Những hạn chế từ quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sởhữu có tính chiếm đoạt làm cho thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội này còn nhiềuvướng mắc như định sai tội danh,
Khái niệm chung về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi và lợi tức từ tài sản, đồng thời có thể được chuyển giao theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật Chủ sở hữu có quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình, nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Quyền định đoạtlà quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản 4
Quyền sở hữu tài sản là một quyền cơ bản được pháp luật Việt Nam bảo vệ nghiêm ngặt Trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam, quyền sở hữu luôn giữ vị trí trọng yếu, thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân Đây là quyền quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.
Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ ràng về quyền sở hữu tài sản, đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu một cách minh bạch và hợp pháp Quyền sở hữu tài sản được ghi nhận và bảo vệ theo các phương thức nhất định nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định của thị trường và đảm bảo mục tiêu, đường lối của Hiến pháp Những quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, dân sự, hình sự và thương mại được thiết lập nhằm thể chế hóa quyền sở hữu, góp phần củng cố hiệu quả các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản trong xã hội.
Trong lĩnh vực hình sự, quyền sở hữu tài sản được bảo hộ thông qua các điều luật trong Bộ luật Hình sự (BLHS), đặc biệt là Chương XVI quy định về “Các tội xâm phạm sở hữu” Những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quan hệ sở hữu, với mức độ gây nguy hiểm cho xã hội nhất định, sẽ bị điều chỉnh bởi các quy định này Chủ thể thực hiện các hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu sẽ bị coi là phạm tội hình sự.
Về khái niệm các tội phạm xâm phạm sở hữu, hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa đề cập rõ ràng hoặc xây dựng định nghĩa chính thức cho khái niệm này Một số quan điểm pháp lý cho rằng, các tội phạm xâm phạm sở hữu gồm các hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu Việc thiếu một định nghĩa chính thức từ BLHS năm 2015 tạo ra nhiều tranh luận trong việc xác định và áp dụng pháp luật đối với các hành vi phạm tội liên quan đến sở hữu Do đó, việc hiểu rõ các tội phạm này đòi hỏi phải dựa trên các quy định pháp luật liên quan và các quan điểm phân tích của giới luật học.
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự, gồm các hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, nhằm bảo vệ chế độ sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Những hành vi này có thể xảy ra cố ý hoặc vô ý, gây ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định và trật tự xã hội.
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Những hành vi này xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và công dân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội.
Các tội xâm phạm sở hữu được xem là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu Những hành vi này không chỉ gây tổn hại về mặt vật chất mà còn thể hiện mức độ nguy hiểm đối với xã hội Do đó, việc xác định tính chất xâm phạm sở hữu dựa trên sự có lỗi và khả năng gây thiệt hại là rất quan trọng trong pháp luật hình sự.
Khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu cần phải mang tính tổng quát, toàn diện, phản ánh cả bản chất pháp lý và xã hội của tội phạm Nó giúp phân biệt các tội phạm này với các loại tội phạm khác dựa trên những đặc điểm chung và đặc trưng riêng Đồng thời, khái niệm này còn phải bao gồm các dấu hiệu chung của tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015, kết hợp với các dấu hiệu đặc thù của từng loại tội phạm.
Nguyễn Thị Thúy Hồng (2014) trong luận văn thạc sĩ luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo Bộ luật Hình sự năm 1999 Bà nhấn mạnh rằng, các hành vi vi phạm sở hữu nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản cần được xem xét và xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật hình sự Nghiên cứu này giúp làm rõ các tiêu chí để phân biệt giữa các hành vi xâm phạm sở hữu có và không có tính chiếm đoạt, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm liên quan đến sở hữu.
6 Nguyễn Thị Thúy Hồng, tlđd (chú thích số 5), tr.9.
7 Nguyễn Thị Thúy Hồng, tlđd (chú thích số 5), tr.9.
Từ những phân tích trên, khái niệm này có thể được định nghĩa như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu là các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi thực hiện cố ý hoặc vô ý, nhằm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu Những hành vi này ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội và an toàn của cộng đồng Chính vì vậy, các hành vi xâm phạm sở hữu cần được xử lý nghiêm khắc để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và duy trì an ninh trật tự xã hội.
Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan, các tội xâm phạm sở hữu được chia làm 2 nhóm:
- Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (được quy định từ Điều 168 đến Điều 175 Chương XVI BLHS năm 2015).
- Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt (được quy định từ Điều
176 đến Điều 180 Chương XVI BLHS năm 2015).
Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu được phân thành hai nhóm chính dựa trên tính chất của hành vi khách quan: nhóm các tội có tính chiếm đoạt và nhóm các tội không có tính chiếm đoạt Dù thuộc nhóm nào, hành vi phạm tội đều mang chung bản chất là xâm phạm quyền sở hữu, và do đó, đều được quy định trong chương “Các tội xâm phạm sở hữu”.
8 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình luật hình sự (Phần chung), TS Trần Thị Quang
Vinh, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia, tr.172.
9 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình luật hình sự (Phần các tội phạm), TS Trần ThịQuang Vinh, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia, tr.179.
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chia sẻ đặc điểm chung với các tội xâm phạm sở hữu khác, đồng thời còn có những đặc điểm riêng biệt đặc trưng cho nhóm tội này.
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nhằm vào quan hệ sở hữu tài sản, bao gồm cả việc xâm phạm đến quan hệ nhân thân như quyền tự do thân thể, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tinh thần của chủ thể khác Điển hình như tội cướp tài sản (Điều 168), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) và cướp giật tài sản (Điều 171) theo Bộ luật Hình sự năm 2015 Một trong những đặc điểm phân biệt rõ nét giữa các tội phạm này là chúng không chỉ xâm phạm các quyền cơ bản như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu, mà còn có thể xâm phạm đến các quyền nhân thân của chủ sở hữu tài sản.
Thứ hai, đối tượng chính bị xâm phạm trong các tội phạm chiếm đoạt sở hữu là tài sản, phải là tài sản đang trong quản lý của người khác Tài sản này gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Trong thực tế, các loại tài sản hữu hình như vật, tiền, giấy tờ có giá thường là đối tượng phổ biến mà các tội phạm nhắm tới do tính lưu thông cao, dễ dàng quy ra hoặc mua bán lại với giá trị lớn trong thời gian ngắn.
Hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu mang tính chất chiếm đoạt, thể hiện qua hành động phạm tội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Đặc điểm này giúp phân biệt hai nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu Việc chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản từ chủ sở hữu sang người chiếm đoạt Khi thành công, hành vi này làm mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản, đồng thời trao quyền này cho người chiếm đoạt Hành vi chiếm đoạt tài sản phải có lỗi, thể hiện sự cố ý của người phạm tội.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, hành vi chiếm đoạt tài sản bao gồm các hình thức như sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để chiếm đoạt; bắt cóc người làm con tin nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; đe dọa dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt; cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp hoặc lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản Người thực hiện hành vi này nhận thức rõ rằng hành vi của mình là trái pháp luật và mong muốn hậu quả là chiếm đoạt tài sản của chủ thể khác Các hành vi này thể hiện rõ nét các phương thức phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản một cách trái phép và nguy hiểm.
Thứ tư, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thường do chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Chủ thể này phải đạt độ tuổi theo quy định của Luật hình sự để đủ điều kiện thực hiện hành vi vi phạm Việc xác định chủ thể có vai trò quan trọng trong việc xử lý các vụ án xâm phạm sở hữu, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong xét xử.
Phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt
Dựa trên các phân tích pháp lý, nhóm các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt sẽ được phân biệt rõ ràng với các tội phạm xâm phạm không có tính chiếm đoạt Điều này giúp làm sáng tỏ những điểm khác biệt chính giữa hai nhóm tội phạm, từ đó nâng cao nhận thức của người đọc về đặc điểm và dấu hiệu nhận biết các tội phạm xâm phạm sở hữu trong thực tế Hiểu rõ các yếu tố này là cơ sở để xác định đúng hành vi phạm tội và đảm bảo hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm.
Các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm cả những tội có tính chất chiếm đoạt và không có tính chất chiếm đoạt, đều tác động vào tài sản như vật, tiền, giấy tờ có giá, thể hiện rõ trong chương XVI “Các tội xâm phạm sở hữu” Chủ thể thực hiện các hành vi phạm tội này chủ yếu là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, trừ nhóm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo Điều 179, nơi yêu cầu chủ thể là những người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của các tổ chức này.
Các tội xâm phạm sở hữu có thể được chia thành hai nhóm chính: nhóm các tội không có tính chiếm đoạt và nhóm các tội có tính chiếm đoạt Điểm khác biệt nổi bật giữa chúng là các tội không có tính chiếm đoạt thường chỉ nhằm gây thiệt hại hoặc làm tổn hại đến quyền sở hữu mà không cố ý chiếm đoạt tài sản, trong khi các tội có tính chiếm đoạt thể hiện rõ ý định chiếm đoạt tài sản của bị cáo Như vậy, mức độ nguy hiểm và hình thức xử lý của các tội này cũng có nhiều điểm khác biệt phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội.
Tội phạm xâm phạm sở hữu không chỉ ảnh hưởng đến quyền sở hữu mà còn có thể xâm phạm đến các quan hệ nhân thân, thể hiện tính chất chiếm đoạt nghiêm trọng.
Cụ thể như, tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều
169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài sản (Điều 171) BLHS năm
Trong năm 2015, các tội phạm liên quan đến khách thể bảo vệ không chỉ bao gồm quan hệ sở hữu mà còn mở rộng đến quan hệ nhân thân Khi xâm phạm các tội này, quan hệ nhân thân thường bị xâm hại trước, dù mục đích chính vẫn là làm tổn thương quyền sở hữu Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng là các tội xâm phạm sở hữu không nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ xâm phạm quyền sở hữu, phản ánh tính chất pháp lý riêng biệt của từng loại tội phạm.
Hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm là điểm căn bản giúp phân biệt giữa các nhóm tội phạm, đặc biệt là nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Các hành vi khách quan này bao gồm việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành xử khác làm người bị tấn công không thể chống cự, bắt cóc người làm con tin, đe dọa uy hiếp tinh thần bằng thủ đoạn khác, và hành vi chiếm đoạt tài sản Dù các hành vi cụ thể có khác nhau trong cùng nhóm tội phạm, chúng đều thể hiện mục đích hoặc hành vi chiếm đoạt tài sản, như quy định trong các điều luật từ Điều 168 đến Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Các hành vi xâm phạm sở hữu có tính gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu như chiếm giữ trái phép, sử dụng trái phép, hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản, và thiếu trách nhiệm trong quản lý tài sản Tuy nhiên, những hành vi này không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, khác với nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Dù không nhằm chiếm đoạt, các hành vi này vẫn gây thiệt hại đáng kể đến quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản.
Vào thứ ba, dấu hiệu lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm thể hiện sự khác biệt giữa các loại tội phạm xâm phạm sở hữu Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Ngược lại, các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt có thể được thực hiện với cả lỗi cố ý và vô ý, không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Đây là yếu tố quyết định trong phân loại và xử lý các loại tội phạm này theo quy định pháp luật.
Chủ thể thực hiện các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật Trong khi đó, các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt đa phần do chủ thể thường thực hiện, trừ một số tội đặc biệt như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo Điều 179, trong đó chủ thể phải giữ nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của các đơn vị này.
Để phân biệt rõ ràng giữa hai nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu, cần phân tích tổng thể các yếu tố khách thể, hành vi, lỗi và chủ thể của từng trường hợp Việc này giúp đưa ra nhận định chính xác và đúng quy định pháp luật về các loại tội phạm này Như vậy, đánh giá toàn diện các yếu tố này là bước quan trọng để xác định đúng loại tội phạm xâm phạm sở hữu mà người phạm tội đã thực hiện.
Dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Khách thể của tội phạm là mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, khách thể là quan hệ sở hữu tài sản, gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đến quan hệ sở hữu đều được xem là tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt; chỉ những hành vi phản ánh đầy đủ bản chất và mức độ nguy hiểm nhất định theo quy định của pháp luật mới bị coi là tội phạm Những trường hợp hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ sở hữu hoặc mức độ nguy hiểm chưa phù hợp với đặc điểm của nhóm tội phạm này thì không được coi là tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Các tội xâm phạm sở hữu không chỉ liên quan đến việc xâm phạm quyền sở hữu mà còn có tính chất chiếm đoạt, đồng thời xâm phạm đến mối quan hệ nhân thân của cá nhân Vì vậy, quan hệ nhân thân cũng được xem là khách thể của các tội này, như tội cướp tài sản (Điều 168) xâm phạm quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe của công dân; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) xâm phạm quyền tự do thân thể; và tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 167) xâm phạm quyền được bảo đảm về tinh thần của cá nhân.
Tội phạm tác động đến một bộ phận của khách thể của tội phạm, gây thiệt hại hoặc đe dọa đến đối tượng bị ảnh hưởng Đối tượng tác động là những yếu tố hoặc cá thể bị hành vi phạm tội ảnh hưởng trực tiếp, làm tăng mức độ thiệt hại hoặc nguy cơ liên quan Hiểu rõ đối tượng tác động giúp xác định phạm vi và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, góp phần trong công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm hiệu quả.
Trong luật hình sự, tài sản là đối tượng tác động chủ yếu của các tội phạm xâm phạm sở hữu, đặc biệt khi tài sản có chủ và đang trong sự quản lý của chủ sở hữu hoặc người khác Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các vật có tính chất và công dụng đặc biệt như ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ hay cơ sở an ninh quốc gia không được coi là tài sản, dù có đáp ứng các điều kiện về chủ sở hữu Cả tài sản hợp pháp lẫn bất hợp pháp đều có thể trở thành đối tượng của tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Ngoài ra, trong một số tội danh như cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản, đối tượng tác động của tội phạm còn có thể là chính con người, cụ thể là chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Các biểu hiện của tội phạm sau khi được thực hiện phản ánh mặt khách quan của tội phạm, bao gồm hành vi phạm tội, hậu quả gây thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, cùng với các yếu tố như công cụ, phương tiện, thời gian và địa điểm phạm tội Những biểu hiện này tồn tại bên ngoài thế giới khách quan và không phụ thuộc vào ý chí con người Do đó, mặt khách quan của tội phạm là những dấu hiệu rõ ràng, thể hiện rõ hành vi phạm tội đã diễn ra trong thực tế.
Hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nhằm gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản và mục đích tư lợi Các hình thức hành vi khách quan bao gồm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để làm người bị tấn công không thể chống cự (Điều 168, tội cướp tài sản), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), đe dọa bằng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần (Điều 169, tội cưỡng đoạt tài sản), cướp giật tài sản (Điều 170), công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), và trộm cắp tài sản (Điều 173) Những hành vi này được thực hiện bằng các hành động cụ thể như chiếm đoạt, đe dọa, khác biệt với các hành vi chưa cụ thể hóa.
12 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (chú thích số 8), tr.116.
Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng hành vi không phù hợp có thể thể hiện qua việc thiếu trách nhiệm trong quản lý tài sản hoặc không hành động để hoàn trả tài sản bị mất hoặc chiếm dụng trái phép, gây ảnh hưởng đến uy tín và trách nhiệm của đơn vị.
Trong pháp luật về hình sự Việt Nam, hậu quả và mối quan hệ nhân quả chỉ được xem xét đối với các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, theo quy định từ Điều 171 đến Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 Đối với tội phạm tại Điều 171, hậu quả được xác định bất kể mức độ thiệt hại, trong khi các tội phạm từ Điều 172 đến Điều 174 yêu cầu thiệt hại có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới mức này trong các trường hợp luật định Tội phạm tại Điều 175 yêu cầu thiệt hại phải từ 4.000.000 đồng trở lên hoặc thuộc các trường hợp luật định, dù thiệt hại dưới 4.000.000 đồng Trong khi đó, các tội phạm có cấu thành hình thức từ Điều 168 đến Điều 170 không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả và mối quan hệ nhân quả, phù hợp với tính chất đặc thù của loại tội phạm này.
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cá nhân, với dấu hiệu chủ thể thường Những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật đều có thể trở thành chủ thể của nhiều tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Mặt chủ quan của tội phạm đề cập đến các biểu hiện bên trong như thái độ tâm lý và các yếu tố về lỗi, động cơ, mục đích của người phạm tội Những dấu hiệu này phản ánh cái nhìn và ý định của tội phạm trong quá trình thực hiện hành vi phạm pháp Hiểu rõ mặt chủ quan giúp xác định được động cơ và mục đích của tội phạm, từ đó có phương hướng xử lý phù hợp và nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra Đặc điểm của dấu hiệu lỗi này là ý thức chủ tâm và mong muốn gây ra hậu quả, thể hiện sự cố ý trực tiếp của người phạm tội Những hành vi phạm tội mang tính chất cố ý rõ ràng khi người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi và mong muốn xảy ra hậu quả đó.
Trong các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, yếu tố về động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng dấu hiệu về mục đích phạm tội bắt buộc đối với các tội như cướp tài sản (Điều 168), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), và cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) Đối với các tội phạm còn lại, yếu tố mục đích phạm tội vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chất và mức độ của hành vi phạm tội.
Trong Luật hình sự Việt Nam, hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định dưới dạng hành vi cụ thể, không phải dưới dạng mục đích của tội phạm Ví dụ điển hình là tội cướp giật tài sản theo Điều 171, trong đó không đề cập đến mục đích của hành vi cướp giật mà tập trung vào việc quy định hành vi cướp giật chính là hành vi chiếm đoạt tài sản.
Khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm sở hữu có tính chiếm đoạt giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là thuộc địa nửa phong kiến dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và chính quyền tay sai triều đình nhà Nguyễn Trong giai đoạn này, đất nước chưa có Hiến pháp hoặc bất kỳ văn bản pháp lý nào xác định quyền lợi cơ bản của công dân.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước đứng trước thử thách lớn khi chính quyền non trẻ phải đấu tranh duy trì quyền lực giữa bối cảnh nền pháp luật còn yếu kém, thiếu các chuyên gia pháp luật, buộc phải tạm thời duy trì các văn bản quy phạm pháp luật của chế độ cũ để bảo vệ quyền lợi nhân dân và ổn định xã hội Trong giai đoạn đầu, luật hình sự chủ yếu dựa trên các sắc lệnh ban hành theo kế thừa quy định của chế độ cũ nhằm mục đích bảo vệ thành quả cách mạng, đất nước và trật tự xã hội, tiêu biểu là Sắc lệnh số 47-SL ngày 10-10-1945, nhằm giải quyết các vụ án hình sự một cách kịp thời và hạn chế xáo trộn xã hội.
“Điều thứ 8: Bộ "Luật Hình An Nam" ban bố tại Bắc bộ do Dụ ngày 25 tháng 8 năm 1921 và nghị định của nguyên Toàn quyền Đông Dương ngày 2 tháng
Năm 1921, các Dụ và nghị định sửa đổi Bộ luật đã được ban hành và thi hành trên toàn Bắc Bộ, bao gồm cả Hà Nội và Hải Phòng Điều thứ 9 của Bộ "Hoàng Việt Hình Luật" được ban bố tại Trung Bộ theo Dụ ngày 3 tháng 7 năm 1933, nhằm điều chỉnh các quy định về hình luật trong khu vực này Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Triều Nguyễn và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật ở các vùng miền khác nhau trong đất nước.
Năm 1933, các Dụ và nghị định sửa đổi Bộ luật hình sự sẽ được thi hành trên toàn cõi Trung Bộ, bao gồm cả Đà Nẵng Điều thứ 10 quy định về việc tu chỉnh Bộ hình luật pháp theo sắc lệnh ban hành ngày 31 tháng 12 năm, nhằm cập nhật và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự của thời kỳ đó.
1912 cùng những sắc lệnh sửa đổi sắc lệnh ấy vẫn thi hành ở Nam bộ” 15
Ngày 28-2-1946, Sắc lệnh 27 được ban hành hướng dẫn trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt như tội bắt cóc, tống tiền Tại Điều thứ 1 của sắc lệnh quy định:“những người phạm tội bắt cóc, tống tiền và ám sát sẽ bị phạt từ
Vào ngày 9-11-1946, Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Theo Điều 12 của Hiến pháp năm 1946, những người phạm tội nghiêm trọng có thể đối mặt với mức hình phạt từ 2 đến 10 năm tù hoặc thậm chí bị xử tử Đây là bước pháp lý quan trọng, khẳng định quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ trật tự an toàn xã hội.
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được pháp luật bảo đảm, tạo nền tảng vững chắc cho quyền sở hữu tài sản cá nhân Chính sách này thể hiện rõ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân đối với tài sản hợp pháp Việc bảo đảm quyền sở hữu tài sản không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn tăng cường ổn định xã hội và đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam.
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định rõ các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, tăng cường công tác phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền lợi của công dân Các văn bản này góp phần nâng cao nhận thức về các loại tội phạm liên quan đến tài sản, đồng thời tạo hành lang pháp lý vững chắc để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Việc ban hành các quy định này thể hiện sự quyết tâm của chính quyền trong việc duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức.
Thông tư 442/TTg ngày 19-01-1955 quy định rõ các biện pháp xử lý các tội phạm như trộm cắp, cướp đường, cướp của, trộm có tổ chức, sử dụng vũ khí đe dọa hoặc gây tổn hại Các tội danh này được quy định rõ ràng trong các điều luật cụ thể, với mô tả hành vi vi phạm và hình phạt tương ứng, nhằm đảm bảo pháp luật nghiêm minh và trật tự xã hội.
Án lệ có sự khác biệt giữa các địa phương, dẫn đến các đường lối xét xử không thống nhất và thiếu rõ ràng Để đảm bảo tính nhất quán trong xét xử, cần có quy định chung nhằm hướng dẫn các Toà án thực thi công lý một cách đúng đắn và thống nhất Việc chuẩn hóa các án lệ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc trừng trị các tội phạm thông thường, đảm bảo sự công bằng và đúng pháp luật.
1 Trộm cắp: phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
- Cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực có dùng vũ khí để doạ nạt thì phạt tù từ 3 đến 10 năm.
- Cướp của mà có giết người có thể phạt đến tử hình.
2 Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm ”
15 Chương 4 Sắc lệnh số 47 của Chủ tịch chính phủ lâm thời ban hành ngày 10 tháng 10 năm 1945.
16 Điều thứ 1 Sắc lệnh số 27 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 28 tháng 02 năm 1946.
Sắc lệnh số 267/SL ngày 15-6-1958 quy định rõ hình thức xử lý các tội phạm xâm phạm sở hữu như trộm cắp, cướp bóc tài sản của Nhà nước, hợp tác xã và nhân dân Theo Điều 2 của sắc lệnh, kẻ phạm tội nhằm mục đích phá hoại bằng cách trộm cắp, lãng phí hoặc làm hư hỏng tài sản sẽ bị xử phạt từ 5 đến 20 năm tù Sắc lệnh nhằm bảo vệ tài sản Nhà nước và cộng đồng khỏi các hành vi trộm cắp, cướp bóc gây thiệt hại nghiêm trọng.
Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp năm
Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam, tăng cường vai trò lập pháp của các cơ quan tư pháp và tách riêng tư pháp khỏi hành chính, qua việc thành lập Toà án nhân dân tối cao Điều này đã đặt nền móng cho sự phát triển của luật hình sự Việt Nam, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật vững chắc hơn Theo Điều 40 của Hiến pháp 1959, tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được xác định là thiêng liêng và không thể xâm phạm, đồng thời công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng.
Trong năm 1970, Nhà nước đã ban hành hai Bản Pháp lệnh quan trọng, gồm Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân, đánh dấu bước ngoặt pháp lý lớn trong lịch sử lập pháp Việt Nam Các pháp lệnh này thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đối với các tội phạm chiếm đoạt tài sản, đặt nền móng cho việc quy định cụ thể các hành vi phạm tội trong lĩnh vực sở hữu Dù các quy định còn chung chung, chưa đầy đủ, nhưng đây là lần đầu tiên các tội xâm phạm sở hữu được trình bày rõ ràng bằng các điều luật cụ thể, có chế tài phù hợp và rõ ràng, nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm Các điều luật trong hai pháp lệnh này còn phân biệt rõ ràng giữa tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, trong đó các tội phạm liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa thường bị xử lý với mức hình phạt cao hơn so với các tội liên quan đến tài sản cá nhân.
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, ban hành ngày 21/10/1970, quy định rõ về các loại tội phạm, hình phạt và chính sách xử lý đối với các hành vi chiếm đoạt tài sản Pháp lệnh gồm 25 điều chia thành 3 chương, trong đó Chương 2 nêu rõ các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt như tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 4), tội cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 5), và tội trộm cắp.
Điều 2 của Sắc lệnh số 267/SL do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 15 tháng 6 năm 1958 quy định rõ về các hành vi phạm tội liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa Các điều khoản quan trọng như Điều 7 đề cập đến khái niệm tài sản xã hội chủ nghĩa, trong khi Điều 9 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Điều 10 quy định về tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, còn Điều 11 xử lý các hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.
Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 về các tội phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để điều chỉnh các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, Nhà nước tạm thời duy trì áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật của chế độ cũ dưới dạng Sắc lệnh Trong giai đoạn 1959 – 1985, Pháp lệnh và Sắc luật đóng vai trò quan trọng hơn trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ban đầu được quy định bởi các văn bản dưới luật như Sắc lệnh, sau đó được quy định trong Pháp lệnh và Sắc luật, trở thành nền tảng pháp lý quan trọng để Nhà nước đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Những văn bản này thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong việc nghiêm trị các hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước và công dân, đồng thời là nền tảng cho việc ban hành các quy định pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt về sau.
1.3.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 về các tội phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Trước những hạn chế của các quy định pháp luật trước đây, yêu cầu về một văn bản pháp luật hệ thống và toàn diện trở nên cấp thiết để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu chiếm đoạt trong thời kỳ mới Một văn bản pháp luật mới cần phải có tính thống nhất, mang giá trị pháp lý cao và phù hợp với quá trình phát triển xã hội hiện đại Vì vậy, ngày 27/06/1985, Quốc hội khóa VII đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1985 nhằm đáp ứng yêu cầu này và đảm bảo sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
Luật Hình sự năm 1985 (BLHS 1985) bao gồm 2 phần chính: phần chung gồm 8 chương và phần các tội phạm gồm 12 chương, tổng cộng 280 điều luật Vấn đề sở hữu được phân thành hai loại chính là sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân Các hành vi xâm phạm sở hữu chia thành hai loại tương ứng với hai loại sở hữu, đó là xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và xâm phạm sở hữu của công dân Các tội xâm phạm sở hữu được quy định cụ thể trong hai chương của Phần các tội phạm: Chương 4 “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” gồm 14 điều (Điều 129 đến Điều 142), và Chương 6 “Các tội xâm phạm sở hữu công dân” gồm 13 điều (Điều 151 đến Điều 163).
Về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, BLHS năm 1985 quy định ở
Chương 4 quy định các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa, bao gồm nhiều loại tội danh như cướp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 129), cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 130), cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 131), trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 132), và lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều ) Những tội danh này thể hiện rõ các hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định về sở hữu xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ trật tự và an toàn xã hội.
Chương 6 của pháp luật quy định rõ các tội xâm phạm sở hữu của công dân, bao gồm các hành vi như cướp tài sản (Điều 151), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 152), cưỡng đoạt tài sản (Điều 153), cướp giật hoặc chiếm đoạt công khai tài sản của công dân (Điều 154), trộm cắp tài sản (Điều 155), lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản (Điều 156), lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 157), và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 158) Các hành vi này đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu của người dân.
Trong nội dung, các tội danh như tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định trong các chương liên quan đến xâm phạm sở hữu của công dân, có dấu hiệu pháp lý tương tự nhau về mặt khách quan như hành vi cướp, cưỡng đoạt và mặt chủ quan với lỗi trực tiếp, cùng chủ thể là chủ thể thường Các cặp tội danh chỉ khác nhau về dấu hiệu khách thể, chủ yếu là quan hệ sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc sở hữu tài sản của công dân, và mỗi tội danh đều được cụ thể hóa trong BLHS năm 1985 với các dấu hiệu pháp lý rõ ràng, thể hiện các tình tiết định khung tăng nặng nhằm phản ánh mức độ nguy hiểm gây ra cho xã hội.
Các tình tiết định khung tăng nặng trong Bộ luật Hình sự năm 1985 bao gồm các yếu tố như có tổ chức, sử dụng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm, gây thương tích nặng hoặc tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, gây hậu quả chết người, chiếm đoạt tài sản lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, tái phạm nguy hiểm, dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung hoặc tẩu thoát Những tình tiết này phản ánh mức độ nguy hiểm và tính chất của hành vi phạm tội, được quy định rõ ràng theo từng tội danh cụ thể để phù hợp với tính chất của hành vi phạm pháp.
Theo Bộ luật Hình sự năm 1985, các hình phạt đối với loại tội này được quy định đa dạng từ nhẹ đến nặng, gồm cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Tuy nhiên, còn tồn tại sự phân biệt giữa tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, trong đó tài sản xã hội chủ nghĩa được coi trọng hơn Do đó, mức hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thường được quy định phù hợp, nhằm bảo vệ tài sản của nhà nước và xã hội.
Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa bị xử lý nghiêm khắc hơn so với các tội xâm phạm sở hữu của công dân, thể hiện rõ trong các quy định của Bộ luật Hình sự Ngoài ra, năm 1985 còn quy định các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, phạt tiền, tịch thu tài sản, quản chế hoặc cấm cư trú từ một đến năm năm để tăng cường biện pháp xử lý tội phạm.
BLHS năm 1985 là Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam, được xây dựng dưới chế độ chuyên chính vô sản nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa Nó có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đồng thời, BLHS 1985 còn tập trung vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm để duy trì trật tự xã hội ổn định.
Ngay từ khi ban hành vào năm 1985, Bộ luật hình sự đã thể hiện những hạn chế và bất cập, không phù hợp với chủ trương đổi mới đất nước cũng như yêu cầu cấp thiết của thời kỳ mới Trong suốt 14 năm thi hành, Bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung hơn 100 lần, qua 4 lần sửa đổi lớn, nhưng vẫn còn tồn tại những điểm chưa phù hợp, đòi hỏi phải có những điều chỉnh mới để đáp ứng các yêu cầu về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường.
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
Tội cướp tài sản
Theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, tội cướp tài sản được mô tả là hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay lập tức để chiếm đoạt tài sản Đây cũng có thể là hành vi khác làm cho người bị tấn công rơi vào tình trạng bất khả kháng chống cự, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Tội cướp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng về mặt pháp lý, đòi hỏi phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
Khách thể của tội cướp tài sản
Hành vi phạm tội trong tội cướp tài sản xâm phạm đồng thời quan hệ nhân thân, như quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, và quan hệ sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải tác động lên người quản lý tài sản và xâm phạm quan hệ nhân thân của họ Trong quá trình phạm tội, nếu người phạm tội chỉ xâm phạm một trong hai khách thể này thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất và mức độ nguy hiểm của tội cướp tài sản.
Tội phạm cướp tài sản có mức độ nguy hiểm cao khi vừa xâm phạm hai khách thể, tuy nhiên, quan hệ nhân thân thường được xem trọng hơn so với quan hệ sở hữu Vì lý do này, nhiều ý kiến cho rằng, tội cướp tài sản không nên xếp vào chương các tội xâm phạm sở hữu mà nên xem xét riêng để phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội này.
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người thường gây hậu quả nghiêm trọng đối với người bị hại Tuy nhiên, trong thực tiễn, mục đích chính của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản, còn việc gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe chỉ là thủ đoạn hỗ trợ để đạt được mục đích này Vì vậy, nhà làm luật đã xếp tội cướp tài sản vào chương “Các tội xâm phạm sở hữu” là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với pháp luật.
18 Đinh Văn Quế (2017), Bình luận BLHS năm 2015 - Phần thứ hai, Nxb Thông tin và Truyền thông, tr.14.15.
Tội cướp tài sản tác động chủ yếu đến hai đối tượng là con người và tài sản, trong đó con người thường là chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Vì tội danh này có đặc điểm cắt xén (CTTP), dấu hiệu định lượng về giá trị tài sản không bắt buộc phải có, nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định khung hình phạt phù hợp.
Mặt khách quan của tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản là hành vi phạm pháp có dấu hiệu khách quan rõ nét, trong đó chủ yếu quy định hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản Hành vi khách quan của tội cướp tài sản bao gồm việc sử dụng vũ lực, đe dọa ngay lập tức hoặc các hành vi khác khiến nạn nhân không thể chống cự để thực hiện hành vi phạm tội Đây là đặc điểm chính thể hiện tính chất nguy hiểm của tội phạm này, góp phần xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành động sử dụng sức mạnh vật chất như đánh, đá, bắn, chém để làm cho người bị tấn công không thể chống cự Tính chất của hành vi này thể hiện qua việc khiến nạn nhân mất ý chí chống cự, hoặc chống cự không có kết quả, thậm chí tê liệt ý chí để đảm bảo mục đích chiếm đoạt tài sản thành công Hành vi này nhằm làm cho sự phản kháng của nạn nhân không xảy ra hoặc bị vô hiệu hóa, đảm bảo người phạm tội chiếm đoạt tài sản dễ dàng hơn.
Hiện nay, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản Trong khoa học hình sự và thực tiễn tội phạm, hành vi này được hiểu là các hành động làm cho nạn nhân không thể chống cự được, dù không phải sử dụng vũ lực trực tiếp hoặc đe dọa ngay tức khắc Thực tế, các tội phạm thường sử dụng các phương pháp như bỏ thuốc ngủ, xịt Ete, hoặc cho uống thuốc mê, thuốc độc để gây mất khả năng phản kháng của nạn nhân, nhằm chiếm đoạt tài sản một cách thủ đoạn và nguy hiểm Các hành vi này thể hiện sự khéo léo, đa dạng song đều hướng tới mục đích làm suy yếu khả năng chống cự của người bị hại.
Chủ thể của tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản có chủ thể thường là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi trở lên đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản.
Mặt chủ quan của tội cướp tài sản
Người phạm tội cướp tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện Mục đích phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự đối với tội cướp tài sản Tuy nhiên, nếu hành vi tấn công xảy ra nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, mà để trả thù hoặc vì lý do khác, tùy từng trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh khác phù hợp.
2.1.3 Các tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản Điều 168 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản bao gồm:
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm trong đó các cá nhân phối hợp chặt chẽ để thực hiện hành vi phạm tội, thường là cướp tài sản Từ định nghĩa này cho thấy, phạm tội có tổ chức là hành vi của nhiều người cố ý cùng nhau bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, lập kế hoạch rõ ràng và phân chia nhiệm vụ cụ thể để thực hiện tội phạm Quá trình phạm tội có tổ chức còn được điều khiển thống nhất bởi người cầm đầu, giúp tăng tính hiệu quả và tính hệ thống của hành vi phạm tội.
- Có tính chất chuyên nghiệp;
Điều 17, khoản 2, Luật Hình sự năm 2015 quy định về trường hợp phạm tội nhiều lần, trong đó người phạm tội phải có từ năm lần trở lên phạm cùng một tội phạm, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa, miễn là chưa hết thời hiệu truy cứu hoặc chưa được xóa án tích Các lần phạm tội này đều diễn ra liên tục và người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống cũng như dựa vào kết quả của các vụ phạm tội để duy trì cuộc sống.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị tấn công mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
Tỷ lệ thương tích được xác định dựa trên mức độ thương tích của bị hại cũng như của những người khác liên quan, bao gồm cả thương tích do các hành vi phạm tội như cướp tài sản hoặc hành hung để tẩu thoát, góp phần đánh giá chính xác mức độ thiệt hại và mức độ nghiêm trọng của vụ việc.
- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Theo khoản 1 Điều 169 BLHS năm 2015, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.
Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và xâm hại đến hai quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ: quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Thực tế, người phạm tội thường xâm phạm đến tính mạng và sức khỏe của người bị bắt cóc, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người quản lý tài sản Trong một số trường hợp, người bị bắt cóc cũng là người bị xâm phạm quyền sở hữu tài sản.
Tội phạm trong vụ việc này tác động đến hai đối tượng chính là con người và tài sản Đầu tiên, tội phạm bắt cóc và tước đoạt quyền tự do của con người, sau đó sử dụng họ làm con tin để ảnh hưởng đến tài sản của người thân hoặc chính nạn nhân Tài sản ở đây được hiểu là bất kỳ giá trị vật chất nào, không phân biệt về số lượng hay giá trị Những người bị bắt giữ thường là chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc các cá nhân có quan hệ thân thiết như huyết thống, tình cảm hoặc công việc với chủ sở hữu tài sản, nhằm mục đích gây áp lực hoặc đòi hỏi tiền bạc từ nạn nhân hoặc người thân.
Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện rõ qua mặt khách quan với các hành vi như bắt cóc người làm con tin và uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản Những hành động này nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản trái phép, gây thiệt hại cho chủ sở hữu và xâm phạm trật tự xã hội Việc bắt cóc để đòi tiền hoặc chiếm đoạt tài sản cho thấy tính chất nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của loại tội phạm này Đồng thời, hành vi uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản là yếu tố đảm bảo tính khách quan của tội phạm, thể hiện rõ ý đồ phạm tội và sự chuẩn bị của các đối tượng phạm tội.
Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thường do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc theo các Khoản 2, 3, 4 Điều 169, đặc biệt là các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Ngoài ra, người từ đủ 16 tuổi trở lên đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này, thể hiện rõ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật pháp Việt Nam.
Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là họ nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện Tội bắt cóc để chiếm đoạt tài sản thể hiện ý thức chủ quan rõ ràng của người phạm tội về tính nguy hiểm của hành vi Việc này cho thấy họ biết rõ hậu quả của hành vi bắt cóc nhưng vẫn bỏ qua những nguy hiểm để đạt được mục đích tư lợi Nhận thức về tính chất nguy hiểm của hành vi là yếu tố quyết định lỗi cố ý của tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Mục đích chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc để xác định tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Nếu hành vi bắt cóc nhằm mục đích khác như xâm hại hoặc trả thù mà không hướng tới chiếm đoạt tài sản, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, mà có thể bị xử lý theo các tội danh liên quan như bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015) Trong trường hợp bắt cóc người dưới 16 tuổi mà không có ý định trả lại cho cha mẹ, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.
2.2.3 Các tình tiết định khung tăng nặng của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Điều 169 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản bao gồm:
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
- Bắt cóc người dưới 16 tuổi;
- Bắt cóc 02 người trở lên;
Điều 27 mục 5.2 trong Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn cách áp dụng các quy định liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu theo chương XIV của Bộ luật hình sự năm 1999 Thông tư này nhằm thống nhất việc xử lý các vụ án liên quan đến hành vi xâm phạm sở hữu, đảm bảo thực thi pháp luật đúng quy định Việc hướng dẫn này giúp các cơ quan tư pháp áp dụng đúng các quy định về các tội danh xâm phạm sở hữu, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chống tội phạm trong lĩnh vực sở hữu.
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
Hành vi gây thương tích, làm tổn hại sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% là hành vi vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm minh Các hành động này không chỉ gây tác động tiêu cực đến sức khỏe của nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống hàng ngày của họ Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% giúp phân định mức độ vi phạm, từ đó áp dụng các chế tài phù hợp nhằm đảm bảo trật tự xã hội và quyền lợi của nạn nhân.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Hành vi gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% là hành vi nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tâm trạng của nạn nhân.
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
Hành vi gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc làm rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân chiếm tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, phản ánh mức độ nghiêm trọng của âm mưu tấn công Đây là các hành động nguy hiểm, có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng cho người bị hại và cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật Việc này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động lớn đến tâm lý, tâm thần của nạn nhân, gây ra hậu quả lâu dài và phức tạp.
Các tình tiết được liệt kê trong bài viết tương tự như các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 Những yếu tố này đều góp phần xác định mức độ hình phạt nâng cao đối với hành vi phạm tội cướp tài sản Việc phân tích các tình tiết này giúp làm rõ các quy định pháp luật về tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các vụ án cướp tài sản.
2.2.4 Hình phạt của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hành vi đe dọa sử dụng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Đây là hành vi phạm pháp nghiêm trọng cần được xử lý rõ ràng theo quy định của pháp luật Việt Nam Người phạm tội có thể bị xử lý hình sự với các mức án phù hợp theo quy định của luật Tội cưỡng đoạt tài sản đòi hỏi phải có dấu hiệu đe dọa, thủ đoạn và hậu quả là việc chiếm đoạt tài sản của người khác.
Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản
Trong các hành vi phạm tội, người phạm tội đồng thời xâm phạm hai khách thể chính: quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu tài sản Tuy nhiên, phần lớn tội phạm chủ yếu tác động đến quan hệ sở hữu tài sản, còn quan hệ nhân thân thường bị xâm phạm một cách ít nghiêm trọng hơn so với các tội như cướp tài sản hay bắt cóc nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Khi xâm phạm quan hệ nhân thân, người phạm tội thường gây thiệt hại về tinh thần như sự hoang mang và lo sợ, thay vì thiệt hại về thể chất như tính mạng hoặc sức khỏe.
Tội phạm này tác động chính đến hai đối tượng là con người và tài sản Đối tượng con người thường là chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi phạm tội Trong khi đó, tài sản có thể là bất kỳ loại hình tài sản nào, không giới hạn về định lượng hoặc giá trị, phản ánh tính chất mở của tội danh này Tác động đến cả con người và tài sản cho thấy mức độ nguy hiểm và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của hành vi phạm tội.
Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản
Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện qua việc đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản Đặc biệt, việc đe dọa dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản không diễn ra ngay tức khắc như trong tội cướp tài sản, mà có thể kéo dài một khoảng thời gian nhất định để nạn nhân suy nghĩ, cân nhắc và đưa ra quyết định Thông thường, hành vi này được thực hiện qua cử chỉ, lời nói hoặc hành động nhằm khống chế ý chí của nạn nhân, gây ra sự lo sợ, hoang mang và mất kiểm soát, nhưng chưa đủ sức tê liệt ý chí của nạn nhân hoàn toàn.
Hành vi có thủ đoạn nhằm uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản là hành vi đe dọa gây thiệt hại cho nạn nhân hoặc người thân nhằm khống chế ý chí và tinh thần của họ Các thủ đoạn phổ biến của tội phạm bao gồm việc sử dụng các phương thức đe dọa nhằm ép buộc nạn nhân phải giao tài sản cho người phạm tội Việc hiểu rõ các hình thức đe dọa này giúp nâng cao ý thức phòng ngừa và chống lại các hành vi phạm pháp.
Trong các tình huống đe dọa tố cáo hành vi sai trái hoặc bí mật đời tư của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, thủ đoạn này thường nhằm mục đích gây áp lực hoặc kiểm soát Các hành động đe dọa có thể bao gồm việc công bố các bí mật về vi phạm pháp luật, hành vi ngoại tình hoặc chia sẻ những hình ảnh nhạy cảm nhằm mục đích thúc ép người khác theo ý muốn Việc này không chỉ gây tổn thương về mặt cá nhân mà còn ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của nạn nhân.
Hành vi thủ đoạn bịa đặt, vu khống nhằm gây ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự và nhân phẩm của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vẫn diễn ra phổ biến Những hành động này nhằm mục đích gây mất lòng tin, làm giảm uy tín để đòi hỏi họ phải giao tài sản một cách không chính đáng Việc sử dụng chiêu trò này là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về mặt uy tín và tài chính cho cá nhân hoặc tổ chức bị hại Chính vì vậy, cần tăng cường các biện pháp ngăn chặn và xử lý các hành vi vu khống, bịa đặt để bảo vệ danh dự cá nhân và đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản có chủ thể thường là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này theo các khoản 2, 3, 4 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đặc biệt là các trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên đều có nghĩa vụ chịu trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản.
Mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản
Người phạm tội bắt giữ hoặc cưỡng đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là họ nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn chủ ý thực hiện Việc này thể hiện rõ ý thức về tính chất nguy hiểm của hành vi, góp phần vào việc xác định trách nhiệm pháp lý của người phạm tội Hành vi cưỡng đoạt tài sản không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đe dọa đến an ninh trật tự xã hội, yêu cầu xử lý nghiêm minh để bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.
Mục đích phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc để xác định tội phạm cưỡng đoạt tài sản Nếu hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần chỉ nhằm mục đích khác mà không hướng đến việc chiếm đoạt tài sản, thì không đủ căn cứ để cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản; trong trường hợp này, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm phù hợp theo từng trường hợp cụ thể.
2.3.3 Các tình tiết định khung tăng nặng của tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội cưỡng đoạt tài sản bao gồm:
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Các tình tiết diễn ra trong bài viết giống như các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 Những yếu tố này đã được phân tích kỹ lưỡng ở phần trên, nhằm làm rõ các đặc điểm quan trọng để xác định mức độ tăng nặng hình phạt Việc nhận diện các tình tiết này giúp hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật liên quan đến tội cướp tài sản.
2.3.4 Hình phạt của tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được quy định thành năm khoản, trong đó khoản 1 đến khoản 4 mô tả các hình phạt chính, còn khoản 5 quy định về hình phạt bổ sung Các quy định này nhằm đảm bảo xử lý phù hợp và toàn diện đối với hành vi cưỡng đoạt tài sản Điều 170 còn thể hiện rõ các mức xử phạt tùy theo tính chất và mức độ vi phạm của từng vụ việc Việc hiểu rõ các khoản trong điều luật giúp người đọc nắm bắt đầy đủ các quy định pháp luật liên quan đến tội cưỡng đoạt tài sản.
Khoản 1 quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 quy định hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Khoản 3 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Khoản 4 quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Khoản 5 quy định hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội bao gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tội cướp giật tài sản
Cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai và nhanh chóng 28
28 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tlđd (chú thích số 9), tr.196.
Khách thể của tội cướp giật tài sản
Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản, thường nhắm vào các loại tài sản nhỏ, gọn, nhẹ như túi xách, điện thoại, trang sức quý giá hoặc các phương tiện di chuyển nhanh như ô tô, xe máy Trong một số trường hợp, hành vi phạm tội có thể xâm phạm đến quan hệ nhân thân như tính mạng, sức khỏe của người bị hại; tuy nhiên, tác động lên cơ thể chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản và gây thiệt hại cho quan hệ nhân thân không phải lúc nào cũng xảy ra, nên không phải là dấu hiệu định tội của tội cướp giật tài sản Đối tượng tác động chủ yếu của tội phạm này là tài sản, bất kể định lượng bao nhiêu.
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Tội cướp giật tài sản có nghĩa vụ vật chất rõ ràng, hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản khỏi sự quản lý của chủ sở hữu Mặc dù Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa mô tả rõ ràng hành vi khách quan của tội này, nhưng theo tác giả, hành vi khách quan của tội phạm là việc chiếm đoạt tài sản một cách công khai và nhanh chóng Hành vi chiếm đoạt tài sản chính là dấu hiệu pháp lý bắt buộc để cấu thành tội cướp giật tài sản.
Hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai thể hiện rõ tính chất khách quan của hành vi vi phạm, đồng thời người phạm tội đều thực hiện hành vi này một cách công khai, không che giấu Ngay khi hành vi xảy ra, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản có mặt và phát hiện tức thì, phản ánh tính cảnh giác cao trong việc bảo vệ tài sản Người phạm tội thể hiện ý thức chủ quan rõ ràng, không có sự che giấu hay lén lút trong việc thực hiện hành vi phạm tội của mình.
Dấu hiệu chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng thể hiện qua hành vi lợi dụng sơ hở của người bị hại, có thể là từ các điểm yếu cố tình hoặc tự nhiên, để tiếp cận và chiếm đoạt tài sản một cách bất ngờ Kẻ phạm tội thường thực hiện hành vi này một cách nhanh chóng, tạo ra yếu tố bất ngờ khiến người bị hại không kịp phản ứng hoặc giữ chặt tài sản trước khi bị tẩu tán Hành vi này thể hiện rõ nét của việc lừa đảo, tấn công tài sản một cách chủ động và đáng ngờ, gây thiệt hại về tài chính cho người bị hại.
Hành vi cướp giật tài sản thể hiện qua các hoạt động nhanh chóng giật lấy, giằng co và đoạt đoạt tài sản của người khác Thủ đoạn này thường được thực hiện bằng cách lợi dụng sự chủ quan của chủ sở hữu hoặc người có liên quan để thực hiện hành vi phạm pháp Cướp giật tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh để bảo vệ quyền sở hữu và an toàn của người dân.
Hành vi cướp giật tài sản xảy ra khi người phạm tội lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, hoặc đang điều khiển phương tiện để giật tài sản mà không chú ý hoặc gặp vướng mắc Trong quá trình phạm tội, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản cố chống cự để lấy lại tài sản nhưng bị người phạm tội sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc dùng vũ lực để chiếm đoạt, hành vi này sẽ chuyển đổi từ cướp giật thành hành vi cướp tài sản theo quy định của pháp luật.
Hành vi khách quan của tội phạm có thể gây thiệt hại về tài sản cũng như đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của người bị hại Vì tội cướp giật tài sản có cấu thành phạm tội vật chất, nên các dấu hiệu về hậu quả và mối quan hệ nhân quả là yếu tố pháp lý bắt buộc để xác định tính chất tội phạm.
Chủ thể của tội cướp giật tài sản
Tội cướp giật tài sản có chủ thể chủ yếu là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 171, đặc biệt là các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Người từ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này theo quy định của pháp luật.
Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản
Người phạm tội bắt cướp giật tài sản có lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện Đây là hành vi phạm tội mang tính ý thức rõ ràng, thể hiện sự cố ý trong việc gây nguy hiểm cho trật tự xã hội Việc xác định lỗi cố ý trực tiếp giúp làm rõ trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong hành vi cướp giật tài sản.
2.4.3 Các tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp giật tài sản Điều 171 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp giật tài sản bao gồm:
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
Dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản là hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản bằng cách gây nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe của người bị hại hoặc người khác Thủ đoạn này thường liên quan đến việc sử dụng xe mô tô, xe máy để thực hiện hành vi cướp giật trên đường, đặc biệt là nhắm vào người đang đi xe mô tô, xe máy nhằm tăng tính nguy hiểm và độ rủi ro của hành vi phạm pháp.
- Hành hung để tẩu thoát;
Theo mục 5.3, Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001, hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999 Nội dung này cung cấp hướng dẫn chi tiết nhằm đảm bảo việc xử lý các vụ án liên quan đến các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện đúng quy định của pháp luật Thông tư này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất các quy trình xét xử và xử lý các tội phạm về sở hữu theo quy định của luật pháp hiện hành.
Lưu ý rằng, trường hợp người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã bị người bị hại giành lại, mà người phạm tội tiếp tục sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để tấn công nhằm chiếm đoạt tài sản, thì đây không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
Hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên là hành vi nghiêm trọng Trong trường hợp này, hành vi đó có thể bị xử lý theo quy định pháp luật về bảo vệ sức khỏe và an toàn cộng đồng Việc xác định mức độ tổn thương cơ thể là yếu tố quan trọng để phân định trách nhiệm pháp lý và mức xử phạt phù hợp Do đó, cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các hành vi gây tổn hại đến sức khỏe người khác.
02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản xảy ra khi người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh chủ quan không có khả năng ngăn chặn để công khai lấy tài sản của người khác, với trị giá từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội liên quan Nếu phạm tội này hoặc các tội quy định tại các Điều 168 - 171, 173 - 175 và 290 Bộ luật Hình sự chưa được xóa án tích, hoặc hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hoặc tác động lên tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản, không liên quan đến quan hệ nhân thân Đặc điểm nổi bật của tội này là nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe là yếu tố định khung hình phạt Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, nếu người phạm tội tác động đến các quan hệ khác như quan hệ nhân thân, thì đó sẽ được xem là dấu hiệu của một tội phạm khác.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tác động trực tiếp đến tài sản của người khác Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi này chỉ bị xử lý hình sự khi trị giá tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới mức này nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt như tài sản thuộc loại quan trọng hoặc có giá trị đặc biệt.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội như tội cướp tài sản (Điều
168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều
Các hành vi vi phạm như cướp giật tài sản (Điều 171), trộm cắp tài sản (Điều 173), lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290) đều bị pháp luật xử lý nghiêm, kể cả khi chưa xóa án tích nhưng vẫn vi phạm quy định.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ Khi tài sản bị tác động, nếu thiệt hại không đủ để xác định mức độ thiệt hại hoặc không thuộc các trường hợp pháp luật quy định, thì hành vi đó không bị coi là phạm tội Đây là nguyên tắc cơ bản giúp phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật và những trường hợp không đủ yếu tố cấu thành tội phạm liên quan đến tài sản.
Mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được xác định khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm hữu tài sản trên thực tế, thể hiện qua hành vi công khai và không che đậy Hành vi khách quan của tội phạm là việc lợi dụng tình trạng không thể hoặc không có khả năng bảo vệ tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý để thực hiện việc chiếm đoạt Công khai và ngang nhiên chiếm đoạt tài sản phản ánh việc người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu hoặc các bên liên quan để thực hiện hành vi phạm tội một cách rõ ràng, không che giấu.
Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thường diễn ra khi người phạm tội lợi dụng sự sơ hở, vướng mắc khách quan hoặc hoàn cảnh đặc biệt như thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, chiến tranh, hoặc sau khi thực hiện các hành vi phạm tội khác như giết người, hiếp dâm, cưỡng dâm để chiếm đoạt tài sản Tính chất của hành vi này là công khai, diễn ra một cách rõ ràng và không che giấu Ngay khi xảy ra, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản phát hiện kịp thời hành vi chiếm đoạt, trong khi người phạm tội có ý thức chủ quan công khai hành vi của mình mà không che giấu.
Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là gây thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Giá trị này được định lượng từ 2.000.000 đồng trong trường hợp thông thường hoặc dưới mức này nhưng thuộc các trường hợp luật định Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản và thiệt hại gây ra là dấu hiệu pháp lý bắt buộc để xác định tội phạm.
Chủ thể của tội phạm của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có chủ thể thường là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
Mặt chủ quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tức là họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó Họ vẫn tiến hành hành vi với mong muốn hậu quả xảy ra, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Điều này thể hiện rõ ý thức chủ quan của tội phạm và mục đích phạm tội rõ ràng.
2.5.3 Các tình tiết định khung tăng nặng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Điều 172 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản bao gồm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Hành hung để tẩu thoát;
- Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
Hàng cứu trợ gồm các loại thực phẩm, nước uống, quần áo, hàng gia dụng, thuốc chữa bệnh, sách vở và vật tư phục vụ sản xuất, sửa chữa, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội Đây là các sản phẩm thiết yếu nhằm hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai, giúp người dân khôi phục nhà cửa và ổn định cuộc sống Các mặt hàng này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động cứu trợ nhân đạo, góp phần giảm bớt ảnh hưởng của thiên tai đến cộng đồng.
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Theo mục 2.3, Thông tư 72/2008/TT-BTC ngày 31/07/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ, quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện nhằm hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, các sự cố nghiêm trọng, cũng như giúp đỡ các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Các tình tiết được liệt kê trong bài viết tương tự như các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ hành vi phạm tội và xác lập các tình tiết tăng nặng Hiểu rõ các tình tiết này giúp nâng cao nhận thức pháp luật và đảm bảo thực thi đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
2.5.4 Hình phạt của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 5 khoản, trong đó khoản 1 đến khoản 4 quy định các hình phạt chính, còn khoản 5 đề cập đến hình phạt bổ sung Các quy định này giúp xác định rõ mức độ và hành vi phạm tội, từ đó đảm bảo xử lý đúng theo pháp luật Việc hiểu rõ khung hình phạt của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản rất quan trọng trong quá trình tố tụng hình sự và tố giác tội phạm.
Khoản 1 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm và hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Khoản 3 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Khoản 4 quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
Khoản 5 quy định hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội bao gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
2.6 Tội trộm cắp tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá từ bốn triệu đồng trở lên, hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này hoặc các tội liên quan theo quy định tại các Điều 168 đến 173 của Bộ luật hình sự Việt Nam.
Theo quy định tại điều 174 và 290 của Bộ luật này, những người chưa được xóa án tích vẫn có thể vi phạm pháp luật nếu hành vi của họ liên quan đến các trường hợp đặc biệt Đặc biệt, các hành vi này có thể ảnh hưởng đến tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc gia đình họ, gây hậu quả nghiêm trọng đến cuộc sống và sinh kế của các bên liên quan Vi phạm pháp luật trong các trường hợp này cần phải xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo công bằng và đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản qua các hợp đồng rồi sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó Người phạm tội cố tình không trả lại tài sản khi đến thời hạn, dù có điều kiện và khả năng, nhằm trục lợi cá nhân hoặc chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp.
Vay, mượn hoặc thuê tài sản của người khác thông qua các hợp đồng hợp pháp, tuy nhiên nếu sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp sẽ dẫn đến không thể hoàn trả lại tài sản đúng hạn, gây thiệt hại và vi phạm quy định pháp luật.
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tập trung vào việc xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản, tương tự như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khác với các tội phạm khác, hành vi phạm tội này không ảnh hưởng đến mối quan hệ nhân thân, mà chủ yếu liên quan đến quyền sở hữu tài sản của các bên.
Trong tội danh này, đối tượng tác động chính là tài sản hợp pháp mà người phạm tội nhận được dựa trên các hợp đồng hợp pháp như hợp đồng vay hoặc hợp đồng gửi giữ tài sản Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi phạm tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ được coi là phạm tội khi tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên trong các trường hợp thông thường hoặc dưới mức đó nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt quy định.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội như tội cướp tài sản (Điều
168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều
Các hành vi phạm tội trong Bộ luật hình sự bao gồm tội cướp giật tài sản (Điều 171), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản (Điều 173), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290) Những người phạm các tội này mà chưa được xóa án tích vẫn còn vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh trật tự.
38 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (chú thích số 9), tr.209.
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản có tính chất vật chất rõ ràng Hành vi khách quan của tội này thể hiện qua các dạng khác nhau, phản ánh rõ nét sự lạm dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản Việc xác định các hành vi này giúp làm rõ căn cứ pháp lý và nâng cao hiệu quả xử lý các vụ việc liên quan Đảm bảo hiểu đúng các dạng hành vi này là bước quan trọng trong công tác phòng chống và xử lý tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Người phạm tội nhận tài sản một cách hợp pháp dựa trên hợp đồng trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt Sau khi đã nhận được tài sản, họ tiến hành chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản bằng các thủ đoạn như gây rối, lừa đảo hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối Việc này thể hiện rõ hành vi phạm pháp sau khi đã hợp thức hóa việc nhận tài sản ban đầu.
Các hành vi gian dối như đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản, cung cấp thông tin sai lệch nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả lại tài sản hoặc chỉ trả lại một phần hoặc chất lượng thấp hơn so với hợp đồng đều vi phạm pháp luật Những thủ đoạn này gây thiệt hại cho quyền lợi của người bị hại và cần được xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật Việc sử dụng các chiêu trò lừa đảo để chiếm đoạt tài sản không những vi phạm đạo đức, mà còn có thể bị xử lý hình sự, đảm bảo trật tự công bằng trong giao dịch dân sự.
Hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản là hành vi của người phạm tội rời khỏi nơi làm việc hoặc nơi sinh sống, tìm đến nơi người đòi lại tài sản không biết, cắt liên lạc nhằm trốn tránh trách nhiệm trả lại tài sản Đây là hành vi trái pháp luật, thể hiện sự cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật.
Dù có điều kiện và khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản đúng hạn, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu Hiện nay, các cơ quan chuyên môn vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về tình tiết “mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” trong các trường hợp này Việc này đặt ra thách thức trong việc xử lý các vụ việc liên quan đến chậm trả lại tài sản, đòi hỏi cần có quy định rõ ràng để đảm bảo công bằng và xác định đúng trách nhiệm của các bên.
Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp sẽ dẫn đến tình trạng không thể hoàn trả lại tài sản đó Khi nhận tài sản hợp pháp từ người khác, nhưng sau đó sử dụng vào các hoạt động phạm pháp như buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, vũ khí, hoặc chất phóng xạ, người vi phạm đã gây ra hậu quả không có khả năng hoàn trả tài sản Điều này làm rõ mối liên hệ giữa hành vi phạm pháp và việc tài sản không thể được trả lại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tài sản của chủ sở hữu hợp pháp.
Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Mức thiệt hại này được xác định từ 4.000.000 đồng trở lên trong các trường hợp thông thường hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng phù hợp với các quy định pháp luật Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi lạm dụng tín nhiệm và thiệt hại gây ra là yếu tố bắt buộc để xác định đây là tội phạm hợp pháp.
Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường có chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự Người phạm tội phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 Đây là yếu tố quan trọng để xác định hành vi phạm tội này theo pháp luật Việt Nam.
2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS đối với tội này.
Mặt chủ quan của của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản