1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trình bày quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

12 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình bày quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 37,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A LỜI MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I CƠ SỞ LÝ LUẬN 2 1 Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 2 1 1 Lực lượng sản xuất 2 2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực.

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những cống hiến vĩ đại của C.Mác là phát hiện Chủ nghĩa duy vật lịch sử - đây là bước ngoặt có tính cách mạng trong lịch sử triết học của nhân loại Bằng phương pháp biện chứng và lập trường duy vật về lịch sử, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của xã hội loài người qua các thời kỳ lịch sử Với cống hiến này, lần đầu tiên lịch sử được nhận thức và lý giải đúng như bản thân nó, khách quan và chân thực

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tác động của “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháp triển của lực lượng sản xuất” tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội; sự vận động, pháp triển của lịch sử nhân loại từ phương thức sản xuất thấp lên phương thức sản xuất cao hơn

Quy luật này còn là cơ sở để giải thích về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội, sự biến đổi trong đời sống chính trị.vì vậy việc vân dụng quy luật này trong việc xây dựng, phát triển đất nước là điều hợp lí, tuy nhiên không phải quốc gia nào, đất nước nào cũng vận dụng nó một cách hiệu quả, việc vận dụng quy luật này cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng

Nước ta cũng là nước vận dụng quy luật này để đổi mới và phát triển đất nước thông do đó em đi vào nghiên cứu đề tài: “Trình bày quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Anh (chị) liên hệ vấn đề vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay?”

1

Trang 2

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động (sức khỏe, thể chất, kinh nghiệm, kĩ năng, tri thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định

Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất

Con người: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của người lao động ngày càng cao Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu

Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.Trong tư liệu sản xuất thì nhân tố công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thể hiện tiêu biểu trình độ con người chinh phục thế giới tự nhiên 1.2 Quan hệ hệ sản xuất

2

2

Trang 3

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội)

Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan

hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, các mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất gồm ba mặt:

Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người đối với tư liệu sản xuất, nói cách khác tư liệu sản xuất thuộc về ai

Chế độ tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động, quan hệ giữa người quản lý với công nhân

Chế độ phân phối sản xuất, sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi người lao động

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định Tuy nhiên, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác động trở lại quan hệ sở hữu

2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

2.1 Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với sự hình thành, biến đổi

và phát triển của quan hệ sản xuất.

Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, ở trình

độ kĩ năng, kinh nghiệm của người lao động, trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật và sản xuất…ứng với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của nó Trình độ của lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất cụ thể:

Tương ứng với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp ở cả ba mặt của nó.Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển, do yêu cầu phát triển của sản xuất vật chất khi lực lượng

3

3

Trang 4

sản xuất không ngừng phát triển lên một trình độ cao hơn, đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi theo cho phù hợp tạo động lực cho sự phát triển của lực lượng sản xuất

Tuy nhiên cần nhận thấy, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất,

nó luôn vận động và biến đổi trong quá trình lịch sử, hay nói cách khác lực lượng sản xuất thường phát triển nhanh hơn trong khi quan hệ sản xuất thì chậm thay đổi hơn Chính vì vậy, khi sự phát triển của lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định thì sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có và xuất hiện yêu cầu phải xóa bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.

Mặc dù bị quyết định bởi lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối so với lực lượng sản xuất, vì vậy quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại lực lượng sản xuất:

Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất phân phối do đó nó

có ảnh hưởng trực tiếp tới thái độ của người lao động, tới năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động, từ đó tác động tới lực lượng sản xuất

Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai

xu hướng:

Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuát thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Sự phù hợp “ được quan niệm là sự phù hợp biện chứng chứa đựng mâu thuẫn”, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn, bao hàm mâu thuẫn.Sự kìm hãm của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất có thể là do quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc do quan hệ sản xuất vượt trước trình độ của lực lượng sản xuất hiện có Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là quan hệ chung nhất chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự phát triển của lực lượng sản xuất kéo theo sự phat triển của quan hệ sản xuất, phá bỏ quan hệ sản xuất lỗi

4

4

Trang 5

thời, quá trình này lặp đi lặp lại làm cho xã hội loài người trải qua những phương thức sản xuất từ thấp tới cao dẫn tới sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội

II SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

1 Quá trình nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất trong thời kì đổi mới.

Ở Việt Nam, sau khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1954), Đại hội III của Đảng (91960) đã xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nội dung chủ yếu là tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về sản xuất; Công nghiệp nặng rất coi trọng

Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều tập trung xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, vấn đề chủ yếu là xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất , xác lập sở hữu công cộng dưới hai hình thức nhà nước (nhà nước) và tập thể Do đó, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, vốn đang trên đà bùng nổ, sẽ chỉ có thể biến đổi xã hội hiện tại một cách dần dần, và chỉ khi một khối lượng lớn các ý tưởng tư bản được tạo ra bị đàn áp nếu hoạt động sản xuất là cần thiết cho cuộc cải cách đó

Có nhiều quy luật của thời kỳ quá độ chưa được nhận thức và thực hiện đúng đắn, không thúc đẩy mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển, nhất là quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Tuy lực lượng sản xuất còn rất kém phát triển do xuất phát điểm của Việt Nam còn ở trình độ rất thấp, nhưng Việt Nam lại chú trọng xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở trình

độ cao để lực lượng sản xuất phát triển

Đại hội VI chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế, kể cả kinh tế tư bản tư nhân, cá thể và tiểu chủ, thừa nhận sự tồn tại của tư hữu Quy luật và cũng là mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn là câu hỏi chỉ đạo cơ bản khi hoạch định các chính sách kinh tế

Đảng và nhà nước cam kết phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Nghị quyết Trung ương 7 khoá XII (1994) đề

ra, và từ năm 1996, Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh của mình giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự phát triển của công nghệ thông tin, và hơn hết là ứng dụng các thành tựu của cuộc cách

5

5

Trang 6

mạng công nghiệp 4.0, thúc đẩy hội nhập quốc tế, cho phép phát triển lực lượng sản xuất quy mô lớn, chất lượng cao và hiệu quả

Để lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất sao cho phù hợp về sở hữu, quản lý và phân phối Ở đây, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất luôn là đối tượng được quan tâm đặc biệt

Về vai trò của kinh tế nhà nước gắn với chế độ sở hữu nhà nước là sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất mà doanh nghiệp nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII (tháng 5/2017) cho biết “Từ chỗ có hơn 12.000 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, năm 2001 đã giảm xuống còn 5.655 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đến thời điểm tháng 10/2016 chỉ còn 718 doanh nghiệp 100% tình hình đó đặt ra nhiệm vụ xây dựng

và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa về sở hữu, chế độ và phương thức quản lý sao cho có kết quả, hiệu quả và phân phối tốt nhất trong nền kinh tế Chính phủ

Hội nghị Trung ương 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất là quy luật và cũng là vấn đề cơ bản trong nhận thức về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Công nghiệp hoá- hiện đại hoá được xem xét từ tư duy triết học là thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ biện chứng của phương thức sản xuất Muốn công nghiệp hoá- hiện đaiị hoá đất nước cần phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong đó lực lượng lao động là yếu tố vô cùng quan trọng Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại hết sức thô sơ, lạc hậu, công nghiệp hoá- hiện đại hoá đứng trước khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý, và trong thời cơ cũng như thách thức to lớn hiện nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển, mà cốt lõi của sự phát triển cũng vẫn là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

6

6

Trang 7

Mục tiêu của công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước đang được nỗ lực thực hiện

và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế song tương lai phát triển đất nước vẫn mang nhiều yếu tố chủ quan

3 Thành tựu và hạn chế kinh tế - xã hội đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới

3.1 Thành tựu

Trong những năm qua, Đảng và toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu và đạt được những thành tựu quan trọng:

Một là, kinh tế tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7 - 8%/năm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực Trong GDP hiện nay,

tỷ trọng nông nghiệp là 24,3%, công nghiệp và xây dựng là 36,6%, dịch vụ là 39,1%

Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực Năm 1995, bình quân lương thực là 360 kg/người, năm 2000 đã tăng lên 444kg/người Nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản phát triển khá Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 5,7% (mục tiêu đề ra là tăng 4,5 - 5%) Đã tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ 2 - 3 thế giới), cà phê (đứng thứ 3 thế giới), ngoài ra còn có hồ tiêu, cao su, và hàng thuỷ sản…

Công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được nhiều tiến bộ Nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là 13,5% Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá: năm 2000 so với năm 1995, công suất điện gấp 1,5 lần, xi măng gấp 2,1 lần, phân bón gấp trên 3 lần, thép gấp 1,7 lần, mía đường gấp hơn 5 lần … Một số sản phẩm quan trọng tăng nhanh như dầu thô, điện, than sạch, thép cán, xi măng, vải các loại, giấy các loại … Ngành xây dựng có thể đảm đương việc thi công những công trình quy mô lớn, hiện đại về công nghệ

Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trước, góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống Giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm Giá trị doanh thu bưu điện tăng bình quân hàng năm 11,3%

Hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển khá, đáp ứng yêu cầu trước mắt và tạo được những năng lực gối đầu cho thời kỳ sau Các công trình và các trục tuyến giao thông quan trọng được tập trung đầu tư nâng cấp, bảo đảm giao thông thông suốt trong cả nước Hệ thống bưu chính viễn thông được hiện đại hoá về cơ bản Hệ thống

7

7

Trang 8

thuỷ lợi được nâng cấp và phát triển trên các vùng Cơ sở vật chất của các ngành giáo dục và đạo tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, du lịch, thể dục thể thao

… đều được tăng cường đáng kể

Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển Nước ta đã xây dựng quan hệ thương mại với trên 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm trên 21%, gấp 3 lần mức tăng GDP Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiếp tục tăng, góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng

Hai là văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất Năm học 1999 - 2000 so với 1994 -1995 số học sinh các cấp học, bậc học đều tăng đáng kể, mẫu giáo tăng 1,2 lần, trung học cơ sở 1,6 lần, trung học phổ thông 2,3 lần, đại học 3 lần, học nghề 1,8 lần Đến hết năm 2000, cả

61 (nay là 64) tỉnh, thành phố đều đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá

mù chữ; một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu phổ cập trung học cơ sở Phong trào học tập phát triển nhanh, chất lượng giáo dục - đào tạo đã có chuyển biến bước đầu

Việc xã hội hoá giáo dục - đào tạo đã bước đầu được triển khai và phát triển

Việc làm và đời sống của nhân dân được giải quyết có nhiều kết quả Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở các vùng nghèo, xã nghèo, đạt kết quả tốt, được đánh giá là một trong những nước giảm tỷ lệ đói nghèo tốt nhất Đời sống dân cư nhiều vùng được cải thiện rõ rệt

Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình; bảo vệ chăm sóc trẻ em, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chăm sóc người có công, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn; thể dục thể thao … đã đạt nhiều kết quả tốt

Những thành tựu đạt đạt được trong những năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế

8

8

Trang 9

3.2 Hạn chế

Do nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bém, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa xác định được nhiều Mặc dù cơ cấu các ngành GDP có chuyển dịch rõ rệt những cơ hội nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi Hiện nay hơn 75% dân số vẫn sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp vẫn chiếm > 60% tổng số lao động xã hội

Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng hiệu quả còn thấp Đất nước Việt Nam vẫn thuộc 20 nước nghèo nhất thế giới Đây là thách thức cực

kỳ to lớn cần phát huy mọi tiềm năng để giải quyết

Vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu: khả năng kiềm chế lạm phát còn chưa vững chắc Ngân sách thu không đủ chi, tỉ lệ bội chi ngân sách còn cao Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỉ cương còn nặng

và phổ biến Nạn buôn lậu và tệ quan liêu được coi là quốc nạn, được đưa vào chương trình nghị sự quan trọng hàng đầu của Việt Nam Song hiện vẫn chưa khắc phục được, thậm chí còn có phần nghiêm trọng hơn

Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn lực tài nguyên và nạn ô nhiễm môi trường cũng gây khó khăn cho quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nước ta Hạn chế trong nền kinh tế - xã hội nước ta còn nhiều Nhưng nguyên nhân của những yếu kém đó là do hậu quả của nhiều năm trước để lại khi không hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự phù hợp mang tính tất yếu của chúng, đồng thời những bất lợi của tình hình thế giới hiện nay và những khuyết điểm còn mang tính chủ quan duy ý chí trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước ta, tạo

ra một đội ngũ cán bộ hạn chế về trình độ, thiếu sự năng động trong làm ăn và quản lý kinh tế

4 Giải pháp

Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Trên mỗi bước đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra lực lượng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất lên hình thức, quy mô thích hợp

để cho lực lượng sản xuất phát triển

9

9

Trang 10

Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn những hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng được mở rộng, các hình thái kinh tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công nghiệp chế biến nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ

C KẾT LUẬN

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác động không chỉ tới một hình thái kinh tế xã hội nào đó, mà tác động tới toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại

Ở Việt Nam, việc duy trì tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà nước là đa dạng hoá các loại hình sở hữu, cải thiện căn bản quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất đang phát triển Điều này phù hợp với quá trình đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn của Việt Nam Tuy vậy, thực tế đặt ra vấn đề nan giải là làm thế nào để có thể phát triển trình độ lực lượng sản xuất ở Việt Nam bắt kịp với các nước trên thế giới? Điều này đặc biệt có

ý nghĩa khi Việt Nam đi từ một nước phong kiến bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, mà thiếu cái “cốt vật chất” hiện đại của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong khi đó các nước khác phải mất hàng chục thậm chí hàng trăm năm phát triển mới có được lực lượng sản xuất hiện đại

Mấu chốt ở đây là các biện pháp, thủ tục hành chính, các điều kiện, hành lang pháp

lý thuận lợi cho các hoạt động giao lưu, hội nhập với kinh tế thế giới Mong rằng với những nỗ lực và quyết tâm đúng hướng của mình, Đảng ta sẽ sớm đưa được con tàu đất nước đến cái đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại hội VIII đã đề ra

10

10

Ngày đăng: 26/12/2022, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w