… của cơ sở sản xuất khác vừa không có giá trị sử dụng mà nó mang tên

Ví dụ: Những chiếc tivi mang nhãn mác và kiểu dáng của hãng Sony

nhưng thực tế bên trong là những linh kiện cũ và bóng hình được thay thế bằng bóng hình của màn hình máy tính cũ và chỉ dùng một thời gian là bị hỏng

4 Các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả: các loại đêcan, tem sản xuất, nhãn hàng hoá, bao bì, sản phẩm trùng hoặc tương

tự gây nhầm lẫn với nhãn hàng hoá cùng loại, tên gọi, xuất xứ hàng hoá được bảo hộ; các loại hoá đơn chứng từ, tem, vé… có giá trị

Ví dụ: tiền giả, các loại sách bên ngoài bìa ghi của nhà xuất bản Giáo dục hoặc nhà xuất bản Lao động… nhưng bên trong là sách photocopy

Hàng giả được phân ra là các loại như vậy là tương đối hợp lý và cũng tạo điều kiện cho việc nhận biết hàng giả Tuy nhiên trong thực tiễn đấu tranh chống lại các tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đều thống nhất coi hai loại hàng giả

về nội dung và hàng giả cả về nội dung và hình thức là hàng giả Là đối tượng của tội phạm quy định tại Điều 156 của BLHS năm 1999 Còn đối với loại hàng giả về hình thức thì có hai quan điểm khác nhau:

Có quan điểm cho rằng đây là hàng giả dù có hay không có giá trị sử dụng, thì hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả này thỏa mãn các cấu thành tội phạm quy định tại Điều 156 BLHS thì đều bị định tội theo điều này

Trang 13

Có quan điểm khác lại coi loại hàng giả này là hàng hóa vi phạm quyền sở hữu công nghiệp là đối tượng của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 171 BLHS vì hành vi sản xuất, mua bán hàng giả này là sử dụng trái phép kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở khác

Vậy loại hàng giả về hình thức là đối tượng của Điều 156 là loại hàng giả như thế nào? Theo quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ (Luật sở hữu trí tuệ 2005 - sửa đổi bổ sung năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sở hữu trí tuệ), cũng như quy định của các ĐƯQT về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia (Công ước Berne, Công ước Paris, Hiệp định Trips…), thì nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Và việc bảo hộ của Nhà Nước đối với quyền của sở hữu công nghiệp là thông qua văn bằng bảo hộ

và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền Quy định này có nghĩa là muốn được nhà nước bảo hộ quyền của mình đối với sáng chế, giải pháp hữu ích nhãn hiệu hàng hóa, kiều dáng công nghiệp… thì phải đăng ký cơ quan quản lý nhà nước

về sở hữu công nghiệp và được cấp văn băng bảo hộ Theo luật Tư pháp quốc tế thì quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ mà nó đăng

ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ Căn cứ theo quy định trên của pháp luật thì hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là loại hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ của cơ sở sản xuất khác đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc có văn bản bảo hộ những loại hàng hóa này là đối tượng của Điều 171 BLHS Còn loại hàng giả về hình thức là đối tượng của Điều 156 BLHS là loại hàng hóa về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp , nguồn gốc, xuất xứ… của cơ sở sản xuất khác chưa đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc không có văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Hàng giả có thể là hàng trong nước hoặc hàng hoá từ nước ngoài nhập khẩu Tuy nhiên hàng giả nói đến trong điều 156 cũng không phải là một số mặt hàng được làm có tính chất bắt chước như thật để phục vụ con người như chân giả, tay giả…

Trang 14

Vậy hàng giả khác hàng kém chất lượng và hàng nhái ở những điểm nào? Thông tư liên tịch số: 10/2000/TTLT ngày 27/4/2000 có đưa ra một số tiêu chí về hàng kém chất lượng Tại chương IV quy định:

“Hàng hóa có một trong các dấu hiệu sau đây được coi là hàng kém chất lượng:

1 Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng nhưng các chỉ tiêu, thành phần cấu tạo về chất lượng chưa đầy đủ như công bố trên nhãn hàng hóa hoặc quảng cáo, tiếp thị nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường

2 Hàng hóa có một trong các chỉ tiêu chất lượng thuộc danh mục bắt buộc áp dụng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu đã công bố, nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khỏe người , động vật, thực vật, môi sinh, môi trường

3 Hàng hóa có chất lượng thực tế thấp hơn mức ghi trên nhãn hàng hóa hoặc quảng cáo công bố nhưng không gây hại đến sức khỏe người, động vật, thực vật

4 Hàng hóa cũ tân trang, sửa chữa lại rồi mạo hàng mới để lừa dối khách hàng, bán theo đơn giá của hàng mới

5 Hàng hóa đã bị đưa thêm tạp chất hoặc các nguyên liệu khác nhau làm thay đổi định lượng hàng hóa,nhưng không gây hại đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật , thực vật hoặc môi sinh, môi trường” [20]

Qua quy định cho thấy, hàng kém chất lượng không còn được quy định một cách chung chung như Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1999 là

những “sản phẩm có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng đã đăng ký và

ghi nhãn sản phẩm, song chưa vi phạm chất lượng tối thiểu” [18] thì dấu hiệu

đưa ra ở Thông tư số: 10/2000/TTLT đã được cụ thể và rõ ràng hơn

Như vậy, hàng giả và hàng kém chất lượng giống nhau ở chỗ là không đạt chất lượng như đã đăng ký hay ghi trên bao bì nhãn mác

Hàng giả khác với hàng kém chất lượng ở chỗ:

Thứ nhất, hàng giả không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng nhưng

thấp hơn “mức chất lượng tối thiểu” còn hàng kém chất lượng là có giá trị sử

Trang 15

dụng nhưng giá trị sử dụng của hàng hóa này là trên “mức chất lượng tối thiểu”

đã công bố Theo quy định này, thì mức chất lượng tổi thiểu của hàng hóa được quy định tại các danh mục các loại hàng hóa phải đạt chất lượng bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và mức chất lượng tối thiều do cơ sở sản xuất công bố đối với sản phẩm của mình Tuy nhiên việc quy định “mức chất lượng tối thiểu” hiện nay vẫn chưa thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình xử lý vụ việc

Thứ hai, hàng giả còn khác hàng kém chất lượng ở chỗ, việc sử dụng hàng

giả có thể dẫn đến những tổn hại về sức khỏe, tính mạng sức khỏe con người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường Còn hàng kém chất lượng thì không gây hại đến sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường hoặc ít hơn nhiều so với tác hại của hàng giả

Tuy nhiên, việc sử dụng yếu tố gây hại cho sản xuất, sức khoẻ con người, động vật, môi sinh, môi trường để phân biệt giữa hàng giả và hàng kém chất lượng trong một số trường hợp là không thật chính xác Bởi trong một số trường hợp hàng giả không gây hại cho sức khoẻ con người, động thực vật, hoặc môi sinh môi trường

Ví dụ: như việc làm giả nước khoáng Lavie mặc dù không đúng về chất

lượng, nguồn gốc xuất xứ nhưng thực chất vẫn là nước tinh khiết

Hàng nhái là sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu, hình dáng, màu sắc tương

tự, có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ

sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền SHCN (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia

Như vậy, có thể thấy hàng giả và hàng nhái có khái niệm rất gần nhau, cũng có thể nói là chúng tương tự nhau

Từ những phân tích trên đây, tôi mạnh dạn đưa ra một định nghĩa về hàng giả như sau:

Hàng giả là tất cả những loại hàng hóa từ thông thường đến cao cấp được sản xuất trái pháp luật, có hình dáng bên ngoài giống như những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trên thị

Trang 16

trường không đủ tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước; hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng nguồn gốc bản chất tự nhiên tên gọi và công dụng của nó nhằm lừa dối người tiêu dùng với mục đích cạnh tranh không lành mạnh và thu lợi bất chính

1.1.2 Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả

BLHS năm 1999 được đánh giá là một sự phát triển mới của luật hình sự Việt Nam Bộ luật được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện BLHS năm 1985 nhưng có kế thừa những nội dung tích cực, hợp

lý của BLHS này qua các lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1985 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:

Điều 167 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả

1- Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; b) có tổ chức;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội; d) Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình [16]

Điều 156 BLHS 1999 quy định “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” nằm

trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là một điều luật có đổi mới

Điều 156 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

1 Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc một trong các Điều 153, 154,

Trang 17

155, 157, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ , quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Hàng giả tương đương với số lượng hàng thật có giá trị từ một trăm năm mươi triệu đến dưới năm trăm triệu đồng;

g) Thu lợi bất chính lớn;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức

vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm [19]

Điều 156 không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là tội sản xuất, buôn bán hàng giả, nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta có thể xây dựng lên một định nghĩa về tội phạm này trên cơ sở của định nghĩa tội phạm tại Khoản 2 Điều

8, như sau:

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất ổn định thị trường, xâm hại lợi ích người tiêu dùng

Trang 18

1.2 Khái quát quy định của BLHS Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985

Ngày 2/9/1945 Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - “Nhà nước

công nông đầu tiên của Đông Nam Á” Nhà nước và bộ máy của nó vừa mới

được thành lập đã phải đương đầu với bao khó khăn và thử thách: “giặc đói,

giặc dốt, giặc ngoại xâm,…” Để bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng

tám năm 1945, bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình, nhiệm vụ quan trọng

và hàng đầu của nhà nước ta là giữ vững an ninh quốc gia, ổn định kinh tế đảm bảo đời sống cho nhân dân Nhiều chính sách luật được ra đời (Sắc luật) nhưng chưa thể cho ra đời một chính sách Luật hình sự được pháp điển hóa do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép Trong khoảng tời gian từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, các văn bản pháp luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập chung vào quy định các tội có liên quan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng; tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; các tội về kinh tế là: tội đầu

cơ, buôn bán hàng cấm…có ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến tranh.“Tội sản xuất,

buôn bán hàng giả” trong giai đoạn này không hề được quy định trong bất kỳ

một văn bản pháp luật mang tính hình sự nào Do tại thời điểm này, nền kinh tế nước ta còn bao cấp mà tất cả sinh lực của đất nước đều tập chung cho cuộc chiến tranh, hành hóa lưu thông trên thị trường đều do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất hoặc do các nước viện trợ, chính vì vậy mà hàng giả gần như là không có cơ hội phát triển

Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, nền kinh tế đất nước sau chiến tranh hết sức nghèo nàn và lạc hậu, bọn tư sản mại bản được sự tiếp tay của tư sản nước ngoài không ngừng gây rối loạn thị trường, trong đó nạn hàng giả cũng là một trong những nguyên nhân gây rối loạn Nhằm ổn định thị trường, thắt chặt sự quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam ban hành Sắc luật số: 03.SL ngày

Trang 19

15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt “Tội sản xuất, buôn bán hàng

giả” cũng được quy định tại Sắc luật này trong các tội kinh tế:

“Điều 6 Tội kinh tế

Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội:

- Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ;

- Kinh doanh trái phép, cố ý trốn tránh quy định của Nhà nước;

- Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả;

Phạm một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

và phạt tiền đến năm mươi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt

đó Trong trường hợp nghiêm trọng, thì phạt tù đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc xử tử hình và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” [13]

Việc quy định tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số: 03.SL đã đáp ứng phần nào yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong tội phạm về kinh

tế Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả và thái độ của Nhà nước đối với tội phạm này là rất nghiêm khắc Nhưng Sắc luật số: 03.SL bên cạnh những ý nghĩa tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhất định và quy định tội sản xuất hàng giả cũng vậy Sắc luật chưa có sự phân hóa các tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói riêng Điều 6

của Sắc luật chỉ quy định “Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ” mà

không quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa ra những đối tượng hàng giả cụ thể như: hàng giả; hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, …mà chỉ quy định hàng giả chung chung, thậm chí còn không có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn hàng giả là loại hàng hóa như thế nào? Việc quy định như vậy là không cụ thể và đầy đủ Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt áp dụng chung cho các tội phạm, việc quy định như vậy chưa cho thấy rõ mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm, cũng như chế tài áp dụng đối với tội phạm đó Là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về

Trang 20

các tội phạm thuộc lĩnh vực kinh tế như thế này thì Sắc luật còn quá nhiều những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cũng như khả năng áp dụng trong thực tiễn của pháp luật, gây ra không ít những khó khăn trong việc giải quyết các vụ

án trong thực tiễn xét xử của tòa án Nhưng do hoàn cảnh lịch sử mà Sắc luật này vẫn được áp dụng trong cả nước từ năm 1978 cho đến năm 1982

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Sắc luật số: 03.SL và phù hợp hơn với tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Pháp lệnh số: 07-LCT/HĐNN7 ban hành ngày 10/7/1982 pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Đây là văn bản pháp luật

đầu tiên quy định về các tội này cho đến trước khi có BLHS năm 1985 “Tội làm

hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 5 Pháp lệnh, trong đó:

“Điều 5 Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả

1 Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm vạn đồng;

2 Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định tại Khoản 1 Điều 9 pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, bị phạt tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản;

3 Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, hoặc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân,

bị phạt tiền đến một triệu đồng, và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” [14]

“Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” được quy định trong Pháp

lệnh đã thể hiện một sự thay đổi căn bản về trình độ lập pháp so với Sắc luật số: 03/SL Không còn quy định đơn giản chỉ một câu mà tội phạm này đã được quy định trong một điều luật riêng, trong đó hành vi buôn bán hàng giả đã được coi

là tội phạm và có tính nguy hiểm cho xã hội tương đương với hành vi làm hàng

Trang 21

giả; hàng giả đã được phân định thành nhiều loại hàng giả với mức độ nguy hiểm khác nhau và chế tài áp dụng với từng loại hàng giả khác nhau Tuy nhiên,

Pháp lệnh cũng có những hạn chế nhất định Các tình tiết như: “ phạm tội trong

trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” [14] mà theo

quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh thì trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì

hình phạt cao nhất là “tử hình” Những quy định này thể hiện tính không nhất

quán của pháp luật đối với hành vi phạm tội Pháp lệnh cũng chưa phân định được tội phạm và vi phạm pháp luật khác mà phải áp dụng Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, Nghị định này đưa ra một

số các dấu hiệu định lượng và định tính để xác định tội phạm và vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể là:

“Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép thuộc loại vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đêù bị xử lý bằng các biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định này

Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trường hợp giá trị hàng phạm pháp dưới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự và an toàn xã hội là không nhiều, người vi phạm không

có tiền án, tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ”, nhưng Nghị định cũng nêu “…hàng giả thuộc loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì bất cứ trường hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự” [15] do loại hàng giả này có mức độ nguy hiểm cao hơn so với

các loại hàng giả khác Trên thực tế khi áp dụng pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc buôn bán hàng giả các cơ quan chức năng phải căn cứ vào cả hai văn bản pháp luật này để xác định truy cứu TNHS hay xử lý bằng các biện pháp hành chính, phần nào đã gây ra những trở ngại nhất định, không thuận tiện việc cho ra đời một BLHS là vấn đề cần thiết để quy định cụ thể và khoa học về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng và các tội phạm hình sự nói chung

Trang 22

1.2.2 Giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến khi ban hành BLHS năm 1999

Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là bộ luật đầu tiên của nước

ta được ban hành Đây được coi là một mốc son trong lịch sử lập pháp của nước

ta Từ đây các tội phạm không còn được quy định riêng lẻ trong các văn bản pháp luật dưới luật nữa mà được tập hợp trong một BLHS Mỗi một tội phạm và hình phạt đối với tội phạm đó được quy định trong một điều luật riêng và được sắp xếp

vào từng nhóm tội khác nhau Cũng như vậy, “Tội làm hàng giả, tội buôn bán

hàng giả” thuộc nhóm “Các tội kinh tế” quy định tại Điều 167 của Bộ luật

“Điều 167 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả

1 Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm

a Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;

b Có tổ chức;

c Lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội;

d Hàng giả có số lượng lớn thu lợi bất chính lớn;

đ Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong những truờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù

từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.” [16]

Quy định trên cho thấy Điều 167 BLHS năm 1985 đã có tính kế thừa Pháp lệnh số: 07-LCT/HĐNN7 nhưng cũng có những thay đổi có tính tiến bộ hơn: Khoản 1 không đổi so với Pháp lệnh mà chỉ thay đổi về hình phạt; ở Khoản

2 không đưa ra thuật ngữ “ phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” mà thay

vào đó là các trường hợp cụ thể; về hình phạt, Điều 167 chỉ quy định một loại hình phạt là tước tự do (tù) khác so với tại Pháp lệnh 07 quy định hai loại hình phạt là hình phạt tù và hình phạt tiền Việc quy định như vậy theo tôi thì chưa thực sự khoa học

Trang 23

Để giải thích thế nào là hàng giả thì tại Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng về kiểm tra xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả và Thông tư liên bộ số: 1254-TTLB ngày 8/11/1991 của Ủy ban khoa học Nhà nước, Bộ thương mại và du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 140/HĐBT đã đưa ra định nghĩa hàng giả, các dấu hiệu nhận biết hàng giả và

phân biệt hàng giả với hàng kém chất lượng Trong đó: “ Hàng giả theo Nghị

định này là những sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường, hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên tên gọi công dụng của nó.” (Điều 3- Nghị định 140/HĐBT) [17]

“Điều 4: Sản phẩm, hàng hóa có một trong những dấu hiệu dưới đây được coi là hàng giả

1 Sản phẩm, hàng hóa (kể cả nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ nhãn đồng ý;

2 Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương tự

có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của cơ

sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia;

3 Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng;

4 Sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam;

5 Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu cho phép;

6 Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.” [17]

Trang 24

Từ đây, ta có thể thấy hàng giả được chia làm hai loại: hàng giả về hình thức (sản xuất và sử dụng nhãn giả và bao bì mang nhãn giả hoặc sử dụng nhãn của người khác, của cơ sở sản xuất khác mà không được phép của chủ nhãn (bao gồm nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa và dấu hiệu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam)); hàng giả về nội dung (hàng không có giá trị sử dụng, không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó; hoặc có mức chất lượng dưới mức tối thiểu do Nhà nước quy định, nhằm đánh lừa gây thiệt hại cho người tiêu dùng để thu lợi bất chính) Hàng giả là hàng có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu, còn hàng kém chất lượng là hàng có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng ghi trên nhãn đăng ký song chưa vi phạm mức chất lượng tối thiểu

Qua những quy định trên đây, hàng giả đã được phần nào làm rõ hơn với những dấu hiệu cụ thể của nó mà trước đây chưa hề có một văn bản pháp luật nào của Nhà nước đưa ra khái niệm hàng giả Nó có một ý nghĩa lớn trong việc

áp dụng để phân định hàng giả, hàng thật và hàng kém chất lượng Tuy nhiên thì định nghĩa và dấu hiệu này vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của hàng giả Hàng giả được chia thành hai loại trong đó có hàng giả về hình thức, nhưng từ định nghĩa đến dấu hiệu của loại hàng này cho thấy đây không phải là hàng giả mà là

hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Việc đưa ra quy định “mức chất

lượng tối thiểu” để phân định hàng giả và hàng kém chất lượng, nhưng thực tế

không phải bất cứ loại hàng hóa nào cũng có được quy định mức chất lượng tối thiếu mà đa phần là không có Do vậy việc áp dụng thực tế của các quy định này

là rất khó khăn

BLHS năm 1985 với những hạn chế lịch sử của nó là: được xây dựng trên

cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên thực tiễn của tình hình tội phạm của thời kỳ đó Do vậy trong khoảng thời gian 15 năm tồn tại, BLHS năm

1985 được sửa đổi, bổ sung 4 lần Trong đó Điều 167 được sửa đổi, bổ sung 2 lần, ở lần sửa đổi, bổ sung thứ hai (năm 1992) Điều 167 được sử đổi, bổ sung theo hướng tăng hình phạt lên mức cao hơn và bổ sung thêm đối tượng hàng giả

mới là: “Vật liệu xây dựng, phân bón thuốc trừ sâu” Với sự sửa đổi, bổ sung

Trang 25

mới này ta thấy được các loại hàng giả ngày càng đa dạng hơn và việc tăng hình phạt nên mức cao hơn thể hiện thái độ của Nhà nước là nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này Mặc dù đã sửa đổi, bổ sung nhưng Điều 167 vẫn có những hạn chế về cả nội dung và kỹ thuật lập pháp, nó đã tạo ra những khó khăn nhất định trong việc áp dụng pháp luật như: việc không đưa ra các tiêu chuẩn để định lượng cũng như định tính để xác định một hành vi làm, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm pháp luật khác do vậy một người có hành vi làm, buôn bán hàng giả sẽ có 3 khả năng có thể xảy ra: người đó có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 167 BLHS; có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997 quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường chất lượng hàng hóa; hoặc có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác như: cảnh cáo, bị tịch thu tài sản… Cả ba khả năng trên cùng tồn tại cho thấy Điều 167 còn không kế thừa được cả điểm tích cực này của văn bản pháp luật trước đó là Pháp lệnh số: 07.LCT/HĐNN7 và Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983

Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế - xã hội, trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đòi hỏi phải có pháp luật hình sự phù hợp và tiến bộ hơn BLHS năm 1999 ra đời là cần thiết đối với pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng

Tiểu kết chương 1:

Như vậy, qua nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả chúng ta đã rút ra được khái niệm hàng giả, đưa ra các tiêu chí để phân biệt hàng giả với hàng kém chất lượng và hàng nhái

Trang 26

Bên cạnh đó, chúng ta đã xây dựng lên một định nghĩa về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Ngoài ra, cũng đã khái quát được các quy định của BLHS Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Cơ sở lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tiền đề quan trọng để tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu các nội dung cụ thể liên quan đến tội sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó góp phần hoàn thiện các quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Chương 2 TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Trang 27

Tội phạm được cấu thành bởi bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì bốn yếu tố này được thể hiện như sau:

2.1.1 Khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

và bị tội phạm xâm hại Khách thể của từng tội phạm cụ thể (khách thể trực tiếp của tội phạm) là những quan hệ xã hội cụ thể được quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại trực tiếp của một tội phạm cụ thể

Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là những quan hệ

xã hội trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa, lưu thông, phân phối hàng hóa trên thị trường và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng

Tuy nhiên, các quan điểm về hàng giả không rõ ràng, không thống nhất, chủ yếu căn cứ vào các văn bản như:

Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991; Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1991; Thông tư liên tịch số: 10/2001/TTLT ngày 27/4/2000 của Bộ thương mại, Bộ tài chính, Bộ công an, Bộ khoa học công nghệ và hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả Trong các văn bản pháp luật này có quy định:

“ Hàng hóa có một trong những dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả:

1 Hàng giả chất lượng hoặc công dụng:

1.1 Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử sử dụng không đúng như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó

1.2 Hàng hóa đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng, không có hoặc có ít dược chất khác với tên dược chất được ghi trên nhãn hoặc bao bì, không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì

1.3 Hàng hóa không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu phụ tùng khác không bảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường

Trang 28

1.4 Hàng hóa thuộc danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật

và môi sinh, môi trường

1.5 Hàng hóa chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà áp dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hóa bắt buộc)

2 Giả về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa: 2.1 Hàng hóa có nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hóa kể cả nhãn hiệu hàng hóa đang được bảo hộ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu

2.2 Hàng hóa có dấu hiệu hoặc bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương

tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên xuất xứ hàng hóa được bảo hộ

2.3 Hàng hóa, bộ phận của hàng hóa có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng công nghiệp

2.4 Hàng hóa có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa

Trang 29

4.2 Các loại hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem,vé, tiền, ấn phẩm có giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hóa giả mạo khác.” [20]

Điều 167 BLHS năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả trong đó bao gồm các loại hàng giả là: hàng giả nói chung; hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hàng giả là vật liệu xây dựng, phân bón và về bản chất thì hàng giả được chia làm hai loại là: hàng giả về hình thức, hàng giả về nội dung Thì nay BLHS năm 1999 đã tách các loại hàng giả trên thành các loại hàng giả là đối tượng tác động của các điều luật riêng như: Điều 156 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi và Điều

171 - Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Việc tách ra như vậy là hoàn toàn phù hợp vì mỗi loại hàng giả khác nhau có những tác động và tác hại đến các đối tượng khác nhau, từ đó TNHS được áp dụng đối với mỗi loại tội phạm

được đúng đắn hơn Điều 156 quy định “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” về mặt nội dung có sự thay đổi so với Điều 167, phạm vi của đối sở tác động là

hàng giả ở đây đã được thu hẹp lại không còn các loại hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, phân bón,… nay đã là đối

tượng tác động của Điều 157,158; về kỹ thuật lập pháp các thuật “phạm tội

trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” đã được cụ thể hóa bằng các dấu hiệu

và được các văn bản dưới luật quy định cụ thể, “hàng giả có số lượng lớn” đã

được định lượng rõ ràng

Vậy hàng giả là đối tượng tác động của tội phạm quy định tại Điều 156 là các loại hàng giả nói chung trừ những loại hàng giả là đối tượng tác động của

các tội phạm quy định trong các điều luật khác

Như vậy, khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS là các quan hệ xã hội liên quan đến trật tự sản xuất, quản lý thị trường, tiêu dùng, phân phối hàng hoá, đồng thời liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất cũng như tính mạng, sức khoẻ của người tiêu dùng được pháp luật hình sự bảo vệ

Trang 30

2.1.2 Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Bất kỳ một tội phạm nào khi xảy ta cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được nó như: hành vi, hậu quả cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài khi thực hiện hành vi Tổng hợp những điều kiện trên tạo thành mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và cũng không có tội phạm Đây cũng là công cụ để phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng giả với các tội phạm khác:

* Thứ nhất, về hành vi khách quan:

Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện

cơ bản, những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi

khách quan Điều 156 “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” quy định hai hành vi

khách quan đó là: hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả

Hành vi sản xuất hàng giả là hành vi dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người tiêu dùng nhằm thu lợi bất chính bằng cách làm ra những loại hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với tên gọi của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kĩ thuật đã được quy định

Thủ đoạn của bọn tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả rất đa dạng từ đơn giản đến tinh vi rất khó phát hiện, với cách thức quy mô nhỏ lẻ, phân tán đến sản xuất hàng loạt, có tổ chức, có tính chuyên nghiệp…

Đối với hàng giả sản xuất trong nước thì thường làm giả về nhãn hiệu, kiểu dáng tương tự giống hàng thật hoặc sản xuất hàng giả dùng nhãn mác hàng thật có cả chỉ dẫn địa lý khiến người tiêu dùng khó phân biệt

Đối với hàng giả sản xuất tại nước ngoài, phần lớn đây là những hàng giả trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất phải chi phí cao như: hàng điện

tử, điện lạnh, phụ tùng ôtô, thiết bị viễn thông… các hàng giả này thường được gắn nhãn hiệu của các nhà sản xuất lớn có uy tín trong nước và trên thế giới Có

Trang 31

trường hợp chúng “đội lốt” rất tinh vi đặt sản xuất một số bộ phận của hàng thật

như: nhãn tem nhập khẩu, tem chống hàng giả, sau đó nhập lậu vào trong nước

Người phạm tội có thể tham gia vào cả quá trình làm ra hàng giả từ đầu đến cuối hoặc chỉ có thể tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra hàng giả như: lắp ráp, chế biến, đóng gói, dán nhãn hiệu để tạo ra hàng giả Hàng giả được sản xuất ra chủ yếu bằng phương pháp công nghiệp theo một quy trình từ nguyên liệu đến sản phẩm

Điều 156 BLHS năm 1999 không sử dụng thuật ngữ “làm” hàng giả như Điều 167 BLHS năm 1985 mà sử dụng thuật ngữ “sản xuất” hàng giả, sự khác

biệt này có những ý nghĩa nhất định Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sản xuất

mà trong đó có sự phân công lao động và sản phẩm được làm ra phải trải qua nhiều khâu khác nhau của một quá trình sản xuất, được thực hiện theo một quy trình từ nguyên liệu đến sản phẩm Việc sản xuất hàng giả là việc tạo ra hàng giả trong đó cũng có sự phân công lao động ra các khâu của quá trình sản xuất, hàng giả làm ra phải trải qua các khâu đó Do vậy để sản xuất phải có từ hai người trở lên hoặc phải có máy móc và trang thiết bị kỹ thuật số lượng hàng giả làm ra là

tương đối nhiều Còn việc “làm” hàng giả là tạo ra sản phẩm giả trên cơ sở bắt

chước kiểu dáng, tính năng của một loại hàng hóa nào đó, người làm hàng giả làm ra nó theo phương pháp thủ công, không có quy trình kỹ thuật nhất định

Trang 32

nào, số lượng hàng giả làm ra là không nhiều Điều 156 BLHS 1999 quy định như vậy có tính hợp lý hơn rất nhiều, do mục đích của tội phạm là hàng giả làm

ra để lừa dối khách hàng nhằm thu lợi bất chính Với mục đích như vậy mà sử

dụng thuật ngữ “làm” để chỉ hành vi khách quan của tội phạm này có thể dẫn

đến nhầm lẫn với hành vi khách quan của tội phạm khác và cũng có thể là hành

vi khác mà không phải tội phạm Cụ thể là: nếu một người làm ra một sản phẩm được coi là hàng giả, người này đem bán cho người khác nói dối về chất lượng

của sản phẩm hay tên gọi của sản phẩm đó để thu tiền “từ hai triệu đồng đến

dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng” [19] thì người đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại

Điều 139 BLHS 1999 Nhưng nếu người đó chỉ làm ra sản phẩm giả đó để sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình mình thì người đó không được coi là hành vi làm hàng giả và không vi phạm pháp luật Do vậy việc sử

dụng thuật ngữ “sản xuất” để thực hiện hành vi khách quan của tội sản xuất

hàng giả là chính xác và không gây nhầm lẫn

Hành vi buôn bán hàng giả là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác

để mua đi, bán lại những hàng hóa mà biết là hàng giả để thu lợi bất chính

Có thể thấy hành vi khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả đều được thể hiện dưới dạng hành động Người phạm tội phải tiến hành một hoạt động cụ thể tác động một cách trực tiếp vào quan hệ xã hội cụ thể

Đối với hành vi sản xuất hàng giả người phạm tội phải tiến hành một loạt các hành động như: lắp ráp, dán nhãn… ngoài ra người phạm tội phải chuẩn bị trước mọi thứ như nguyên liệu, máy móc, nhà xưởng, dự trù loại hàng hóa sản xuất, móc nối để tiêu thụ do vậy họ bắt buộc phải thể hiện bằng hành động

Đối với hành vi buôn bán hàng giả: là hành vi mua đi bán lại hàng hóa giả Người phạm tội phải tìm mối mua hàng giả sau đó bán lại hàng giả đó cho người khác để thu lợi bất chính

Về thời gian thực hiện tội phạm, thì hành vi sản xuất hàng giả phải xảy ra trong một thời gian dài có tính liên tục còn hành vi buôn bán hàng giả thì khác

Trang 33

nó vừa có thể xảy ra trong một thời gian dài liên tục hoặc có thể xảy ra trong thời gian ngắn và không liên tục

Hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả có mối quan hệ khăng khít với nhau Người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi hoặc là sản xuất hàng giả hoặc là buôn bán hàng giả; hoặc có thể thực hiện cả hai hành vi vừa sản xuất vừa buôn bán hàng giả Có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì hàng giả mới đến tay người tiêu dùng và gây hậu quả Có hành vi buôn bán hàng giả thì mới tạo ra nhu cầu, và cần có sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu này

Ví dụ: Ngày 10/9/2007 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hoàn thành bản

cáo trạng vụ án “cố ý làm trái, buôn bán hàng giả, trốn thuế” xảy ra tại Công ty

điện lực thành phố Hồ Chí Minh Tại bản cáo trạng số: 11/ VKSNDTC - V1B của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì nhóm bị can nguyên là lãnh đạo nhân viên Công ty Linkton Vina gồm:

Trần Thị Liên (Phó chủ tịch hội đồng quản trị); Trần Công Điền (Phó Tổng giám đốc); Phạm Huy Quang (Quản đốc phân xưởng); Nguyễn Trọng Hiển (Trưởng phòng kinh doanh); Đặng Thị Kim Liên (Kế toán trưởng) bị truy

tố về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Khoản 3 Điều 156 BLHS Những bị can này đã có vi phạm sản xuất ra 312.000 chiếc điện kế điện tử mang nhãn hiệu Linkton Xingapo nhưng thực chất là dùng những linh kiện mua ở trong nước cũ hỏng lắp vào vỏ điện kế điện tử Linkton Xingapo 312.000 chiếc điện kế điện tử này là hàng giả về nguồn gốc xuất xứ, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp Những đối tượng này đã móc nối với nhiều người có chức năng tại công ty điện lực thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ những chiếc điện kế điện tử giả này với giá 580.000đ/ cái Tổng giá trị hàng giả tương đương với giá trị hàng thật là 181 tỷ đồng

Hành vi của các đối tượng trên là vừa sản xuất vừa có hành vi buôn bán hàng giả

Trang 34

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tác động lên các bộ phận cấu thành quan hệ

xã hội được luật hình sự bảo vệ không phải theo hướng có lợi mà gây thiệt hại cho quan hệ đó

* Thứ hai, về hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả:

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ

xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan

hệ xã hội là khách thể của tội phạm Tính chất, mức độ của thiệt hại được xác định bởi tính chất; mức độ biến đổi của các đối tượng tác động của tội phạm

Hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là từ sự biến đổi về chất của hàng hóa dẫn đến những thiệt hại cho khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả đó là những thiết hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khoẻ của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Theo quy định của Điều 156 BLHS 1999 thì yếu tố hậu quả của tội phạm không phải lúc nào cũng là dấu hiệu bắt buộc đối với mặt khách quan của tội phạm Nó chỉ có ý nghĩa là dấu hiệu bắt buộc

trong trường hợp “…hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá

trị…dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng…” [19]

Có ý kiến cho rằng tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội có cấu thành vật chất có nghĩa là phải có các dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm là hành

vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi hậu quả, thì mới được coi là tội phạm Nhưng khi nghiên cứu thực tế tội phạm này, tôi thấy rằng tội sản xuất, buôn bán

hàng giả có cấu thành hình thức nghĩa là chỉ cần có hành vi “sản xuất, buôn bán

hàng giả tương đương số lượng hàng thật có giá trị 30 triệu đồng” [19] đã cấu

thành tội phạm mà không cần xem xét dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Ví dụ: Khoảng 7h sáng ngày 14/9/2007 công an Thành phố Hà Nội phát

hiện một xe ô tô chở 79 cuộn dây điện mang nhãn hiệu SANGJIN - MADE IN KOREA nghi là hàng giả

Sau quá trình điều tra làm rõ thì toàn bộ 79 cuộn dây điện trên là hàng giả

và khám xét kho hàng và nơi sản xuất hàng giả của bọn chúng thu được khối

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Bảng thống kê các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả so với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ 2006 đến 2010  - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999  một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 1. Bảng thống kê các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả so với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ 2006 đến 2010 (Trang 53)
Hình 1. Biểu đồ các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả so với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ năm 2006 - 2010  - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999  một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Hình 1. Biểu đồ các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả so với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ năm 2006 - 2010 (Trang 54)
Cụ thể được thống kê trong bảng sau: - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999  một số vấn đề lý luận và thực tiễn
th ể được thống kê trong bảng sau: (Trang 55)
Hình 2. Biểu đồ các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo các Điều 156, 157, 158 từ năm 2006 – 2010  - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong bộ luật hình sự việt nam năm 1999  một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Hình 2. Biểu đồ các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo các Điều 156, 157, 158 từ năm 2006 – 2010 (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w