MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I CƠ SỞ LÝ LUẬN 2 1 Khái niệm mô hình kinh tế thị trường xã hội 2 2 Quy luật cung cầu 2 II QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CUNG CỦA THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM HIỆN NAY 3 1 Chủ động.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam chủ yếu dựa vào nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn, giữ vị trí quan trọng với 80% dân
số và 73% lực lượng lao động xã hội làm nông nghiệp và công nghiệp Chúng ta không thể có con đường nào khác là phải xây dựng một nền nông nghiệp mạnh và bền vững (cả về kinh tế, xã hội và sinh thái), dựa vào công nghệ cao từng bước Hiện đại hóa vươn lên trong cạnh tranh ngay cả trên thị trường “ trong nước và nước ngoài ” và
“ nông nghiệp Việt Nam trong thế kỷ XXI phải phấn đấu trở thành nền nông nghiệp có
tỷ trọng hàng hóa mức xuất khẩu cao”
Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường, thực hiện chính sách mở cửa giao lưu thương mại với các nước trên thế giới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa đất nước tiến lên Xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên việc vận dụng quy luật cung cầu vào phát triển thị trường lúa gạo còn tồn tại nhiều vấn đề nan giải cần được khắc phục
Vì vậy việc vận dụng quy luật cung cầu vào phát triển thị trường lúa gạo có ý nghĩa chiến lược và là bộ phận trọng yếu trong nền kinh tế Qua đây, em xin được phép làm tiểu luận về đề tài :”Vận dụng quy luật cung cầu và phát triển thị trường lúa gạo “
Trang 3NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm mô hình kinh tế thị trường xã hội
Mô hình kinh tế thị trường xã hội được xây dựng và thừa nhận các yếu tố cơ bản phổ biến của kinh tế thị trường, nhưng khác với mô hình kinh tế thị trường tự do,
mô hình kinh tế thị trường xã hội coi các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi cho người nghèo và cho người lao động, quyền tự do phát triển của mọi người dân,…) là mục tiêu chính của quá trình phát triển kinh tế thị trường và nhà nước cần dẫn dắt nền kinh tế để nhằm mục đích đạt được các mục tiêu này
2 Quy luật cung cầu
Cầu được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội về một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định Nói cách khác, cầu về một loại hàng hoá hay dịch vụ là lượng hàng hoá hay dịch
vụ đó mà người mua dự kiến mua trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định
Cầu có liên quan đến nhu cầu nhưng không đồng nhất với nhu cầu Cầu là một khái niệm kinh tế cụ thể gắn với sản xuất và trao đổi hàng hóa Cầu không đồng nhất với nhu cầu nhưng lại có nguồn gốc từ nhu cầu Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như: thu nhập, sức mua của đồng tiền, giá cả hàng hóa, lãi suất, thị hiếu của người tiêu dùng trong đó, giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Cung về một loại hàng hóa hay dịch vụ là tổng số hàng hóa hay dịch vụ đó mà các chủ thể kinh tế đưa ra bán trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm cả hàng hóa bán được và chưa bán được
Cung do sản xuất quyết định, nhưng cung không phải lúc nào cũng đồng nhất với khối lượng sản xuất Ví dụ: những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ, hoặc không
có khả năng đưa tới thị trường, thì không nằm trong cung Lượng cung phụ thuộc chủ yếu vào khả năng sản xuất; số lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất được đưa vào sử dụng; chi phí sản xuất; giá cả hàng hóa, dịch vụ; trong đó giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cầu xác định cung và ngược lại, cung xác định cầu Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hóa: Chỉ có
Trang 4những hàng hóa nào dự kiến có cầu thì mới được sản xuất, cung ứng; hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều, nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại
Đến lượt mình, cung tác động đến cầu, kích thích cầu: Những hàng hóa nào được sản
xuất, cung ứng phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa thích hơn, bán chạy hơn, làm cho cầu về chúng tăng lên
Vì vậy, người sản xuất hàng hóa phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng, dự đoán sự thay đổi của cầu, phát hiện các nhu cầu mới , để cải tiến chất lượng, hình thức, mẫu mã cho phù hợp; đồng thời phải quảng cáo để kích thích cầu
Giữa cung, cầu và giá cả có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
- Giá cả = giá trị thì trạng thái cung cầu ở thế cân bằng
- Giá cả < giá trị trị thì cung ở xu thế giảm, cầu ở xu thế tăng
- Giá cả > giá trị trị thì cung ở xu thế tăng, cầu ở xu thế giảm
- Cung > cầu thì giá cả có xu thế giảm
- Cung < cầu thì giá cả có xu thế tăng
- Cung = cầu thì giá cả ổn định tương đối
Đó là cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hóa Cơ chế đó chính là quy luật cung cầu
II QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CUNG CỦA THỊ TRƯỜNG LÚA
GẠO VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Chủ động nguồn cung
1.1 Dồi dào nguồn cung
Sau khi cân đối, trừ nhu cầu tiêu dùng trong nước và lượng gạo còn phục vụ xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khẳng định, với nguồn cung gạo hiện tại hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đáp ứng lượng gạo cho xuất khẩu
Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL) có diện tích canh tác lúa khoảng 3,9 triệu ha,là vựa lúa lớn nhất Việt Nam, trong đó diện tích lúa cao sản (hè thu-đông xuân) mỗi vụ khoảng 1,6-1,7 triệu ha Hàng năm, ĐBSCL đóng góp trên 50% sản lượng lúa và trên 90% tổng lượng gạo xuất khẩu của nước ta Việc sử dụng giống lúa cao sản và nhiều tiến bộ kỹ thuật thâm canh lúa đã giúp nông dân nâng cao năng suất, sản lượng, tiến rất nhanh so với nhiều nước trong khu vực
Trang 51.2 Đẩy mạnh sản xuất bình ổn thị trường thực phẩm
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân thiếu hụt nguồn cung, chi phí đầu vào tăng, lưu thông phân phối sản phẩm còn bất cập và cả có nguyên nhân từ biểu hiện đầu cơ, làm giá nên trong 2 tháng 6 và 7, giá cả lúa gạo tăng đột biến Để khắc phục tình trạng đó, kịp thời bình ổn thị trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã và đang phối hợp chặt chẽ với các địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các biện pháp đẩy mạnh sản xuất, nhằm tăng nguồn cung cho thị trường đặc biệt là những tháng cuối năm Trong đề xuất các giải pháp từ nay đến cuối năm, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, công tác thông tin, tuyên truyền đóng góp vai trò quan trọng nhằm phản ánh kịp thời và chính xác về nguồn cung cũng như giá cả để tránh hiện tượng đầu cơ, đẩy giá tăng đột biến, cũng như tạo điều kiện cho việc lưu thông, điều hòa về nguồn và giá cả các loại thực phẩm giữa các vùng, miền
1.3 Xuất khẩu gạo khởi sắc
Sau một thời gian ảm đạm, xuất khẩu gạo hiện đã khởi sắc với nhiều hợp đồng được ký kết, nhiều thị trường mới mở ra cho gạo Việt Nam Ước tính 3 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo của VN giảm khoảng 45% khiến cả doanh nghiệp và những người quan tâm đến ngành này đều lo lắng Tuy nhiên, cho tới nay, tình hình đang sáng sủa hơn rất nhiều Tính đến thời điểm này, VN đã thực hiện xuất khẩu được trên 800.000 tấn gạo các loại, trị giá trên 553 triệu USD.Dự kiến quý I năm 2012, lượng gạo xuất khẩu sẽ đạt khoảng 1 – 1.1 triệu tấn
1.4 Thị trường lúa gạo khởi sắc
Tại hội nghị tổng kết sản xuất lúa đông xuân 2012 cuối tuần qua ở Đồng Tháp, ông Trương Thanh Phong - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho biết, xuất khẩu gạo Việt Nam đang dần lấy lại “phong độ” Tính đến nay, lượng gạo xuất khẩu đã ký hợp đồng đạt 3,2 triệu tấn, chủ yếu sang các nước như Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia…
1.5 Lo thiếu gạo thơm, thừa gạo cấp thấp
Tuy vậy, gạo Việt Nam vẫn đang phải cạnh tranh gay gắt với các nước Năm nay, kế hoạch xuất khẩu của Thái Lan chỉ khoảng 6,5 triệu tấn trong khi Ấn Độ đặt mục tiêu khoảng 5 triệu tấn gạo Nếu cộng cả lượng gạo thơm, theo ông Phong, Ấn
Trang 6Độ có thể sẽ vượt Việt Nam trong xuất khẩu gạo Loại lúa chất lượng thấp IR 50404 của Việt Nam giá có thể không tăng lên được do chưa có nhiều hợp đồng xuất khẩu cho loại gạo này
2 Xuất khẩu gạo “nhìn về năm nay, lo về năm tới”
Việt cũng thể hiện ở góc độ giá đuổi kịp Thái Lan ở một số thời điểm, hay thiết lập chặt chẽ các mối quan hệ bạn hàng truyền thống với Indonesia, Philippines, Malaysia, Singapore và mở ra nhiều thị trường mới quan trọng như Bangladesh, Côte d'Ivoire, Senegal…Nhưng, nhìn về tổng thể, xuất khẩu gạo năm nay có thể thấy được trên biểu đồ về sản lượng và kim ngạch, gắn với nó là ba giai đoạn: trắc trở đầu năm, hanh thông kéo dài suốt quý 2 và phần lớn quý 3, để rồi lại trùng xuống trong những tháng cuối năm này
2.1 Từ trắc trở
Đầu năm nay, trong tình thế giá gạo điều chỉnh giảm nhẹ và xuất khẩu tháng 1 không mấy khả quan, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thận trọng dự báo, khối lượng gạo xuất khẩu trong năm 2011 sẽ chỉ dao động ở mức 5,5-6,1 triệu tấn
Lo ngại kỷ lục trên 6,7 triệu tấn gạo xuất khẩu năm trước đó không thể duy trì, hội nghị triển khai kế hoạch xuất khẩu gạo năm 2011 của Hiệp hội Lương thực Việt Nam vào lúc “khai xuân” cũng chỉ đưa vào kế hoạch phấn đấu 6 triệu tấn, mức kim ngạch tương đương năm trước đó, vào khoảng 3 tỷ USD
II.2 Đến thành công
Nhưng “trong cơn bĩ cực” nhiều bạn hàng truyền thống khác đã trám chỗ nhanh chóng mà Indonesia là một ví dụ điển hình Ngay trong tháng đầu năm, quốc gia này
đã nhập khẩu hơn 200 nghìn tấn gạo Việt Nam, chiếm gần 2/3 tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước trong tháng
Sự gia tốc của nhiều thị trường cũng thúc đẩy Philippines quay trở lại Thực tế đến cuối tháng 11 năm nay, bạn hàng lớn của năm ngoái chỉ còn duy trì mức kim ngạch bằng một nửa 2010, nhưng vẫn đứng thứ hai trong các đối tác quan trọng hàng đầu của gạo Việt
II.3 Và trùng xuống
Nhưng vào tháng 9/2011, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đột ngột giảm hơn 40% so với tháng trước đó.Trong khoảng 3 tháng gần đây, lượng gạo liên tục duy
Trang 7trì xu hướng giảm đó, về lại mức khoảng 400-450 nghìn tần/tháng Nguyên nhân chính cho những thay đổi vừa qua là do Ấn Độ đã quay trở lại thị trường cung ứng gạo Quốc gia này, cùng với Pakistan đã cung cấp ra thị trường một lượng gạo lớn với giá rẻ, tác động mạnh đến giá gạo của Việt Nam, cũng như hướng nhu cầu của nhiều đối tác nhập khẩu sang phía họ “Vì giá của họ thấp quá, có lúc giá thấp hơn đến 100 USD/tấn, có khi lên đến 120-130 USD/tấn”
3 Nhu cầu xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan sôi động
Gạo Ấn Độ giá vẫn rẻ hơn so với gạo Việt Nam và Thái Lan, song các thương gia cho biết hạ tầng cơ sở cho xuất khẩu của Ấn Độ không thể đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu với khối lượng lớn Gạo 100% B của Thái Lan nhờ đó đã tăng giá lên 540
đô la/tấn, FOB, vào ngày đầu tiên của tháng 3, ngày mùng 1, từ mức 535 đô la một tuần trước đó Gạo 5% tấm cũng tăng từ mức 525 đô la lên 530 đô la
Năm 2011 Việt Nam đã xuất khẩu tới 100.000 tấn gạo sang HongKông, chiếm 1/3 tổng lượng gạo nhập khẩu vào Hongkong, từ mức chỉ dưới 1% năm 2007, theo báo Vietnam News dẫn tin từ một quan chức ngành lúa gạo Hongkong trong chuyến thăm Việt Nam
Nông dân ở ĐBSCL của Việt Nam đang vào vụ thu hoạch lúa đông xuân, dự kiến sắp bước vào lúc cao điểm Vụ này có sản lượng cao nhất, thường được sử dụng cho xuất khẩu Mặc dù thị trường lúa gạo những ngày qua có sôi động chút ít, song nhìn chung xu hướng giảm giá vẫn bao trùm
III QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG LÚA
GẠO VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Cầu trong nước
Theo Bộ Công thương, lượng cung nguồn lúa gạo hiện nay hoàn toàn đáp ứng
đủ nhu cầu trong nước Tại khu vực ĐBSCL, sản lượng lúa vụ hè thu đã đạt 8 triệu tấn Sản lượng lúa gạo trong năm có thể đạt 36 triệu tấn Ngoài ra, từ nay đến cuối năm 2012, lượng gạo dự trữ trong kho mỗi tháng sẽ đạt khoảng 300.000 - 500.000 tấn, góp phần bổ sung lượng gạo dự trữ
Do nhiều năm được mùa nên tỷ lệ dự trữ lương thực trong kho đạt trên 40%, cao hơn nhiều so với mức an toàn 17-18% mà quốc tế công nhận Để cân đối nguồn gạo dành cho xuất khẩu từ nay đến cuối năm 2012, Bộ Công thương đã kiến nghị Bộ
Trang 82 Cầu ngoài nước
2.1 Nhu cầu tiêu dùng gạo thế giới
Theo dư báo của USDA tháng 2 năm 2007, thương mại lúa gạo toàn cầu tăng 2,4 % hàng năm từ năm 2007 dến 2016 đến năm 2016 thương mại lúa gạo toàn cấu đạt mức 35 triệu tấn, tăng gần 25% so với mức năm 2002 Trong những năm tới các giống gạo hạt dài dự tính khoảng ¾ thương mại lúa gạo toàn cầu Đây là một lợi thế cho Việt nam Gạo hạt dài sẽ được nhập khẩu bởi nhiều nước Nam và Đông Nam Á, nhiều nước ở Trung Đông và phần lớn các nước vùng Sahara Châu Phi và các nước Châu Mỹ la tinh Gạo hạt ngăn và hạt trung bình dự kiến tăng 10-12% thương mại toàn cầu, với các nước nhập khẩu chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ
Kỳ, Jordan, Papue Neư Guine v.v
Tuy nhiên, ở nhiều nước Châu Á, đặc biệt là các nước có thu nhập trung bình
và thu nhập cao, sẽ có xu hướng giảm tiêu dùng gạo do tác động của yếu tố thu nhập tăng, và bên cạnh đó là các phong trào ăn kiêng ngày càng đa dạng Theo đó, tổng tiêu dùng gạo ở Trung Quốc, nước tiêu dùng gạo nhiều nhất trên thế giới, dự báo sẽ giảm trong giai đoạn 2007-2017
Nhu cầu lúa gạo của Châu Phi dự báo cũng sẽ tăng, và lúa gạo sẽ là cây lương thực chính của khu vực này Tổng nhu cầu lúa của toàn cầu giai đoạn 2008-2015 dự báo sẽ tăng mỗi năm 50 triệu tấn lúa
2.2 Dự trữ và giá gạo thế giới
Tình trạng tiêu dùng vượt quá lượng gạo có thể sản xuất, cùng với tình trạng dự trữ gạo của hầu hết các nước đều giảm mạnh, mức dự trữ gạo hiện nay đang ở mức thấp nhất, giá gạo trên thị trường thế giới đang có những biến động mạnh
Mặc dù diện tích lúa cũng có khả năng mở rộng ở một số quốc gia khác ở Châu
Á, tuy nhiên tổng diện tích đất lúa của Châu Á khó có khả năng vượt quá 136 triệu ha Trong bối cảnh đó, công cụ chính để tăng sản lượng gạo là dựa vào việc tăng năng suất lúa, trong khi đó tốc độ tăng trưởng năng suất lúa hiện nay là quá thấp để có thể thúc đẩy tăng sản lượng gạo theo mức mong muốn Ở hầu hết các nước trồng lúa chính ở Châu Á, tốc độ tăng trưởng năng suất lúa trong vòng 5 năm trở lại đây gần như bằng 0 Tình trạng khí hậu toàn cầu nóng lên đã tác động tiêu cực tới năng suất lúa đồng thời làm tăng tần suất xảy ra thiên tai hạn hán và lũ lụt
Trang 9IV CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT
Theo đó, cơ chế, chính sách hỗ trợ sẽ thực hiện ở cả "đầu vào" và "đầu ra" cho sản xuất thông qua các giải pháp: Nhà nước hỗ trợ lãi suất vay vốn cho người sản xuất lúa để mua vật tư đầu vào như: Giống lúa, phân bón, thuốc trừ sâu và hỗ trợ doanh nghiệp mua lúa tạm trữ Thực hiện được cơ chế này, Nhà nước thành lập quỹ bình ổn giá thóc, gạo và cho phép doanh nghiệp mua khối lượng thóc tạm trữ được sử dụng Quỹ bình ổn giá để trực tiếp bù đắp phần chênh lệch giữa giá thị trường và giả sàn định hưởng Theo tính toán, quỹ bình ổn này chỉ ra khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm thì mới bảo đảm yêu cầu hỗ trợ cả nông dân và doanh nghiệp Nguồn thu của quỹ là một phần lợi nhuận trước thuế của lượng gạo xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu gạo
Để người sản xuất thật sự được thụ hưởng chính sách này thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải mua lúa trực tiếp từ nông dân Điều này không dễ thực hiện ngay bởi hiện nay, việc thu mua tại nhà người sản xuất chỉ đạt 20%, còn lại 80% vẫn qua trung gian, nên tình trạng nông dân bị ép giá vẫn phổ biến Vì vậy, các doanh nghiệp phải công bố hai loại giá ở hai địa điểm mua khác nhau, gắn với tiêu chuẩn chất lượng của lúa để người sản xuất lựa chọn nơi bán hàng hóa của mình thuận lợi nhất
Tuy nhiên, cùng với chính sách hỗ trợ như vậy, để ổn định thị trường lúa, gạo trong nước, cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ khác để bảo đảm tính bền vững như: Giúp nông dân áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật, đầu tư hợp lý để có lãi ngay cả khi giá lúa, gạo trên thị trường xuống thấp Hiệp hội lương thực và các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin đầy đủ về thị trường cho nông dân, giúp họ xem xét "mua gì, bán gì", ở đâu có lợi nhất
Về phía doanh nghiệp, cần sắp xếp hệ thống thu mua lúa của người sản xuất và đẩy nhanh tiến độ xây kho tạm trữ lúa để chế biến gạo xuất khẩu, tạm trữ cho đến khi xuất khẩu hết số lúa hàng hóa, không để xảy ra tình trạng mà người nông dân thường gặp là mất mùa được giả, còn được mùa thì rớt giá Trong điều kiện thị trường lúa, gạo luôn có những biến động thì chính sách trợ giúp người sản xuất và lập quỹ bình ổn giá lúa, gạo là cần thiết nhằm giúp người nông dân yên tâm sản xuất, doanh nghiệp yên tâm thu mua Từ đó, nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chủ lực này, bảo đảm nhiều mục tiêu, cả ngắn hạn và dài hạn Từ đầu năm
Trang 10đến nay, Chính phủ đã 2 lần có quyết định mua tạm trữ lúa gạo Hình thức hỗ trợ thu mua tạm trữ lúa gạo cho đến nay vẫn là dành lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp dựa trên lượng lúa tạm trữ theo phân bỏ Tuy nhiên, chính sách này trong thời gian qua đã không đạt được mục đích đảm bảo cho nông dân trồng lúa có lời từ 30% trở lên
Năm nào cũng thế điệp khúc “được mùa mất giả” cứ lặp đi lặp lại trong nông dân luôn tồn đọng, bị ép giá liên tục, Chính phủ phải chi kinh phí hỗ trợ lãi suất để mua lúa tạm trữ
V LIÊN HỆ BẢN THÂN
Từ nội dung và nhận thức trên, em rút ra được những bài học như sau:
Bởi giá trần là mức giá cao nhất mà chính phủ quy định cho một loại hàng hóa nên sẽ xảy ra 3 hệ quả tất yếu sau đây: Từ nhận thức được những ưu điểm cũng như nhược điểm trong vận dụng cung cầu của chính sách giá trần cũng như giá sàn đem lại như trên,sau đây là một số ý kiến,nhận xét, đánh giá của nhóm: quy định
Giá trần và giá sàn là một trong rất nhiều biện pháp,chính sách can thiệp trực tiếp của chính phủ trong quy luật vận dụng cung cầu để điều tiết,cân bằng nền kinh tế thị trường
Bởi giá trần là mức giá cao nhất mà chính phủ quy định cho một loại hàng hóa nên sẽ xảy ra 3 hệ quả tất yếu sau đây:
Là người sản xuất sẽ phải chịu thiệt thòi vì cung cấp ở mức giá thấp hơn mức giá quy định
Là đối với người tiêu dùng thì một số sẽ được lợi vì mua được những hàng hóa rẻ,một số bị thiệt vì không mua được hàng hay bắt buộc phải mua ở thị trường không hợp pháp do thiếu hàng hóa với mức giá cao hơn mức giá cân bằng
Là tạo ra mặt tiêu cực vì gây khan hiếm hàng hóa trên thị trường
Ngược lại bởi giá sàn là mức giá thấp nhất của hàng hóa do chính phủ quy định nên sẽ xảy ra hai điều tất yếu sau đây:
Người tiêu dùng sẽ bị thiệt vì phải mua hàng hóa ở mức giá cao hơn giá cân bằng trên thị trường,còn người bán lại được lợi vì bán được hàng ở mức giá rẻ Trên đây cái nhìn khái quát lại một lần nữa những tác động cơ bản mà chính sách giá trần
và giá sàn đem lại cho nền kinh tế
Và thật vậy hiện nay tốc độ phát triển của nhân loại như vũ bão,cùng với các nhân tố khác như khoa học,công nghệ hiện đại thì vấn đề kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới chỉ tiêu đánh giá phát triển của một quốc gia,dân tộc