1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

131 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi ban Bộ luật hình sự năm 1999 ban hành, tội đánh bạc tiếp tục được đề cập trong giáo trình Giáo trình luật hình sự Việt Nam – của trường Đại học Luật HN, NXB Công an nhân dân, Hà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ PHƯƠNG LAN

§ÞNH TéI DANH §èI VíI TéI §¸NH B¹C

THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

(TR£N C¥ Së sè liÖu thùc tiÔn §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Phương Lan

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt trong luận văn

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 7

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 7

1.1.1 Khái niệm định tội danh 7

1.1.2 Các đặc điểm của hoạt động định tội danh 11

1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh trong hoạt động tố tụng 15

1.1.4 Điều kiện đảm bảo cho việc định tội danh đối với tội đánh bạc 16

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 21

1.2.1 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với tội đánh bạc 21

1.2.2 Cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với tội đánh bạc 24

1.3 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI ĐÁNH BẠC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 26

1.4 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐÁNH BẠC CHO ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 30

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 30

Trang 4

1.4.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến

trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 38

1.5 TỘI ĐÁNH BẠC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 42

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐÁNH BẠC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ LOẠI TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 46

2.1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐÁNH BẠC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 46

2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý của tội đánh bạc 46

2.1.2 Hình phạt 51

2.1.3 Một số điểm mới sửa đổi, bổ sung 55

2.2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI ĐÁNH BẠC TẠI CẤP SƠ THẨM VÀ CẤP PHÚC THẨM 58

2.2.1 Định tội danh tại cấp sơ thẩm 58

2.2.2 Định tội danh tội đánh bạc tại cấp phúc thẩm 61

2.3 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI ĐÁNH BẠC CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 61

2.3.1 Phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử tội đánh bạc 61

2.3.2 Một số tồn tại, vướng mắc trong xét xử tại cấp sơ thẩm 67

2.3.3 Nguyên nhân của các tồn tại, vướng mắc trong xét xử tội đánh bạc trên địa bàn thành phố Hà Nội 93

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 96

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 96

Trang 5

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA

BLHS VỀ TỘI ĐÁNH BẠC VÀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC

VĂN BẢN HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG THỐNG NHẤT PHÁP

LUẬT VỀ TỘI PHẠM NÀY 100

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của BLHS về tội đánh bạc 100

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định tại điều 248 Bộ luật hình sự 101

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 106

3.3.1 Giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ 106

3.3.2 Giải pháp về đạo đức nghề nghiệp 109

3.3.3 Giải pháp về tổ chức cán bộ 109

3.3.4 Một số giải pháp khác 110

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

CTTP: Cấu thành tội phạm ĐTD: Định tội danh

PLHS: Pháp luật hình sự TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự TP: Thành phố

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

2 Bảng 2.2: Phân tích hình phạt đƣợc áp dụng đối với các

bị cáo bị Tòa án xét xử về tội danh đánh bạc

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Định tội danh (ĐTD) là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh, chính xác đồng thời là cơ sở cho việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét

xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Việc ĐTD sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, đặc biệt là không đảm bảo được tính có căn cứ của hình phạt được tuyên, xét

xử không đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đây cũng là một nguyên nhân của tình trạng oan sai đang tồn tại hiện nay

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nước

ta, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội đạt được Thì mặt trái của sự phát triển này cũng đã và đang tác động sâu sắc tới đời sống xã hội của đất nước Biểu hiện là các tội, tệ nạn xã hội gia tăng và diễn biến phức tạp, trong số đó có tội phạm đánh bạc Đánh bạc xuất phát từ các trò chơi, nhưng nó không mang mục đích giải trí thông thường mà nhằm sát phạt nhau

về kinh tế, tác động tiêu cực đến xã hội Trong những năm gần đây, mặc dù công tác phòng chống tội đánh bạc đã thực sự được chú trọng, nhưng thực sự được chú trọng, nhưng thực tế cho thấy tình hình tội đánh bạc diễn ra hết sức phức tạp Tội đánh bạc tồn tại dưới nhiều hình tức với quy mô lớn nhỏ khác nhau, tài sản là phương tiện thanh toán việc được thua có giá trị không ngừng tăng lên theo nhịp độ phát triển kinh tế, những thủ đoạn mà các chủ thể sử dụng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn Gắn liền với những thông số đó, thiệt hai mà tội đánh bạc gây ra cho xã hội cũng tăng lên đáng kể Ở bình diện

Trang 9

rộng, chúng trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, ở bình diện hẹp, chúng gây ra những thiệt hại nặng nề về cả vật chất và tinh thần cho gia đình người phạm tội và bản thân những người đó Các con bạc xuất hiện ở tất cả các tầng lớp, ngành nghề trong xã hội, thậm chí không ít quan chức giữ những vị trí quan trọng, then chốt trong bộ máy Nhà nước cũng tham gia tệ nạn này Thêm vào đó là những sai phạm trong xử lý của các cơ quan tố tụng, hành vi tham nhũng, bảo kê của một bộ phận không nhỏ của cơ quan lực lượng chức năng… là những nguyên nhân khiến tệ nạn cờ bạc ngày càng nhức nhối, thách thức chính quyền, làm mất niềm tin của nhân dân Tội đánh bạc là loại tội phạm nguy hiểm gây hậu quả nghiêm trọng cho toàn xã hội, xâm hại đến các quan hệ xã hội, gây mất trật tự công cộng của xã hội Loại tội phạm này còn kéo theo sự phát triển của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như tội tham nhũng, tham ô, ma túy, mại dâm, trộm cắp, cướp tài sản

Tội đánh bạc là tội phạm phổ biến, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của nhân dân, làm tha hóa đạo đức của một bộ phận dân cư, gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình Vì vậy, đấu tranh phòng chống, tiến tới đẩy lùi tội phạm đánh bạc ra khỏi đời sống xã hội đã và đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho toàn hệ thống chính trị của nước ta Thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội đánh bạc trong giai đoạn hiện nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các địa phương trên cả nước, trong đó có Thành phố Hà Nội

Hiện nay tội, tệ nạn đánh bạc xuất hiện ở mọi nơi trên địa bàn Thành phố Hà Nội có xu hướng tăng cao, đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho

xã hội và quá trình phát triển kinh tế của địa phương Thực trạng trên đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có biện pháp tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm đánh bạc, ngăn chặn những thiệt hại mà tội phạm gây ra cho

xã hội Hiện nay tệ nạn đánh bạc được biến tướng theo rất nhiều hình thức

Trang 10

có thể đánh bạc, gá bạc, hay là tổ chức đánh bạc nên vấn đề ĐTD đối với loại tội phạm này rất quan trong Đây còn là lý do để chúng tôi quyết định

lựa chọn đề tài: “Định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” làm luận

văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội đánh bạc là tội phạm có tính chất phức tạp cao, đã được một số nhà làm luật học đề cập trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam – của trường Đại học Luật HN, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 1998; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) khoa Luật, Đại học Quốc Gia HN, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Bình luận khoa học của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1987 (tái bản năm 1992, 1997)

Sau khi ban Bộ luật hình sự năm 1999 ban hành, tội đánh bạc tiếp tục được đề cập trong giáo trình Giáo trình luật hình sự Việt Nam – của trường Đại học Luật HN, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2000; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) khoa Luật, Đại học Quốc Gia HN, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2002; Bình luận khoa học BLHS năm 1999 NXB Công an nhân dân…

Ngoài ra còn có các công trình khoa học khác đã nghiên cứu đến tội đánh bạc như: Các công trình nêu trên trong góc độ nào đó đã đề cập đến các dấu hiệu của tội đánh bạc, tình hình đấu tranh, phòng chống trách nhiệm hình

sự đối với loại tội này… tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về việc ĐTD đối với tội đánh bạc

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội đánh bạc, nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống làm cơ

Trang 11

sở cho hoạt động ĐTD đối với loại tội phạm này, góp phần nâng cao hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đánh bạc

Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một số vướng mắc, tồn tại trong công tác định tội, xử lý để đề xuất những kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành về tội đánh bạc

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó "Định tội

danh tội đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội"

Trang 12

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VII, IX, X và các Nghị quyết số 8-NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thông kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thực khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những đóng góp mới về khoa học

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về việc định đối với tội đánh bạc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hà Nội

Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:

- Làm rõ được những vấn đề cơ bản của hoạt động định tội danh; khái niệm tội đánh bạc và các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm này trong pháp luật hình sự hiện hành

- Phân tích, đánh giá đúng thực tiễn xét xử tội đánh bạc trên địa bàn Thành phố Hà Nội, phân tích, làm rõ những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn xét xử tội đánh bạc và nguyên nhân của nó

Trang 13

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

áp dụng quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội đánh bạc

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội đánh bạc và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn xét

xử trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

Những giải pháp đề cập trong đề tài luận văn giúp các cơ quan có thẩm quyền xem xét, nghiên cứu áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm đánh bạc

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các

cơ quan bảo vệ pháp luật

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội đánh bạc Chương 2: Những quy định về tội đánh bạc trong Bộ luật hình sự năm

1999 và thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và

nâng cao hiệu quả của việc định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA

HOẠT ĐỘNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC

1.1.1 Khái niệm định tội danh

Một trong những hoạt động tố tụng quan trọng, xuyên suốt tất cả các giai đoan tố tụng từ điều tra, truy tố, xét xử và có ý nghĩa quyết định đến toàn

bộ quá trình giải quyết vụ án, đó là hoạt động ĐTD ĐTD được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện từ giai đoạn tiền khởi tố cho đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, thậm trí có thể xảy ra cả trong trường hợp tái thẩm, giám đốc thẩm nếu có căn cứ… nhằm tìm ra bản chất thật sự của hành vi phạm tội, từ đó áp dụng đúng điều luật, đúng khung hình phạt đối với người phạm tội

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, có một số nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra những quan điểm như sau:

Theo quan điểm của GS TSKH Lê Cảm: “ĐTD là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách – trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được

và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định” [3, tr.11]

Còn quan điểm của TS Lê Văn Đệ, ông đưa ra khái niệm ĐTD như

sau: “ĐTD là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác

giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dâu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định” [9, tr.108]

Trang 15

Về khái niệm này, TS Dương Tuyết Miên cho rằng: “ĐTD là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên gọi cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện" [21, tr 9]

Cũng về khái niệm ĐTD, TS.Trịnh Quốc Toản cho rằng: “ĐTD là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong BLHS Nói cách khác định tội là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội nào trong số các tội phạm được quy định trong BLHS” và “ĐTD là một quá trình logic nhất định, là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiểm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự” [33, tr.7 – 8]

Nhìn chung trong các khái niệm về ĐTD nêu trên, mặc dù các tác giả xây dựng với những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều đã phản ánh được 3 yếu tố cần thiết của hoạt động ĐTD, đó là: yếu tố về chủ thể của hoạt động ĐTD; yếu tố về việc nhận thức (đánh giá, phân tích) đối với hành vi phạm tội

và yếu tố về đối chiếu, so sánh kết quả nhận thức đó với quy định pháp luật hình sự Nói cách khác, đó chính là: Chủ thể, chủ quan (nhận thức) và cơ sở pháp lý của ĐTD Bên cạnh việc đưa ra khái niệm ĐTD, các tác giả nêu trên còn đưa ra những hình thức (dạng) của ĐTD, nhằm phân biệt hoạt động ĐTD nào đó có giá trị pháp lý được pháp luật đảm bảo thi hành án (mang tính cưỡng chế bắt buộc), còn hoạt động ĐTD nào chỉ mang tính tham khảo, không phát sinh tính pháp lý

Trang 16

Theo GS.TSKH Lê Cảm, có hai hình thức ĐTD: ĐTD chính thức và ĐTD không chính thức Trong đó, ĐTD chính thức “là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện” Còn ĐTD không chính thức “là

sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể” [5, tr.12-13] Quan điểm của TS Lê Văn Đệ và TS Dương Tuyết Miên cũng đồng nhất với GS.TSKH Lê Cảm về các hình thức ĐTD như trên, đó là đều thừa nhận có hai hình thức ĐTD với những đặc điểm

về chủ thể và hậu quả pháp lý như sau:

- Một là ĐTD chính thức: Do các cơ quan tiến hành tố tụng và một số

cơ quan khác có thẩm quyền thực hiện, nhằm giải quyết vụ án cụ thể Hình thức này có giá trị pháp lý và được bảo đảm thực hiện

- Hai là ĐTD không chính thức: Do các luật gia, luật sư, cán bộ nghiên cứu khoa học, cơ quan, tổ chức, báo chí… thực hiện, nhằm nêu lên những quan điểm cá nhân về một hành vi có dấu hiệu tội phạm Hình thức này không

có giá trị pháp lý để giải quyết vụ án

Như vậy theo quan điểm trên, mỗi tác giả đã xây dựng một khái niệm ĐTD riêng, mang bản sắc của mình Trong đó, khái niệm ĐTD của TS Lê Văn Đệ mặc dù phần nào đã đề cập đến hai dạng ĐTD chính thức và không chính thức, nhưng nội dung còn chung chung, chưa cụ thể và chưa phản ánh được các chủ thể của hoạt động ĐTD là ai Bên cạnh đó, trong khái niệm ĐTD của TS Lê Văn Đệ có nêu “các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể”, nghĩa là ở đây ông đã khẳng định có “Tội phạm” xảy ra Tuy nhiên trong thực tiễn, bước đầu tiên của ĐTD là xác định xem có tội phạm xảy ra hay không, sau khi xác định có tội phạm xảy ra, mới đến bước tiếp theo là xác định tội phạm đó tên là gì, được quy định tại điều nào của BLHS

Còn khái niệm ĐTD của TS Dương Tuyết Miên, khái niệm này đã phản ánh cụ thể hơn, sát với thực tiễn hơn và đã chỉ ra được chủ thể của hoạt động

Trang 17

ĐTD là các cơ quan tiến hành tố tụng Điểm đáng lưu ý trong khái niệm ĐTD của TS Dương Tuyết Miên so với khái niệm ĐTD của TS Lê Văn Đệ là bà

đã nêu ra được bước đầu tiên của ĐTD, đó là “ xác định một người có phạm tội hay không” (bước định tội) và sau đó “ nếu phạm tội thì đó là tội gì” (bước ĐTD) Tuy nhiên, mặc dù bà đã thừa nhận có hai hình thức ĐTD là: ĐTD chính thức và ĐTD không chính thức, nhưng trong khái niệm của bà chỉ mới

đề cập đến ĐTD ở dạng chính thức, mà chưa đề cập đến dạng không chính thức Điều này được thể hiện ở chỗ bà nêu rõ các chủ thể trong hoạt động ĐTD là các cơ quan tiến hành tố tụng và một số các cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật – đây chỉ là chủ thể của dạng ĐTD chính thức Trong khi đó, chủ thể của dạng ĐTD không chính thức còn là những luật gia, luật sư, cán bộ nghiên cứu khoa học, cơ quan, tổ chức, báo chí…

Khác với quan điểm của tác giả Lê Văn Đệ và Dương Tuyết Miên về ĐTD, PGS TS Trịnh Quốc Toản đã nêu ra được những vấn đề mang tính bản chất, những yếu tố cần thiết của hoạt động ĐTD, trong đó về mặt quan điểm khoa học, ông và GS.TSKH Lê Cảm đều có quan điểm đồng nhất đối với khái niệm ĐTD này

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi thấy cần đưa ra một khái niệm ĐTD bao quát được cả hai dạng: chính thức và không chính thức, rồi sau đó đưa ra một khái niệm riêng cho dạng ĐTD chính thức nhằm phân biệt và làm rõ hơn về hoạt động của ĐTD này Theo quan điểm của chúng tôi,

có thể khái niệm ĐTD chung như sau: “ĐTD là hoạt động nghiên cứu, phân tích đánh giá một hành vi nguy hiểm cho xã hội trên cơ sở các tài liệu, chứng

cứ thu thập được do các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện, nhằm xác định hành vi đó có phải là tội phạm hay không, nếu là tội phạm thì tội phạm đó được quy định trong điều luật nào của BLHS hiện hành”

Về khái niệm ĐTD theo dạng chính thức, có thể xây dựng như sau:

“ĐTD là một hoạt động tố tụng chỉ của riêng các cơ quan tiến hành tố tụng,

Trang 18

người tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS, bằng phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ của mình để tìm ra

và “ đặt tên” cho một hành vi phạm tội

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến hình thức ĐTD chính thức do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Chính vì vậy, những vấn đề liên quan đến khái niệm ĐTD đều được hiểu là tác giả đề cập đến dạng

“ĐTD chính thức”

Khái niệm ĐTD nêu trên chỉ là việc ĐTD trong hoạt động tố tụng nói chung, mang ý nghĩa khoa học áp dụng cho toàn bộ các loại tội phạm Còn đối với việc ĐTD đối với tội đánh bạc là một hoạt động tố tụng cụ thể của các

cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện, mang ý nghĩa thực tiễn Trong đó, trên cơ sở các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội đánh bạc, các cơ quan tiến hành tố tụng (hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS) phân tích, đánh giá nhằm xác định hành vi phạm tội

đó có phải là hành vi đánh bạc hay không để từ đó ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật

Trong BLHS năm 1999, tại Điều 248 có tên gọi là “ Tội đánh bạc” Như vậy trên cơ sở lý luận về ĐTD, căn cứ theo quy định tại Điều 248 của BLHS và các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội đánh bạc, có thể đưa ra khái niệm về việc ĐTD đối với tội đánh bạc như sau: “ ĐTD tội đánh bạc là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) hoặc các cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS, nhằm xem xét đánh giá, phân tích một hành vi phạm tội có thỏa mãn những dấu hiệu của tội đánh bạc hay không, nếu đúng thì nó thuộc điểm, khoản nào của Điều 248 BLHS”

1.1.2 Các đặc điểm của hoạt động định tội danh

- ĐTD đối với tội đánh bạc là hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành

Trang 19

bởi cơ quan tiến hành tố tụng (bao gồm cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và người tiến hành tố tụng hình sự (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán)

+ ĐTD trong giai đoạn điều tra: ĐTD ở giai đoạn này do cơ quan điều tra (bao gồm cả cơ quan được giao một số hoạt động điều tra được quy định trong tổ chức điều tra hình sự) thực hiện

+ Trong giai đoạn này việc ĐTD được tiến hành từ khi phát sinh các căn cứ để khởi tố vụ án Các căn cứ để khởi tố vụ án gồm:

* Tố giác của công dân: Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan

Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan khác của nhà nước hoặc với

tổ chức xã hội Việc tố giác có thể bằng miệng, nếu bằng miệng thì cơ quan tổ chức phải lập văn bản và lấy chữ ký người đó Ví dụ: có địa bàn thường xuyên xảy ra tệ nạn đánh bạc gây mất trật tự công cộng, an ninh địa phương, gây nhức nhối trong quần chúng nhân dân, nên đã có rất nhiều vụ án đánh bạc đều được nhận tin báo của quần chúng nhân dân

* Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội: Cơ quan tổ chức

khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo ngay tin về tội phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản để cơ quan điều tra xem xét có dấu hiệu của tội phạm hay không để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố Ví dụ: thường những vụ án đánh bạc được quần chúng nhân dân báo tin cho Ban công an xã, phường, sau đó được báo về Cơ quan điều tra

* Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Khi có tin báo trên

các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài… thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành thu thập,xác minh xem xét tin báo đó nếu thấy có dấu hiệu của hành vi đánh bạc thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

* Người phạm tội tự thú: Đây là trường hợp chưa bị phát hiện nhưng

người phạm tội đã chủ động ra trình báo với cơ quan có thẩm quyền về hành

Trang 20

vi của mình Trên cơ sở việc tự thú, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ xác định dấu hiệu về tội phạm tự thú đã thực hiện và tiến hành ra quyết định khởi

tố hình sự Đối với hành vi đánh bạc thì trường hợp người phạm tội tự thú là trường hợp hiếm gặp, và hầu như không thấy

Việc ĐTD cũng được tiến hành trong các trường hợp: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thay đổi tội danh trong quá trình điều tra, phục hồi điều tra, khởi tố bị can, kết luận điều tra Việc ĐTD ở giai đoạn này là tiền đề cơ sở cho hoạt động ĐTD ở giai đoạn truy tố và xét xử

+ ĐTD trong giai đoạn truy tố: ĐTD ở giai đoạn này do Viện kiểm sát thực hiện Việc ĐTD được tiến hành trong các trường hợp: Truy tố bị can, đình chỉ điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung

Việc ĐTD ở giai đoạn này là tiền đề và cơ sở cho hoạt động ĐTD ở giai đoạn xét xử và là cơ sở cho việc ĐTD lại ở giai đoạn điều tra nếu vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ xung

+ ĐTD ở gia đoạn xét xử: ĐTD ở giai đoạn này do Tòa án quyết định Việc ĐTD được tiến hành trong các trường hợp: Xét xử vụ án, đình chỉ vụ án, trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ xung

Việc ĐTD ở giai đoạn này là cơ sở cho việc kết luận vụ án hoặc là cơ

sở cho việc định danh lại của giai đoạn điều tra truy tố nếu vụ án bị trả hồ sơ

để tiến hành điều tra lại hoặc điều trả bổ sung

- ĐTD đối với tội đánh bạc được tiến hành trên cơ sở áp dụng Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Pháp luật tố tụng hình sự (luật về hình thức) và pháp luật hình sự (luật về nội dung) đều là những căn cứ pháp lý để ĐTD đối với tội đánh bạc

Việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự có thể xem là hình thức pháp lý của hoạt động ĐTD Ở tội Đánh bạc đó là việc ghi nhận vào biên bản bắt quả tang phải thể hiện một cách khách quan, chính xác hay việc xử lý vật chứng,

Trang 21

phương tiện phạm tội (quân bài, tiền, …) phải rõ ràng Hay việc ra các quyết định từ giai đoạn khởi tố vụ án cho đến giai đoạn xét xử, việc thay đổi hoặc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn giam giữ đối với đối tượng thuộc tội này đều phải tuân thủ và đảm bảo trình tự của luật tố tụng hình sự

Việc áp dụng LHS là nội dung pháp lý của hoạt động ĐTD ĐTD đối với tội đánh bạc Vì pháp luật hình sự quy định cụ thể tội danh của từng tội phạm cụ thể với các dấu hiệu cơ bản của tội TP đang được sử dụng để ĐTD

Ở tội đánh bạc căn cứ vào Điều 248 BLHS năm 1999, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán số 01/2010/NQ- HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 248, Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 và một số các quy phạm khác

- Hình thức của hoạt động ĐTD tội đánh bạc được thể hiện bằng việc kết luận bằng văn bản Mục đích cuối cùng của hoạt động ĐTD tội đánh bạc

là kết luận hành vi đánh bạc có xảy ra không? Ai là người phạm tội đánh bạc

và buộc họ phải chịu một hành vi tương xứng với hành vi và tội phạm và họ

đã thực hiện Hình thức kết luận đó về mặt pháp lý phải được thực hiện bằng văn bản áp dụng pháp luật phù hợp với từng giai đoạn tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án đồng thời phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự Các hình thức văn bản đối với ĐTD tội đánh bạc:

+ Quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn (giam giữ, xử lý vật chứng ) kết luận Điều tra, Cáo trạng,

Từ nội dung khái niệm về ĐTD của tội đánh bạc, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm cơ bản của việc ĐTD đối với loại tội này

Thứ nhất: Xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội

được thực hiện có thỏa mãn với các dấu hiệu của CTTP tội đánh bạc hay không? Trên cơ sở đó đưa ra sự đánh giá nhất định về hành vi nguy hiểm cho

xã hội cụ thể đã xẩy ra

Trang 22

Thứ hai, định tôi danh tội đánh tội đánh bạc là hoạt động thực tiễn pháp

lý của các cơ quan tư pháp hình sự - các cơ quan Điều tra, truy tố, xét xử để

cụ thể hóa các quy định của Pháp luật, lựa chon đúng các quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi đánh bạc được thực hiện

Thứ ba, ĐTD tội đánh bạc chính là hoạt động đối chiếu sự phù hợp

giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 248 BLHS

1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh trong hoạt động tố tụng

Hoạt động ĐTD của các chủ thể có thể theo 2 xu hướng ĐTD đúng hoặc ĐTD sai

- Đối với hoạt động ĐTD đúng: ĐTD đúng làm tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh và có căn cứ

ĐTD đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước Pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm do cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm

ĐTD đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam về thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự

- Đối với hoạt động ĐTD sai: ĐTD sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vô tội, bỏ lọt người tội phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân

là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước

ĐTD sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm

Trang 23

Đối với tội đánh bạc là hành một trong những tệ nạn xã hội làm cho nhiều người mất nhà cửa, phát sinh mâu thuẫn dẫn đến gia đình tan nát và đánh bạc còn được xem là một trong những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội khác và tội phạm Chính vì vậy, bên cạnh việc xử lý hành chính pháp luật còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm đáp ứng được các yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt Tuy nhiên do sự đa dạng của các hình thức đánh bạc nên việc xác định hành

vi nào cần phải xử lý hình sự không phải là việc đơn giản Trong khoảng thời gian ngắn từ năm 2003 đến năm 2010, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ba lần hướng dẫn đường lối xử lý đối với loại tội phạm này cụ thể: Nghị quyết số 03/2003/NQ – HĐTP ngày 17/4/2003; Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006; Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP ngày 22/10/2010 Bên cạnh đó Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục cảnh sát còn ban hành nhiều văn bản hướng dẫn để áp dụng cho phù hợp với

thực tế Tuy vậy, hiện nay, việc điều tra, truy tố, xét xử tội đánh bạc dựa vào

quy định tại Điều 248 BLHS và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một

số quy định tại Điều 248, Điều 249 của BLHS còn nhiều bất cập trong việc xác định TNHS đối với những đối tượng phạm tội đánh bạc trái phép như: xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật

của người chơi đề, cá độ, chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc, quy định về việc

cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, việc phân chia hai trường hợp đánh bạc, vấn đề xác định đồng phạm đối với tội đánh bạc, vv

Điều đó có thể thấy được ý nghĩa của việc ĐTD trong công tác đấu tranh phòng ngừa riêng đối với loại tội này cũng như trong công tác phòng ngừa chung các loại tội phạm khác

1.1.4 Điều kiện đảm bảo cho việc định tội danh đối với tội đánh bạc

Thứ nhất: Năng lực chuyên môn của người ĐTD: Năng lực chuyên

Trang 24

môn của người ĐTD là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu đảm bảo cho việc ĐTD được đúng Đây là điều kiện có tính chất nền tảng, là cái gốc mà người ĐTD phải có năng lực chuyên môn sẽ đảm bảo cho người ĐTD khi tiến hành hoạt động này có đủ sự tự tin cần thiết trong hoạt động nghề nghiệp của mình Để có năng lực chuyên môn vững vàng, trước hết người ĐTD cần phải là người được đào tại về cơ bản (phải có bằng đại học Luật hoặc tương đương trở lên) Đồng thời, họ không chỉ là người nắm chắc kiến thức được giảng dạy ở trường đại học mà còn phải thường xuyên trau rồi chuyên môn, thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật mới, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của những thế hệ đi trước Trong thực tế, các vụ án xẩy ra rất đa dạng muôn màu muôn vẻ Ngay cả đối với một loại tội, các vụ án xẩy ra cũng rất khác nhau về những tình tiết cũng như chứng cứ rất phức tạp trong vụ án

Ở tội Đánh bạc có tính đa dạng, các hình thức biểu hiện của hành vi đánh bạc thường bao gồm: Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết (đánh lô đề), xóc đĩa, tá lả, liêng, sâm, chắn, cá độ, bán độ,… Điển hình vừa qua Công an tỉnh Ninh Bình khởi tố 2 cầu thủ là Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Mạnh Dũng đã có hành vi cá

độ và dàn xếp tỷ số ở CLB V Ninh Bình CQĐT Công an tỉnh Ninh Bình đã khởi tố 2 đối tượng trên tội Đánh bạc theo Điều 248 BLHS

Như vậy, chỉ với khả năng chuyên môn vững vàng của mình, người ĐTD mới có điều kiện cân nhắc, đánh giá toàn bộ các tình tiết vụ án thông qua chác chứng cứ xác thực, đối chiếu hành vi đã thực hiện với quy định của BLHS để từ đó xác định hành vi đó phạm tội gì tương ứng với điều luật nào của BLHS Năng lực chuyên môn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc ĐTD Người ĐTD cho dù có đạo đức tốt, tinh thần nhiệt tinh công tác nhưng nếu không có chuyên môn vững vàng thì khó có thể làm tốt công tác của mình được (trong hoạt động ĐTD) và trong quan hệ công tác với cấp trên, đồng nghiệp, họ khó có thể là người độc lập, có chính kiến riêng trong hoạt động

Trang 25

nghề nghiệp của mình Và như chúng ta đã biết ĐTD là hoạt tư duy có tính logic chặt chẽ nhưng đồng thời đây cũng là hoạt động trí tuệ có tính sáng tạo Người ĐTD phải biết vận dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn, nhưng linh hoạt chứ không phải là những roobot dập khuôn máy móc Đời sống xã hội nước ta biến đổi không ngừng dẫn tới các văn bản pháp luật cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế Trước đây ở Nghị Quyết số 01/2006/NQ-HĐTP về cách xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc thì: nếu tiền đặt cược là A, tỷ lệ đặt cược là B thì giá trị tang vật là A + A x B Với cách tính này theo Nghị Quyết này trong thời gian qua đã gây ra nhiều khó khăn và không có lợi cho bị can

và số tiền để truy cứu TNHS chỉ là số tiền “ ảo” không có thực Còn theo điểm mới của Nghị Quyết 01/2010/NQ – HĐTP thì việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa như sau: Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc: Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ nhận được từ chủ đề, chủ cá độ Còn trong trường hợp nếu người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược

cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền

mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ đó… Việc người ĐTD cập nhật văn bản pháp luật thường xuyên theo những lần sửa đổi bổ xung giúp cho người ĐTD đánh giá được tính chất mức độ phạm tội của hành vi từ đó giúp cho việc ĐTD được đúng đắn Chỉ trên cơ sở có kiến thức chuyên môn vững vàng, độc lập,sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp, người ĐTD mới có thể độc lập trong quan điểm và dám bảo vệ quan điểm của mình, không bị chi phối bởi những quan điểm của cấp trên hay của

Trang 26

đồng nghiệp Đồng thời ý thức cầu thì, ham học hỏi, sự vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp cũng là phẩm chất cần học hỏi đối với năng lực chuyên môn của người ĐTD Riêng với đội ngũ Hội thẩm nhân dân cần thiết phải lựa chọn những người có trình độ, những người làm công tác liên quan đến Pháp luật như giáo viên dạy Luật, Cán bộ Điều tra đã về hưu

Thứ hai: Đạo đức nghề nghiệp của người ĐTD: Có thể nói, đây là một

trong những điều kiện quan trọng hàng đâu đảm bảo cho việc ĐTD được đúng Nếu như năng lực chuyên môn là điều kiện cần thiết thì đạo đức nghề nghiệp là điều kiện đủ Hai điều kiện này bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau giúp cho người ĐTD có thể ĐTD đúng Trên cơ sở năng lực chuyên môn vững vàng người ĐTD trước hết phải là người tuân thủ Pháp luật cũng như trong việc gương mẫu chấp hành pháp luật, là người có trách nhiệm và lương tâm trong hoạt động nghề nghiệp, là người chiến sỹ kiên cường, dũng cảm trên mặt trận phòng chống tội phạm, bảo về công bằng, xã hội, đồng thời họ còn

có thái độ làm việc thật khách quan, vô tư trong công việc nhằm bảo vệ công

lý Người ĐTD là người nhân danh Nhà nước để xác định một người là có tội hay không có tội Người ĐTD phải là người có bản lĩnh, dũng cảm, thực sự là người chiến sỹ tiên phong trong mặt trận chống tiêu cực bảo vệ công bằng xã hội Hiện nay ở loại tội Đánh bạc nhóm các đối tượng thuộc loại tội này đa dạng đủ mọi thành phần xã hội từ cán bộ có vị trí chức vụ cao, những người đứng trong hàng ngũ Đảng thuộc cơ quan Nhà nước, Doanh nghiệp nên việc sẵn sàng bỏ rất nhiều tiền để hối lộ CQ ĐT nhằm thoát tội, có những vụ án đánh bạc lên đến vài chục tỷ đồng thậm chí hơn thì đòi hỏi người ĐTD phải

có một lập trường vững vàng, có lương tâm nghề nghiệp, có thái độ làm việc khách quan Hay tội Đánh bạc thường bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc sẽ

là mức giới hạn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, nhiều trường hợp số tiền đánh bạc của các con bạc lớn hơn rất nhiều so với mức đủ để xử lý hình

Trang 27

sự thì cán bộ điều tra bỏ ngoài biên bản quả tang thu giữ tang vật chỉ để dừng lại ở mức xử phạt hành chính đối với các đối tượng, hoặc sẽ dừng lại ở việc truy tố ở điều khoản thấp nhất mà đáng lẽ ra phải ở điều khoản với mức hình phạt nặng hơn Thái độ làm việc khách quan vô tư là yếu tố cần thiết và đảm bảo cho việc ĐTD nhất là đối với tội Đánh bạc Hơn nữa, thái độ bao che cần phải được loại bỏ trong quá trình ĐTD trong quá trình xét xử Có một thực tế trong quá trình xét xử tội Đánh bạc, do nhận thức của con bạc cho rằng đây là loại tội ít nghiêm trọng, xảy ra là bình thường nên các bị cáo đứng trước vành móng ngựa có thái độ rất coi thường, thậm chí cợt nhả, vì biết trước có sự ưu

ái từ Thẩm phán (do có tiêu cực) điều này gây phản cảm cho người tham dự phiên tòa, làm mất đi tính chất trang nghiêm của Hội đồng xét xử Nên vấn đề quan trọng là người ĐTD phải có thái độ đúng mực, nghiêm túc trong mọi hoàn cảnh, và quá trình xác định một hành vi có phạm tội không tội đó là tội

gì phải đúng theo quy định của Pháp luật Có như vậy mới đủ sức thuyết phục, mang tính răn đe, giúp cho người phạm tội thấy rõ sự sai trái của minh

từ đó tự giác chấp hành bản án, chấp hành pháp luật Đồng thời tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nhất là loại tội Đánh bạc đang có chiều hướng gia tăng và biến tướng dưới mọi hình thức

Thứ ba: Hệ thống Pháp luật hình sự hoàn chỉnh: Năng lực chuyên môn,

đạo đức nghề nghiệp là những nhân tố vô cùng quan trọng để đảm bảo cho hoạt động ĐTD đúng Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa thể có điều kiện tốt để người ĐTD phát huy được năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của mình Chỉ trên cơ sở hệ thống pháp luật mà trước hết là hệ thống pháp luật hình sự hoàn chỉnh, người tiến hành ĐTD mới có điều kiện phát huy được khả năng làm việc của mình Khó có thể nó đến sự hiệu quả thực sự trong hoạt động ĐTD khi mà pháp luật nước ta còn nhiều chồng chéo Quy định về cách tính tiền phạt hoặc hiện vật Đánh bạc tại các khoản 2,3,4 và Điều

Trang 28

5 Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP và thực tiễn khởi tố, điều tra truy tố xét

xử tội Đánh bạc so với quy định về đồng phạm tại Điều 20 có sự không thống nhất Tội Đánh bạc đã có rất nhiều lần sửa đổi bổ sung về mức xử lý, hay chỉ dẫn về “ Thuật ngữ” như Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 về sửa đổi bổ xung một số điều của BLHS năm 2009 và Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP; hay Nghị quyết số 01/2006/NQ – ư\HĐTP Qua các lần sửa đổi bổ sung cho thấy sự thiếu xót, hạn chế cũng như vướng mắc trong việc áp dụng của nhà làm luật cũng người như người áp dụng pháp luật, mà ở đây là người ĐTD

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 1.2.1 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với tội đánh bạc

* Bộ luật hình sự – cơ sở pháp lý trực tiếp của việc ĐTD nói chung và Điều 248 là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc ĐTD đối với tội đánh bạc nói riêng Như vậy trong quá trình ĐTD nếu hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ về nội

dung) thì BLHS có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, vì nó đóng vai trò

là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) của việc ĐTD Sự khẳng định như vậy là

vì có những lý do đứng đắn như sau:

Hiện nay theo pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam, thì BLHS năm

1999 hiện hành được coi là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn bộ

hệ thống các qui phạm PLHS được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng

và chống tội phạm nói chung, cũng như quá trình ĐTD và quyết định hình

phạt nói riêng

Bản chất của việc ĐTD tội đánh bạc là so sánh, đối chiếu và kiểm tra

để xác định xem các dấu hiệu của hành vi đánh bạc được thực hiện trong thực

tế khách quan có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của Điều 248 được qui

định trong Phần riêng BLHS hay không

Nhà làm luật khi xây dựng hệ thống các qui phạm của Phần các tội phạm BLHS – trong quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 29

– đã tìm xem các dấu hiệu nào là đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất và hay được lặp đi lặp lại nhiều nhất trong những hành vi ấy, sau đó điển hình hóa và qui định chúng trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tương ứng của các cấu thành tội phạm (CTTP) cụ thể (CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP đặc biệt tăng nặng hoặc CTTP giảm nhẹ) để các cơ quan tư pháp hình

sự dùng làm mô hình pháp lý của ĐTD

BLHS qui định và liệt kê tất cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội thường xảy ra trong thực tế bị nhà làm luật nhân danh Nhà nước coi là tội phạm Nói một cách khác, BLHS với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất của việc ĐTD chứa đựng những mẫu (mô hình) pháp lý của các tội phạm, mà dựa vào đó những người có thẩm quyền tiến hành việc ĐTD xác định sự phù hợp của các dấu hiệu của những hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể tương ứng

được thực hiện

BLHS bao gồm hệ thống các nhóm qui phạm pháp luật được nhà làm luật sắp xếp thành hai Phần – Phần chung và Phần các tội phạm, – mà những người có thẩm quyền tiến hành việc ĐTD đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan phải đồng thời dựa vào cả hai nhóm qui phạm PLHS này bởi các lý do như sau:

Hai nhóm qui phạm PLHS này có mối liên quan chặt chẽ, thống nhất

và hữu cơ với nhau trong quá trình ĐTD – xác định CTTP tương ứng được luật quy định để làm căn cứ pháp lý cho việc giải quyết vấn đề TNHS của người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể Chẳng hạn, khi tìm các quy phạm PLHS để ĐTD đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội như bạo loạn và hoạt động phỉ, thì không thể áp dụng các điều 82-83 tại Phần các tội phạm BLHS năm 1999 (quy định hai tội phạm tương ứng với những hành vi này), mà còn phải áp dụng Điều 20 tại Phần chung BLHS đó (đề cập đến chế định đồng phạm) để xác định mức độ

Trang 30

TNHS khác nhau của các loại người đồng phạm cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm cụ thể tương ứng

Trong quá trình ĐTD nếu các quy phạm PLHS tại Phần các tội phạm quy định TNHS đối với tội phạm tương ứng giúp cho chúng ta xác định sự giống nhau của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện, thì các quy phạm PLHS tại Phần chung về lỗi, các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, v.v giúp cho chúng ta nhận biết được một cách nhanh chóng và chính xác các dấu hiệu của CTTP cụ thể (CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP đặc biệt tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ) của tội phạm tương ứng đó

* Bộ luật tố tụng hình sự – cơ sở pháp lý gián tiếp của việc ĐTD Trong

quá trình ĐTD khi hiểu theo nghĩa rộng, nếu các quy phạm BLHS đóng vai trò là cơ sở pháp lý duy nhất trực tiếp (về nội dung), thì các quy phạm PLTTHS (dĩ nhiên không phải là tất cả mà chỉ có một số quy phạm) – là cơ sở pháp lý gián tiếp (về hình thức) không kém quan trọng Bởi lẽ:

Mặc dù các quy phạm PLTTHS ở một chừng mực nhất định có ý nghĩa gián tiếp (bổ trợ) trong việc ĐTD, nhưng chúng có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Chẳng hạn, Tòa án cấp phúc thẩm hoặc cấp giám đốc thẩm sau khi

đã nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ mọi chứng

cứ thu thập được trong vụ án hình sự cụ thể nhận thấy rằng: tội danh mà bị

cáo bị Tòa án cấp dưới xét xử là không có căn cứ – các dấu hiệu của hành vi

phạm tội tương ứng với các dấu hiệu của CTTP cơ bản mà trong bản án của Tòa án cấp dưới lại định tội theo các dấu hiệu của CTTP tăng nặng, thì theo

các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 (các khoản 1 và 2 Điều 221, Điều 257) Toà án hai cấp này có quyền sửa lại bản án đã tuyên của Tòa án cấp dưới

Trang 31

để áp dụng điều khoản BLHS về tội danh nhẹ hơn, tức là tiến hành việc định

lại tội danh

1.2.2 Cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với tội đánh bạc

Việc nghiên cứu những vấn đề về CTTP, chính vì thế, có ý nghĩa pháp

lý hình sự rất quan trọng đối với quá trình ĐTD, vì ĐTD chính xác tức là xác

định đúng sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã

hội nhất định nào đó được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng –

các dấu hiệu được quy định tại một quy phạm PLHS cụ thể của Phần các tội phạm BLHS Như vậy, trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay

để có đầy đủ căn cứ xác đáng và đảm bảo sức thuyết phụ trong việc khẳng

định cho luận điểm đúng đắn rằng: CTTP là cơ sở khoa học của việc ĐTD

Vai trò của CTTP Xuất phát từ việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng các

quy phạm PLHS về ĐTD, chúng ta có thể nhận thấy vai trò của CTTP thể hiện rõ trên năm bình diện như sau:

CTTP là một trong những điều kiện chung và quan trọng nhất để ĐTD

chính xác – vì nếu như trong hành vi nguy hiểm cho xã hội không có đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP nào đó được quy định trong PLHS thực định, thì không thể đặt ra việc ĐTD

CTTP là một khái niệm khoa học và là sự trừu tượng về mặt pháp lý

vì một loạt các thuật ngữ và phạm trù được sử dụng Có liên quan đến CTTP (như: “khách thể”, “chủ thể”, “mặt chủ quan”, “mặt chủ quan”, v.v ) đều được cá nhà lý luận soạn thảo ra trong khoa học luật hình sự, còn nếu như chúng có được quy định trong luật thực định đi chăng nữa thì cũng là dưới dạng các quy phạm PLHS trừu tượng

CTTP là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy cứu TNHS người phạm tội – vì khi hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của một

Trang 32

CTTP tương ứng nào đó được quy định trong Phần các tội phạm BLHS, thì cũng có nghĩa là các cơ quan tư pháp hình sự đã có đầy đủ cơ sở pháp lý để

truy cứu TNHS người phạm tội

CTTP là căn cứ để Tòa án lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối với

người bị kết án – vì nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa các dấu hiệu của

một CTTP cụ thể (như: CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP đặc biệt tăng

nặng hoặc CTTP giảm nhẹ) mà trong đó ghi nhận khung hình phạt tương ứng (với loại và mức cụ thể) tại một Điều (hoặc khoản của một Điều) trong Phần các tội phạm BLHS, thì Tòa án cũng không thể có căn cứ để lựa chọn loại và mức hình phạt để áp dụng đối với người bị kết án

CTTP là yếu tố để đảm bảo các quyền và tự do của công dân trong lĩnh

vực tư pháp hình sự, đồng thời hỗ trợ cho việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp chế và củng cố trật tự pháp luật trong NNPQ – vì với tất cả sự thể hiện trên

bốn bình diện trên đây đã cho phép khẳng định vai trò có tính chất tổng hợp

này của CTTP

Yếu tố của CTTP có thể được định nghĩa là bộ phận hợp thành của cấu

trúc trong cấu thành ấy và bao gồm một nhóm các dấu hiệu tương ứng với các phương diện (các mặt) của hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm (tức là hành vi bị nhà làm luật coi là tội phạm) Quan điểm truyền thống

được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự là: CTTP có bốn yếu tố

khách thể (1), mặt khách quan (2), chủ thể (3) và mặt chủ quan (4) của tội phạm Như vậy ở tội Đánh bạc chúng ta có thể thấy 4 yếu tố CTTP gồm:

- Khách thể của tội phạm đó là quan hệ xã hội được PLHS bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến

và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định

- Mặt khách quan của tội phạm đó là mặt bên ngoài của sự xâm hại

nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS, tức là

Trang 33

sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan

- Chủ thể của tội phạm đó là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong

việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp

cụ thể còn là có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm PLHS tương ứng quy định)

- Mặt chủ quan của tội phạm đó là mặt bên trong của sự xâm hại nguy

hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS lỗi, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với

hành vi nguy hiểm cho xã hội bị do mình thực hiện và đối với hậu quả của

hành vi đó (lỗi)

1.3 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI ĐÁNH BẠC

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Tội phạm là hiện tượng tiêu cực trong xã hội, tội phạm "xuất hiện cùng

với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng" [6, tr.287] Vì vậy để bảo vệ đặc quyền của của giai

cấp thống trị, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào

là tội phạm và áp dụng TNHS đối với những người nào thực hiện các hành vi

đó Do vậy, tội phạm mang bản chất là một hiện tượng có tính chất pháp lý Với thuộc tính là hiện tượng mang tính xã hội - pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng đặc tính chống lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, làm ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích chung của cộng đồng, xâm phạm tới quyền, tự do, các lợi ích hợp pháp của con người, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội

Tội phạm có nguồn gốc xã hội, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người Do đó tội phạm mang tính lịch sử Nhìn nhận và đánh giá về tội phạm, nhà Luật học Larry J Siegel đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau:

Trang 34

Tội phạm là một hành vi vi phạm các nguyên tắc xã hội được giải thích và quy định trong một đạo luật hình sự do những người nắm giữ quyền lực chính trị và xã hội tạo ra Những cá nhân

vi phạm các nguyên tắc này là đối tượng sẽ bị trừng phạt bởi các cơ quan có thẩm quyền [36, tr.20]

Nghiên cứu khái niệm tội phạm dưới góc độ khoa học luật hình sự cho thấy khái niệm tội phạm được các nhà luật học trong và ngoài nước nghiên cứu rất kỹ, nhiều quốc gia đã đưa vào BLHS định nghĩa lập pháp của khái niệm này như: Trung Quốc, Liên bang Nga, Thụy Điển, v.v

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự mỗi nước Vì vậy, nghiên cứu khái niệm tội phạm luôn luôn là chủ đề nóng hổi trong khoa học pháp lý hình sự trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng [11, tr.157-158]

Nghiên cứu BLHS Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) nhà làm luật nước ta đã ghi nhận định nghĩa tội phạm tại Điều 8 như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [27, tr.11]

Tuy nhiên, khái niệm tội phạm trong định nghĩa lập pháp được các nhà làm luật nước ta ghi nhận trong BLHS năm 1999 mới bao gồm bốn dấu hiệu

Trang 35

(đặc điểm) cơ bản, mà theo GS.TSKH Lê Cảm, khái niệm này còn thiếu một dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản là tội phạm do người đủ tuổi chịu TNHS thực hiện Đặc điểm này cùng với các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm đã được

các nhà làm luật nước ta ghi nhận mới thể hiện được đầy đủ cả ba bình diện tương ứng với năm dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của tội phạm đó là: 1) Bình diện khách quan (nội dung) - tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội (1); 2) Bình diện pháp lý (hình thức) - tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự (2) và; 3) Bình diện chủ quan - tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS (3)

và đủ tuổi chịu TNHS (4) thực hiện một cách có lỗi (5) [6, tr.289] Qua nghiên

cứu lý luận và thực tiễn chúng tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm này

Về khái niệm tội phạm cụ thể - tội đánh bạc là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung), hiện nay trong khoa học luật hình sự nước ta còn nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể:

Quan điểm: Đánh bạc là được thua bằng tiền hay lợi ích khác trên cơ sở một kết quả không hiển nhiên hoặc một biến cố sẽ xảy ra trong tương lai Thông thường, các kết quả hay biến cố nói trên sẽ biết được rõ ràng, trong thời gian ngắn Ngoài ra, đánh bạc cũng được hiểu khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa, lịch sử [37]

Quan điểm cho khác lại rằng:

Đánh bạc là (hành vi) tham gia vào trò chơi được tổ chức bất hợp pháp mà sự được (hoặc thua) kèm theo việc được (hoặc mất) lợi ích vật chất đáng kể (tiền, hiện vật hoặc các hình thức tài sản khác) Đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ ảnh hưởng xấu đến gia đình và cá nhân người chơi mà còn có thể là nguyên nhân của tệ nạn xã hội và tội phạm khác [10, tr.227]

Chúng tôi cho rằng quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể của tội phạm xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội

và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này

Trang 36

Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội đánh bạc cần thể hiện được đầy đủ cả ba bình diện tương ứng với năm đặc điểm (dấu hiệu) tương ứng cơ bản của tội phạm như đã nêu trên Do đó khái niệm tội phạm này được định nghĩa như sau:

Tội đánh bạc là hành vi tham gia trò chơi trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật từ hai triệu đồng trở lên, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; hoặc dưới hai triệu đồng nhưng

đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc và gá bạc, chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm

Từ khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của tội đánh bạc như sau:

Một là, tội đánh bạc nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng,

do đó xâm phạm đến trật tự công cộng Trật tự công cộng là một trong những tiêu chí để đánh giá sự ổn định, phát triển, văn minh, dân chủ của một quốc gia Để có trật tự công cộng - một trạng thái xã hội lành mạnh, có tổ chức, có

kỷ luật và ổn định đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và mọi công dân trong xã hội đều phải có trách nhiệm xây dựng, thực hiện và bảo vệ các quy tắc của trật tự sinh hoạt chung trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Đi ngược lại điều này là xâm phạm đến trật tự công cộng và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự nếu sự vi phạm đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm

Hai là, tội đánh bạc là hành vi tham gia các trò chơi được thua bằng

tiền hay hiện vật từ hai triệu đồng trở lên dưới nhiều hình thức khác nhau một

cách trái pháp luật, gây thiệt hại cho trật tự an toàn công cộng, hoặc dưới hai

triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc và gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Trang 37

Ba là, tội đánh bạc do người có đủ năng lực TNHS thực hiện và đủ tuổi

chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi với hình thức cố ý trực tiếp Người thực hiện tội đánh bạc trái phép không có mục đích chống chính quyền nhân dân

1.4 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐÁNH BẠC CHO ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Chính phủ mới được thành lập đã nhận thức rõ sự nguy hiểm của các hành vi cờ bạc đối với xã hội và sự phát triển bền vững của chính quyền mới Trong thời kỳ này một vấn đề đặt ra gắn liền với những hành vi cờ bạc là quân dịch và những thành phần thuộc giai cấp bóc lột lúc bấy giờ chưa bị thủ tiêu, chúng lợi dụng cờ bạc để nhằm mục đích phá hoại, đầu độc bóc lột nhân dân, làm cho một bộ phận nhân dân ta quên đi nhiệm

vụ cách mạng

Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của các hành vi cờ bạc và để đấu tranh, xử lý, ngăn chặn những hệ lụy nguy hại cho xã hội và an ninh quốc gia, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 - Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên được nhà nước ta quy định về tội cờ bạc Sắc lệnh này thể hiện đường lối xử lí cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc

Tại Điều 1 của Sắc lệnh 168/SL quy định về hành vi đánh bạc như sau:

- Hành vi đánh bạc bao gồm: "Tất cả các trò chơi cờ bạc dù có tính chất

may rủi hay là có dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền đều coi là tội đánh bạc " [30, tr 497]; hoặc những cuộc đánh đố nhau vì tiền, những cuộc

Trang 38

xổ số vì tiền hay bằng đồ mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước thì đều được coi là hành vi đánh cờ bạc không cứ ở nơi nào

- Tại Điều 2 Sắc lệnh 168/SL cũng quy định hành vi tổ chức đánh bạc với nội dung là tổ chức một cuộc đánh bài, đánh bạc, một trò chơi đã được nêu

tại điều I của Sắc lệnh mà không phụ thuộc vào địa điểm thực hiện hành vi

- Sắc lệnh chưa được quy định về hành vi gá bạc nhưng quy định đối với những người mà cho mượn tiền mượn địa điểm để tổ chức đánh bạc không cần biết có thu lợi hay không đều bị xử lý như người tổ chức đánh bạc

- Sắc lệnh 168/SL cũng quy định:

Những người giúp, người khác tổ chức những cuộc chơi nói trên, những người quản lý người làm cái, lấy hồ, những người làm công khác giúp việc trực tiếp vào cuộc chơi đều bị coi là tòng phạm của người tổ chức đánh bạc và bị phạt tù từ 2 - 5 năm tù và phạt bằng tiền từ 10.000đ đến 100.000đ [30, tr 497]

Bên cạnh việc xác định phạm vi những đối tượng bị xử lý về hình sự Sắc lệnh 168/SL cũng quy định chế tài xử lý nghiêm khắc được áp dụng đối với người phạm tội đánh bạc:

- Điều 2 của Sắc lệnh 168/SL quy định hình phạt đối với người phạm tội đánh bạc là tù từ 1 năm đến 3 năm và phạt bạc (phạt tiền) từ 5000 đến

50000 đồng

- Ngoài hình phạt chính, điều luật còn quy định hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội là bị quản thúc từ 1 năm đến 5 năm Văn bản cũng quy định các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc, tiền nong bắt được trên bàn hay trên chiếu bạc đều bị tịch thu

Ngoài ra Điều IV của Sắc lệnh thể hiện thái độ rất nghiêm khắc của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong việc xử lý những người thực hiện hành vi cờ bạc

Trang 39

Dù rằng Tòa án có xét xử tình trạng nên giảm, cũng bắt buộc

áp dụng hình phạt tối thiểu về tù và tiền nói trong Điều II và Điều III trên đây Tòa án phải phạt vừa tù và tiền mà không cho bị can hưởng án treo Nếu có trường hợp tái phạm, các hình phạt sẽ tăng

gấp đôi [30, tr.497]

Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/ 04 /1948, mặc dù chưa phân biệt rõ các hành vi cờ bạc, nhưng trong quy định đã có phân hóa để xử lý đối với những đối tượng tổ chức đánh bạc, gá bạc và những người đánh bạc Hình phạt được

áp dụng đối với các tội phạm về cờ bạc là rất nghiêm khắc, đặc biệt đối với những người đánh bạc bao gồm hình phạt chính gồm cả phạt tù và phạt tiền, hình phạt bổ sung là bị quản thúc từ 1 năm đến 5 năm Ngoài ra còn áp dụng biện pháp tịch thu tất cả các đồ vật, tiền dùng để đánh bạc

Sau khi ra ban hành và áp dụng một thời gian, Sắc lệnh 168/SL là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ cho việc phòng chống các tội cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng Tuy nhiên sự biến đổi sâu sắc của kinh tế, chính trị - xã hội miền Bắc qua công cuộc cải tạo XHCN, thì một số quy định của Sắc lệnh

đã không còn phù hợp và cần thiết phải tiến hành những sửa đổi

Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 của Bộ Tư pháp về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc đã giải quyết một phần những vướng mắc của Sắc lệnh 168/SL

Tại thông tư 301/VHH-HS, với phương châm “lấy giáo dục làm chính”

đường lối xử lý các tội cờ bạc của Nhà nước ta đã có sự giảm nhẹ Thông tư 301/VHH - HS cũng đưa ra đường lối xử lý của các cơ quan tư pháp đối với việc đánh bạc, đó là: Không nhất thiết phải bắt được quả tang đánh bạc mới

có thể truy tố được Có thể việc chứng bằng bất kì hình thức nào để chứng minh là bị can đã đánh bạc nhưng phải thận trọng trong trường hợp này Có bằng chứng rõ ràng thì mới truy tố, không nên suy luận hoặc chỉ dựa vào lời

khai của một vài nhân chứng (Phần B mục I)

Trang 40

Thông tư này cũng xác định chỉ truy tố đối với các đối tượng:

- Bọn tổ chức, bọn chứa gá, bọn sóc cái, bọn hồ lỳ, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc

- Bọn con bạc chuyên sống về nghề cờ bạc hoặc đã được cảnh cáo rồi

mà vẫn tiếp tục chơi coi thường pháp luật

Quy định này đã thu hẹp về đối tượng bị xử lý về tội cờ bạc, bao gồm các đối tượng tham gia vào tổ chức, chứa gá bạc và người đánh bạc là đối tượng có kèm theo những đặc điểm về nhân thân thì mới xem xét để truy tố

Thông tư 301/VHH-HS cũng quy định đường lối phân hóa trong chính

sách hình phạt đối với các đối tượng phạm tội Cụ thể là: “đối với những bọn

trên thì xử phạt mức tối thiểu, trường phạt phạm tội nặng mới phạt trên mức tối thiểu” [2] So với đường lối xử phạt của Sắc lệnh 168/SL, đường lối xử lý trong

thông tư này đã giảm nhẹ đáng kể đối với những đối tượng tham gia cờ bạc

Tại thông tư số 2098 ngày 31/5/1957 một lần nữa lại nêu ra cách vận dụng Sắc lệnh 168/SL trong điều kiện và tình hình xã hội mới Thông tư này xác định những nội dung chính sau:

- Về mức hình phạt: Đối với những trường hợp phạm tội nhẹ mà nếu phạt bị can ở mức tối thiểu là 1 năm tù thì nặng quá nhưng nếu chỉ cảnh cáo

ở phòng công tố thì nhẹ quá Thông tư này cũng nêu đường lối xử lý là phải cân nhắc kĩ giữa truy tố và không truy tố Nếu thấy truy tố là cần thiết để làm hậu thuẫn cho việc giáo dục thì cứ đưa ra truy tố đề nghị với Tòa án xử phạt mức tối thiểu Nếu xét thấy không cần thiết phải truy tố thì cảnh cáo ở phòng công tố rồi tha cho bị can Mức phạt tiền vẫn giữ nguyên theo quy định của Sắc lệnh 168/SL

- Về vấn đề thu tang vật: Thông tư số 2098 ngày 31/5/1957 khẳng định

rõ thêm quy định của Sắc lệnh 168/SL: Chỉ tịch thu số tiền trên bàn hoặc trên chiếu bạc mà không tịch thu tiền trong túi các con bạc, để tránh tình trạng lạm

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2/6/2005, Về chiến lược cải cách tư pháp, NXB Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2/6/2005, Về chiến lược cải cách tư pháp
Tác giả: Bộ chính trị
Nhà XB: NXB Chính trị
Năm: 2005
2. Bộ tƣ pháp (1957), Thông tư 301/VHH – HS ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thông tư số 2098/VHH –HS ngày 31/5/1957 bổ sung thông tư 301/VHH - HS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 301/VHH – HS ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thông tư số 2098/VHH –HS ngày 31/5/1957 bổ sung thông tư 301/VHH - HS
Tác giả: Bộ tƣ pháp
Năm: 1957
3. Lê Cảm (2003), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh (Tài liệu giảng dạy sau đại học), Đại học Quốc Gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh (Tài liệu giảng dạy sau đại học)
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2003
4. Lê Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), NXB ĐH Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia
Năm: 2003
5. Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành. NXB Đại học Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành
Tác giả: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia HN
Năm: 2004
6. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
9. Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo)
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2004
10. Nguyễn Ngọc Điệp (chủ biên) (2009), Bình luận khoa học BLHS sửa đổi bổ sung năm 2009, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS sửa đổi bổ sung năm 2009
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2009
11. Trần Văn Độ (1994) “Chương 6 - Tội phạm và cấu thành tội phạm” trong sách: Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng luật hình sự Việt Nam, do SG.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương 6 - Tội phạm và cấu thành tội phạm” trong sách: "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
12. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2007
13. Trần Thị Hiển (2011), BLHS Nhật Bản, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLHS Nhật Bản
Tác giả: Trần Thị Hiển
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2011
14. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành Tội phạm – Lý luận và thực tiễn, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành Tội phạm – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2004
15. Hội đồng TP TAND Tối Cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ – HĐTP ngày 17/4/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2003/NQ – HĐTP ngày 17/4/2003
Tác giả: Hội đồng TP TAND Tối Cao
Năm: 2003
16. Hội đồng TP TAND Tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006, Về hướng dẫn áp dụng một số quy định của năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006, Về hướng dẫn áp dụng một số quy định của năm 1999
Tác giả: Hội đồng TP TAND Tối cao
Năm: 2006
17. Hội đồng TP TAND Tối cao (2010), Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP ngày 22/10/2010, Về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 BLHS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP ngày 22/10/2010, Về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 BLHS
Tác giả: Hội đồng TP TAND Tối cao
Năm: 2010
18. Phan Đình Khánh (2001), Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội bằng Pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội bằng Pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Đình Khánh
Năm: 2001
19. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (1997), Giáo trình Luật hình sự Việt nam (Phần các tội phạm), NXB ĐH Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 1997
20. Nguyễn Đức Mai (2006), “Tội đánh bạc và các tội phạm khác liên quan tới hành vi đánh bạc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Kiểm sát (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội đánh bạc và các tội phạm khác liên quan tới hành vi đánh bạc, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2006
21. Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và quyết định hình phạt (Sách chuyên khảo), NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt (Sách chuyên khảo)
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1:  Tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử về tội đánh  bạc trên tổng số vụ án số bị cáo đƣa ra xét xử  trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian - Định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
1 Bảng 2.1: Tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử về tội đánh bạc trên tổng số vụ án số bị cáo đƣa ra xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian (Trang 7)
Bảng 2.1: Tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử về tội đánh bạc trên tổng số vụ  án số bị cáo đƣa ra xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian - Định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Bảng 2.1 Tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử về tội đánh bạc trên tổng số vụ án số bị cáo đƣa ra xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian (Trang 69)
Bảng 2.5: Hình phạt áp dụng - Định tội danh đối với tội đánh bạc theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Bảng 2.5 Hình phạt áp dụng (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm