1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 2 I Lý do chon đề tài 2 B NÔI DUNG 3 I Quy luật giá trị 3 1 Vị trí của quy luật giá trị 3 2 Nội dung của quy luật giá trị 3 3 Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị 4 4 Vai trò của quy.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I Lý do chon đề tài

Trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, thành phần dân cư, nhưng tựu trung lại được chia làm hai nhóm nước: phát triển và đang phát triển Để có được sự phân chia này, chủ yếu dựa vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Như chúng ta đã biết, cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước trên thế giới luôn diễn ra sôi động, khốc liệt

và luôn được điều tiết, chi phối bởi các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị Có thể khẳng định quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất và nền kinh tế Việt Nam cũng không ngoại lệ, cũng chịu tác động của quy luật giá trị

Vậy vì sao lại như vậy, đối với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay chịu ảnh hưởng của quy luật này như thế nào? Để trả lời được câu hỏi trên, em xin nghiên cứu đề tài: “Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh

tế thị trường? Thưc trạng và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở Việt Nam?

Trang 3

B NÔI DUNG

I Quy luật giá trị

1 Vị trí của quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa,

là quy luật quan trọng nhất Ở đâu có trao đổi và sản xuất hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị

2 Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết

Trong sản xuất, người sản xuất phải có mức hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn

hoặc bằng với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợi thế trong cạnh tranh Vì trong nền sản xuất hàng hóa, vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không? Để có thể bán được thì hao phí lao động của các chủ thể kinh doanh để sản xuất ra hàng hóa phải phù hợp với mức hao phí lao động có thể chấp nhận được Cụ thể như sau: ta gọi Kc là hao phí lao động xã hội cần thiết, Kcb là hao phí lao động cá biệt, ta có:

- Nếu Kcb < Kc (bán hàng theo Kc) thì sản xuất lãi ( giá cả hàng hóa > giá trị cá biệt của hàng hóa), người sản xuất sẽ thu nhiều lãi, có khả năng phát triển kinh doanh;

- Nếu Kcb = Kc (bán hàng theo Kc) thì người sản xuất sẽ thu được lợi nhuận bình quân;

- Nếu Kcb > Kc (bán hàng theo Kc) thì người sản xuất sẽ lỗ, có khả năng sẽ phá sản nếu cứ tiếp tục bán hàng hóa như vậy, diều cần làm ngay lúc này là nhà sản xuất cần phải giảm Kcb ở mức thấp nhất có thể

Trong lưu thông hàng hóa cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần

thiết, tức là việc trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá: giá cả = giá trị Hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi ngang nhau khi lượng

Trang 4

giá trị của chúng ngang nhau Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc, vải dùng để may mặc

và thóc gạo làm lương thực cho con người, hai hàng hóa này trao đổi được với nhau vì có lượng hao phí lao động xã hội ngang bằng Ở đây, chúng ta cần hiểu thêm, giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người; giá trị của hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa; còn lượng giá trị là lượng hao phí lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết ( thời gian lao động trong điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình) Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, giá trị là cơ sở của giá cả, giá cả cao hay thấp do giá trị của hàng hóa trên thị trường quyết định

Như vậy, quy luật giá trị buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo yêu cầu của nó thông qua “ mệnh lệnh” giá cả của thị trường

3 Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị

Trong thực tế, do sự tác động của nhiều quy luật kinh tế, nhất là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hóa thường xuyên tách rời giá trị, nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh trục giá trị, trong đó giá trị hàng hóa là trục, giá cả thị trường lên xuống quanh trục đó Nếu sức mua đồng tiền không đổi, không kể đến sự điều tiết của nhà nước và độc quyền thì xảy ra ba trường hợp:

+ Khi cung = cầu thì giá cả = giá trị;

+ Khi cung > cầu thì giá cả < giá trị;

+ Khi cung < cầu thì giá cả > giá trị

Tuy nhiên, xét tổng thể quá trình thì tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị Giá cả thị trường tự phát lên xuống quanh trục giá trị là sự biểu hiện của quy luật giá trị

4 Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường

4.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Về bản chất, sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị là sự điều chỉnh một cách tự phát các yếu tố của sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động và vốn từ

Trang 5

ngành này sang ngành khác, từ nơi này sang nơi khác để sản xuất hàng hoá trong một ngành , một nơi được mở rộng, một ngành khác bị thu hẹp, bởi sự biến động của giá cả thị trường, do đó tạo ra mối quan hệ cân bằng tạm thời giữa các ngành, các vùng của nền kinh tế hàng hoá nhất định Quy luật cạnh tranh được minh họa ở chỗ: cung và cầu thường muôn hình vạn trạng, nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ bình đẳng mà thường tách biệt và chống đối nhau Cung luôn

đi sau cầu Nhưng cho đến nay vẫn chưa bao giờ chính xác là hài lòng Đây là lý

do tại sao thị trường xảy ra các trường hợp sau: Khi cung bằng cầu, giá tương đương với giá trị của hàng hóa, trường hợp này xảy ra một cách ngẫu nhiên và rất hiếm khi xảy ra Khi cung ít hơn cầu, giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lợi nhuận cao thì người sản xuất ra hàng hóa này sẽ mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất hết tốc lực; đối với những hàng hoá khác thì giảm quy mô sản xuất để chuyển sang dùng những hàng hoá đó, như vậy tư liệu sản xuất, sức lao động và vốn chuyển vào ngành đó tăng lên, lượng cung hàng hoá đó tăng lên Khi cung vượt cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hoá dư thừa, bán không tốt, có thể lỗ vốn Tình hình này buộc những người sản xuất loại hàng hoá này phải giảm quy mô sản xuất, chuyển sang sản xuất hàng hoá có giá cả thị trường cao hơn ;làm cho tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn ở ngành hàng hoá này giảm đi

Về bản chất, sự điều tiết của quy luật giá trị bao gồm việc điều chỉnh một cách tự phát lượng hàng hoá từ nơi có giá thấp lên nơi có giá cao, tạo ra mặt bằng giá cả xã hội, thì điều kiện để tổng lượng hàng hoá được tiêu dùng cũng sẽ biến đổi Nếu giá trị thị trường giảm, thì nhu cầu xã hội nói chung sẽ tăng hơn nữa và trong những giới hạn nhất định, sẽ thu thập và thu hút lượng hàng hóa lớn hơn Nếu giá trị thị trường tăng lên thì nhu cầu của xã hội đối với hàng hóa sẽ giảm đi và lượng hàng hóa tiêu thụ cũng giảm theo Vì vậy, nếu cung và cầu điều chỉnh giá cả thị trường hay nói đúng hơn, nó điều chỉnh khoảng cách giữa giá thị trường và giá trị thị trường, ngược lại, chính giá trị thị trường điều chỉnh

tỷ lệ cung và cầu, hoặc ai là trung tâm xung quanh trung tâm này, làm thay đổi cung và cầu khiến giá thị trường giảm Trong xã hội tư bản đương thời, mỗi nhà

tư bản công nghiệp tự ý sản xuất những gì mình muốn, như thế nào và với số

Trang 6

lượng như thế nào Đối với họ, đại lượng mà xã hội cần là một ẩn số Cái gì hôm nay không cung cấp được thì ngày mai cũng có thể cung cấp Tuy nhiên, người dân do dự không đáp ứng đủ nhu cầu, sản xuất thường theo mặt hàng

“… Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá trong xã hội gồm những người sản xuất trao đổi hàng hoá cho nhau ,sự canh tranh lập ra bằng cách

đó và trong điều kiện nào đó một trật tự duy nhất và mộy tổ chức duy nhất có thể

có cuả nền sản xuất xã hội Chỉ có do sự tăng hay giảm giá hàng mà những người sản xuất hàng hoá riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội cần vật phẩm nào và với số lượng bao nhiêu”(C.mác:sự khốn cùng của triết học ,nhà xuất bản Sự thật {8,19_20})

4.2 Kích thích lực lượng sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động xã hội

Để tránh phá sản, giành được lợi thế cạnh tranh và thu được nhiều lợi nhuận, mọi người sản xuất hàng hoá đều tìm mọi cách cải tiến công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của những người mới vào sản xuất để giảm hao phí lao động cá biệt và giảm giá trị cá biệt của hàng hoá do mình sản xuất ra, làm cho công nghệ của toàn xã hội ngày càng phát triển lên trình độ sản xuất ngày càng cao Như vậy thấy rằng, phương thức sản xuất của tư liệu sản xuất không ngừng thay đổi dẫn đến sự phân công lao động tỉ mỉ hơn sử dụng nhiều máy móc hơn, quy mô lớn dẫn đến quy mô lớn hơn

Đó là quy luật luôn đẩy sản xuất về phương thức cũ và luôn thúc đẩy sản xuất làm cho sức sản xuất của lao động càng trở nên bức thiết Luật này không

có gì khác ngoài một quy tắc nhất định giữ cho giá cả hàng hóa ngang bằng với chi phí sản xuất của chính chúng, trong giới hạn của những biến động theo chu

kỳ của thương mại Nếu dược phẩm được sản xuất ít đắt hơn, thì nhiều tài sản có thể được bán hơn và do đó bị chiếm dụng Theo Mác, trong sự vận động bên ngoài của tư bản, các quy luật bên trong của sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành quy luật bắt buộc của cạnh tranh, mà ở hình thức này, đối với các nhà tư bản, quy luật biểu hiện như động cơ hành động của họ nghĩa là, để phân tích cạnh tranh, cần phải t đầu tiên phân tích bản chất bên trong của vốn, cũng giống như chỉ ai hiểu được chuyển động thực tế của các thiên thể - mặc dù không thể nhìn

Trang 7

thấy bằng giác quan, họ mới có thể hiểu được chuyển động biểu kiến của các thiên thể

4.3 Phân hoá những người sản xuất thành người giàu, người nghèo

Trong xã hội của những người sản xuất cá thể đã có mầm mống của một phương thức sản xuất mới Trong sự phân chia tự phát, không có kế hoạch thống trị xã hội, phương thức sản xuất đã hình thành nên sự phân công sản xuất Sản xuất công cộng, có tổ chức theo kế hoạch, trong nhà máy; bên cạnh nền sản xuất của những người sản xuất nhỏ lẻ, đã xuất hiện nền sản xuất xã hội Các sản phẩm của hai loại hình sản xuất này được bán trên cùng một thị trường , vì vậy giá ít nhất là xấp xỉ nhau Nhưng so với sự phân chia tự phát, tổ chức có kế hoạch đương nhiên mạnh hơn nhiều; sản phẩm của công xưởng lao động xã hội

rẻ hơn sản phẩm của những người sản xuất nhỏ lẻ phân tán Sản xuất của những người sản xuất riêng lẻ thất bại từ ngành này sang ngành khác

Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của các quy luật kinh tế, đặc biệt

là quy luật giá trị tất yếu dẫn đến kết quả: người có điều kiện sản xuất thuận lợi,

có vốn lớn, có tri thức và trình độ hoạt động cao, trang bị kỹ thuật tốt sẽ phát triển làm giàu và ngày càng giàu lên Tôi không đáp ứng được các điều kiện trên, hoặc tôi có nguy cơ mất vốn, phá sản Sự chọn lọc tự nhiên đó đã phân hóa giới kinh doanh thành giàu nghèo Người giàu trở thành ông chủ và người nghèo dần trở thành công nhân Lịch sử sản xuất hàng hoá đã chỉ ra rằng, quá trình phân hoá này dẫn đến sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến, dần dần làm nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

“ …Mỗi người đều sản xuất riêng biệt ,cho lợi ích riêng của mình ,không phụ thuộc vào nhà sản xuất khác Họ sản xuất cho thị trường ,nhưng dĩ nhiên không một người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường Mối quan

hệ như vậy giữa nhưng người sản xuất riêng rẽ ,sản xuất cho một thị trường chung,thì gọi là cạnh tranh,Dĩ nhiên trong nhữnh điều kiện ấy,sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến động.Những người khéo léo hơn ,tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ những sư biến động ấy;còn những người yếu ớt ,vụng về thì sẽ bị sự biến động

Trang 8

đó đè bẹp Một vài người trở nên giàu có,còn quần chúng trở nên nghèo đói,đó

là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh Kết cục là những người sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họvà trở thành công nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ” (V.Lenin:Bàn

về cái gọi là vấn đề thị trường{9,127}

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự bần cùng hóa của nhân dân là những hiện tượng ngẫu nhiên Hai hiện tượng này tất nhiên đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế thị trường trên cơ sở phân công lao động xã hội Vấn đề của thị trường hoàn toàn bị bỏ qua, bởi vì thị trường chỉ là biểu hiện của bộ phận này

và sản xuất hàng hóa Chúng ta sẽ thấy rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không chỉ có thể mà còn có thể Đó cũng là điều hiển nhiên, bởi vì một khi kinh

tế xã hội được xây dựng trên cơ sở phân chia và trên hình thái thị trường của sản phẩm, tiến bộ công nghệ không thể không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩa tư bản tăng cường và mở rộng thêm

II Thưc trạng và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị

ở Việt Nam

1 Thực trạng quy luật giá trị tác động lên nền kinh tế ở Việt Nam

Nền kinh tế nước ta dang từ sản xuất nhỏ đi lên san xuất lớn xã hội chủ nghĩa ,từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa Quy luật giá trị gắn liền nền sản xuất hàng hoá đó còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng và trong một thời gian dài.Vai trò và phạm vi hoạt động của nó biển đổi từng thời kì cùng với sự chuyển biến của quan hệ sản xuất ,của lực lượng sản xuất với sự phát triển của phân công lao động xã hội.Vì vậy trong khi xác nhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa,chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá trị,tự giác vận dụng quy luật giá trị và những phạm trù kinh tế gắn liền với qui luật đó như tiền tệ ,giá cả ,tín dụng ,tài chính để kích thích sản xuất

và lưu thông hàng hoá phát triển ,thúc đẩy nền kinh tế nước ta tiến nhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 9

Theo văn kiện đại hội đảng IX”Đảngvà nhà nước tachủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường , có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Với các đặc trưng của mô hình này như đã nói ở trên, các quy luật kinh tế được phép phát huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị đóng vai trò là quy luật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế

2 Ảnh hưởng tích cực của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường của nước ta ngày nay

2.1 Trong lĩnh vực sản xuất

a) Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi doanh nghiệp cần phải chủ động, tự hoạch toán các chi tiêu sản xuất, tự nghiên cứu để tìm ra thị trường thích hợp với sản phẩm của mình, thực hiện sự phân đoạn thị trường

để xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì Đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA, WTO , mỗi doanh nghiệp cần nêu cao sức cạnh tranh của mình cả trong nước và ngoài nước bằng cách huy động được vốn đầu tư, áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ tay nghề người lao động, nắm bắt được nhu cầu người tiêu dùng

Chẳng hạn như tận dụng xu thế sử dụng gạo ở EU đang tăng đáng kể do sự phổ biến của thức ăn châu Á tại đây, trong khi so với hạn ngạch EU cấp khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU có hiệu lực, dư địa cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam còn rất lớn, nhất là khi thuế chỉ còn 0%; vào tháng 8 năm 2020 Công ty cổ phần Nông nghiệp cao Trung An đã triển khai đóng lô gạo đầu tiên xuất khẩu vào EU với mức thuế suất 0%, đã ký hợp đồng bán gạo với ba khách hàng của Cộng hòa Liên bang Đức với tổng khối lượng lên 30000 tấn1

1 https://nhandan.vn/goc-nhin-kinh-te/san-sang-vuon-len-vi-tri-so-mot-ve-xuat-khau-gao-615670/?

fbclid=IwAR3SofzgAG5wfSmWamnm6f8ehSYRPJ4_oYD2nskorHnqZGFCbtkq2TIsdA

Trang 10

Điều này đã giúp khẳng định thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới, làm tăng sức cạnh tranh giữa xuất khẩu gạo ở Việt Nam với các nước khác như Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar

b) Tạo ra sự năng động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến hệ quả tất yếu làm cho nền kinh tế năng động lên, các doanh nghiệp sẽ tìm được cho mình con đường đi mới trong mỗi lĩnh vực sản xuất, làm đa dạng hóa sản phẩm về cả mẫu mã, chất lượng và số lượng Nhờ

có sự đào thải của quy luật giá trị sẽ làm cho sản phẩm ngày càng hoàn thiện; phát triển được nhiều thành phần kinh tế với đa dạng các hình thức sở hữu, trong

đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; phát huy được nội lực để sản xuất ra nhiều hàng hóa, thu nhiều lợi nhuận hơn

c) Thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trên cơ sở đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, thời gian qua, Việt Nam đã tiến hành hội nhập dưới nhiều góc độ:

Về hội nhập đa phương, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007.3

Về hội nhập khu vực, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á (ASEAN), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á

- Thái Bình Dương (APEC)

Ngày đăng: 26/12/2022, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w