CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa gắn với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC TRONG điều KIỆN nền KINH tế VIỆT NAM CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa gắn với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC TRONG điều KIỆN nền KINH tế VIỆT NAM CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa gắn với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC TRONG điều KIỆN nền KINH tế VIỆT NAM CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa gắn với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC TRONG điều KIỆN nền KINH tế VIỆT NAM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ-NIN
CHỦ ĐỀ: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
TÊN ĐỀ TÀI: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Khóa: ………
Tên lớp/ Mã lớp: ……… ……
Mã học phần/ Nhóm: ………
Họ tên sinh viên:………
Mã số sinh viên:………
Trà Vinh, tháng 2/ 2022
Trang 2MỤC LỤ
A MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 2
I LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 2
1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2
2 Công nghiệp hóa luôn gắn với hiện đại hóa 2
3 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức 3
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC 4
1 Khái niệm 4
2 Đặc trưng 4
2.1 Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguồn vốn cơ bản có vai trò quyết định của sản xuất 4
2.2 Sản xuất công nghệ là hình thức sản xuất quan trọng nhất, tiêu biểu nhất 4
2.3 Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất 5
Trang 32.4 Kinh tế tri thức là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa 5
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN GIỮA CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VỚI KINH TẾ TRI THỨC TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6
1 Thành tựu 6
2 Hạn chế 6
3 Các biện pháp đề xuất 8
KẾT LUẬN 10
C.TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4A MỞ ĐẦU
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: thời kỳ phát triển mới của đất nước
là thời kỳ hiện đại hóa mạnh mẽ Nhiều nước đang phát triển đã và đang đi nhanh vào nên kinh
tế tri thức Đây cũng là thời cơ và thách thức hết sức to lớn và quyềt liệt Công nghiệp hoá nước
ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ to lớn: đó là kết hợp công nghiệp hóa với hiện địa hóa đồng thời gắn liền công nghiệp hóa – hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức, chuyển
từ kinh tế nông nhiệp sang kinh tế công nghiệp
Hai nhiệm vụ đó phải thực hiện đồng thời, hỗ trợ và bố xung cho nhau Điều đó có nghĩa phải nằm các tri thức và công nghệ mới của thời đại để hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đồng thời phát triên nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ Dựa vào tri thức, vào khoa học công nghệ, chuyên dịch kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức
Thấy được tầm quan trọng, em xin chọn đề tài “ Công nghiệp hóa , hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam “
Trang 5B NỘI DUNG
I LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách bổ biến sức lao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ
tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động kinh tế và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
2 Công nghiệp hóa luôn gắn với hiện đại hóa
Môt là, cách mạng về phương pháp sản xuất: Đó là tự động hoá Ngoài phạm vi tự động
trước đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm cả việc sử dụng rộng rãi người máy thay thế cho con người để điều khiển quá trình sản xuất
Hai là, cách mạng về năng lượng: Bên cạnh những năng lượng truyền thống mà con
người đã sử dụng trước đây như nhiệt điện, thuỷ điện, thì ngày nay con người ngày càng khám phá ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi trong sản xuất như: Năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời…
Ba là, cách mạng về vật liệu mới: Ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu tự nhiên,
con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo mới thay thế hiệu quả cho các vật liệu tự nhiên
2
Trang 6Bốn là, cách mạng về công nghệ sinh học: Các thành tựu của cuộc cách mạng này được
áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế , hoá chất và nhiều lĩnh vực khác
Năm là, cách mạng về điện tử tin học: Đây là một lĩnh vực mà hiện nay con người đang
đặc biệt quan tâm nhất là máy tính điện tử
Đất nước ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Công nghiệp hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta với các nước phát triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hay thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá Có như vậy thì sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành công, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa xã hội
3 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện tăng cường củng cố an ninh - quốc phòng và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này Việt Nam thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang phát triển kinh tế tri thức , với sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn
Chính vì thế, tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận điểm quan trọng về phát triển kinh tế tri thức ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và
Trang 7lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực “
Từ một nền kinh tế nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội , trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta phải tiến thành đồng thời hai quá trình: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên kinh công nghiệp hóa – hiện đại hóa Trong khi ở các nước đi trước, đó là hai quá trình kế tiếp nhau, thì ở nước ta, tận dụng cơ hội là nước đi sau, hai quá trình này được lồng ghép với nhau, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức là gắn công nghiệp hóa – hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC
1 Khái niệm
Kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường mấy trăm năm qua Bản chất của kinh tế thị trường là xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng sâu sắc
cả về chiều rộng và chiều sâu, mà giai đoạn lịch sử đầu gắn liền với chủ nghĩa tư bản Sau cuộc cách mạng kỹ thuật thế kỷ 18, nền kinh tế thị trường hiện đại phát triển đầy biến động và nhanh dần, nó để lại đằng sau những gì là lỗi thời về cơ sở kỹ thuật, về quan hệ kinh tế, xã hội và thể chế chính trị
2 Đặc trưng
2.1 Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguồn vốn cơ bản có vai trò
quyết định của sản xuất
Nếu trong nền văn minh nông nghiệp, sức mạnh cơ bắp là nguồn vốn sản xuất; trong nền văn minh công nghiệp, tiền bạc đóng vai trò thống trị thì trong nền văn minh trí tuệ, tri thức là nguồn vốn cơ bản và động lực thúc đẩy quá trình sản xuất Nói một cách đơn giản thì ai có được nhiều tri thức, người đó nắm quyền chủ động trong sản xuất và thu được nhiều lợi nhuận
4
Trang 8Ví dụ: về kinh tế tri thức: sự cải tiến liên tục của các chương trình phần mềm máy tính,
hệ thống mạng kết nối như hệ thống điều hành taxi của Grab, Uber, mạng xã hội Facebook, Google, Youtube…
2.2 Sản xuất công nghệ là hình thức sản xuất quan trọng nhất, tiêu biểu nhất
Kinh tế tri thức là nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đang diễn ra chủ yếu tại các quốc gia phát triển như G20 Đây là cuộc cách mạng số với các công nghệ tiên tiến như: Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tế ảo (AR), phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa thế giới thực thành thế giới số
Trong nền kinh tế tri thức, không còn ranh giới giữa khoa học và sản xuất, giữa phòng thí nghiệm và nhà xưởng, con người vừa nghiên cứu vừa sản xuất gọi là công nhân tri thức
Ví dụ: Các doanh nghiệp như: Microsoft, Netscape, Yahoo, Dell, Cisco Họ không
ngừng đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) để tìm kiếm phương pháp, giá trị mới, ưu việt hơn
Sự xuất hiện của “Bitcoin” (tiền ảo) và “Blockchain” (chuỗi khối liên kết) trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI đã thúc đẩy quá trình phát triển của kinh tế tri thức Từ đó, giúp hạn chế rủi
ro trong thay đổi dữ liệu và tình trạng “Double spending” (chi tiêu gian lận – hai lần), nâng cao tính bảo mật của thông tin và giao dịch trực tuyến
2.3 Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất
Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao
Do đó, việc làm trong sản xuất và phân phối hàng hóa đang có xu hướng chuyển dịch thành công việc văn phòng Số lượng công nhân, nông dân sẽ giảm đi nhiều, thay vào đó là sự gia tăng của nhân viên văn phòng, công nhân tri thức
Trang 9Học tập trở thành nhu cầu tất yếu đối với mọi người trong xã hội, góp phần tăng tính cạnh tranh trong thị trường lao động và con người phải luôn học hỏi nếu không muốn bị thất nghiệp
Đầu tư cho giáo dục trở thành nhu cầu bức thiết để xây dựng xã hội học tập Tuy nhiên, kết quả đầu tư có thể bị “mất trắng” do quá trình “lão hóa tri thức” quá nhanh, một số tri thức biến thành vô giá trị đối với quy trình sản xuất mới Hoặc tình trạng “chảy máu chất xám” sang quốc gia, doanh nghiệp khác do chiến lược “săn đầu người”
2.4 Kinh tế tri thức là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa
Kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau, đưa thế giới trở thành ngôi nhà chung của con người
Sự phát triển của công nghệ kéo theo sự hình thành của các công ty ảo, môi trường làm việc từ xa, công ty đa quốc gia, hàng hóa không phải của một công ty, quốc gia mà mang tính quốc tế
Mạng lưới thanh toán trực tuyến, chuyển phát nhanh toàn cầu giúp sản phẩm có mặt ở khắp nơi trên thế giới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, tiết kiệm thời gian
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN GIỮA CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
VỚI KINH TẾ TRI THỨC TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM
1 Thành tựu
Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận
Từ nước kém phát triển đến nay, Việt Nam đã đạt mức của nước có thu nhập trung bình thấp (năm 2014 GDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.030 USD/người) Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/ năm giai đoạn 2001-2010 và khoảng 5,7%/năm giai đoạn 2011-2014 Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, nông nghiệp còn khoảng 20% trong GDP và khoảng 47% trong tổng số lao động xã hội Vốn đầu
6
Trang 10tư nước ngoài tăng nhanh và chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội Lao động qua đào tạo đạt khoảng 49,0% Tỷ lệ người trong độ tuổi 15-19 biết chữ là trên 98% Tỷ lệ người sử dụng internet đạt 35% dân số, mức trung bình trên thế giới và đứng thứ 7 ở châu Á
Bên cạnh đó, đã xuất hiện ngày càng nhiều tập đoàn và doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho khoa học và công nghệ theo cả hai phương thức, sản nghiệp hóa các tri thức khoa học
và công nghệ trong nước và các công nghệ mới nhập từ nước ngoài, tạo ra những sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh cao, ví dụ như Tập đoàn Thái Hương, Tập đoàn Sơn Kova, Tập đoàn Viettel…
2 Hạn chế
Xét toàn diện nền kinh tế cho đến nay vẫn đi theo lối mòn, tăng trưởng kinh tế đang chậm lại Nhiều vấn đề bất ổn trong kinh tế vĩ mô nảy sinh: Nợ xấu tăng cao, thanh khoản kém, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh… Nền kinh
tế về cơ bản vẫn là kinh tế gia công, bán tài nguyên, nhập công nghệ, chưa phát huy được năng lực khoa học công nghệ quốc gia… So với các nước hoặc nền kinh tế có điểm xuất phát tương tự, họ đã phát triển vượt lên hiện đại hóa và có khoảng cách khá xa với Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan…
Cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch
vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế, ngành nông nghiệp còn cao Cơ cấu lao động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế Trong khi đó hiện nay ở Mỹ khoảng 80% lực lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai Hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất thấp, “đến 2020, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao dự kiến đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp” (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam) Đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực cũng ở mức thấp
Trang 11Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,5% - 0,6% GDP cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%, Singapore là 3%
Theo xếp hạng về chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của World Bank, Việt Nam xếp thứ 104/146 nước và lãnh thổ trong năm 2012, tăng so với 113/146 vào năm 2000 nhưng vẫn thuộc nhóm trung bình kém Việt Nam đạt mức này chỉ do yếu tố công nghệ thông tin có tiến bộ nhanh, còn lại các yếu tố khác của kinh tế tri thức đều chưa có đóng góp đáng kể So sánh với những nước trong khu vực Đông Nam Á, chỉ số KEI của Việt Nam năm 2012 mới chỉ đạt 3,4 điểm, trong khi Singapore là 8,26 (đã được xếp vào nước có nền kinh tế tri thức hay kinh tế sáng tạo); Malaysia là 6,10; Thái Lan là 5,21; và Philippine là 3,94…
Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam năm 2012-2013 là 4,11 xếp thứ 75/144 nước, trong khi Philippine xếp thứ 65, Indonesia thứ 50, Thái Lan thứ 38, Malaysia thứ 25 Đáng chú ý, Chỉ số Sáng tạo Toàn cầu (đánh giá toàn diện về độ sáng tạo/đổi mới của mỗi quốc gia), Việt Nam mặc dù đã đứng thứ 51/125 nước trong năm 2011 nhưng đến năm 2012 lại bị tụt sâu xuống thứ 76/141 nước… Như vậy, nếu xét theo 12 trụ cột, ba giai đoạn phát triển của các nền kinh tế, thì Việt Nam vẫn là nước đang giẫm chân tại chỗ trong giai đoạn 1 Những chỉ báo ở trên đã cho thấy, khoảng cách và sự tụt hậu của Việt Nam với thế giới còn rất lớn
Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển dụng: năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt động, Việt Nam vẫn “khát” nhân
sự có trình độ Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con
số rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều thiếu thông tin về công nghệ
8