PHÁP LUẬT NHẬT BẢN PHÁP LUẬT NHẬT BẢN Khái quát hệ thống pháp luật 01 Hệ thống Tòa án 02 Nguồn luật 03 Đào tạo luật và hành nghề luật 04 Cấu trúc bài thuyết trình Khái quát hệ thống pháp luật Nhật Bản.
Trang 1PHÁP LUẬT NHẬT BẢN
Trang 3Khái quát hệ thống pháp luật
Nhật Bản
01.
Trang 4Khái quát về Nhật Bản
Nhật bản là một quốc gia có lịch sử phát triển lâu đời, có truyền thống và văn hóa rất đậm nét và phát triển ở trình độ cao trên thế giới Trong sự phát triển của pháp luật đã từng trải qua hai cuộc âu hóa, lần thứ nhất từ năm 1868 đến năm 1926 bởi các nước thuộc dòng họ pháp luật Civil Law, lần thứ hai từ năm 1945 đến nay bởi các nước thuộc dòng họ Common Law
Trang 5Pháp luật truyền thống
Common Law Civil Law
“Hệ thống pháp luật Nhật Bản là sản phẩm của sự pha trộn giữa dòng họ Civil Law, dòng họ Common Law và pháp luật truyền
thống”
Trang 6Civil Law
Hệ thống pháp luật của các nước châu Âu lục địa đã trở thành hình mẫu cho hệ thống pháp luật Nhật Bản trong giai đoạn Âu hóa lần thứ nhất và ảnh hưởng đến tận ngày nay.
Trang 7Civil Law
Về hệ thống tòa án: được xây dựng trên mô hình hệ thống tòa án của các
nước thuộc hệ thống pháp luật Civil Law (Đức và Pháp) và chịu sự giám sát của cơ quan hành pháp
Về nguồn luật: nguồn luật quan trọng nhất ở Nhật Bản là luật thành văn
Phán quyết của tòa án (án lệ, tiền lệ pháp, thực tiễn xét xử) không được coi
là nguồn chính thức
Về đào tạo luật: đặc biệt gần gũi với mô hình đào tạo của Pháp và Đức Đó
là phương pháp thuyết trình, với bài giảng tập trung vào lý thuyết
Trang 8Common Law
Sự đầu hàng quân đồng minh của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới II, sự chiếm đóng Nhật Bản của Mĩ trong vòng bảy năm đã tạo điều kiện cho dòng họ pháp luật Common Law (mà về cơ bản là hệ thống pháp luật Mỹ) có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với sự phát triển của pháp luật Nhật Bản.
Những ảnh hưởng của dòng họ Common Law đối với pháp luật Nhật Bản được thể hiện rõ ràng nhất trong các chế định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và tổ chức của hệ thống tòa án.
Trang 9Common Law
Về tố tụng: Được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật về tố tụng hình sự Trong quá trình tố
tụng, nguyên tắc tranh tụng được đề cao, thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong quá trình tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa
Về hệ thống tòa án: Được thể hiện đậm nét trong các chế định pháp luật về tổ chức hệ thống
tòa án quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật được giao cho tòa án tối cao; hệ thống tòa án được tổ chức theo một ngach duy nhất
Trang 10CREDITS: This presentation template was created by Slidesgo, including icons by Flaticon and
Các hệ thống pháp luật truyền thống
Tiếp thu rất nhiều từ pháp luật hiện đại tuy nhiên hệ thống pháp luật nhật bản vẫn giữ được các yếu tố của pháp luật truyền thống điều đó được thể hiện trong các chế định về hôn nhân và gia đình, chế định thừa kế, trong phương thức giải quyết tranh chấp và sử dụng nguồn luật
Trang 11CREDITS: This presentation template was created by Slidesgo, including icons by Flaticon and
Các hệ thống pháp luật truyền thống
Về phương thức giải quyết tranh chấp: Các phương thức giải
quyết tranh chấp không qua hệ thống tòa án vẫn khá phổ biến tại Nhật
Về sử dụng nguồn luật: Cũng như ở hầu hết các nước châu u khác,
ở Nhật Bản luật thành văn là nguồn luật quan trọng nhất Tuy nhiên, trên thực tiễn điều này không phải bao giờ cũng đúng.
Trang 12Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa pháp luật truyền thống với dòng họ pháp luật Civil Law và Common Law đã tạo nên hệ thống pháp luật của Nhật Bản
Sự kết hợp này cũng đã tạo nên một dòng họ pháp luật - dòng họ pháp luật hỗn hợp và Nhật Bản là một đại diện.
Trang 13Hệ thống tòa
án Nhật Bản 02.
Trang 15Có trụ sở tại Tokyo, là tòa án cao nhất có thẩm quyền xét xử trên phạm vi
cả nước và là cấp xét xử phúc thẩm cuối cùng đối với những bản án đã được xét xử bởi tòa án phúc thẩm (tòa án cấp cao)
Cơ cấu tổ chức: 1 chánh án và 14 thẩm phán, bên cạnh đó có các tòa chuyên trách gồm thượng tòa chuyên trách và ba hạ tòa chuyên trách
Tòa án tối cao
Trang 16Chánh án tòa tối cao do Nhật Hoàng bổ nhiệm theo sự tư vấn của Chính phủ (có vị trí như Thủ tướng Chính phủ).
Các thẩm phán Tòa án tối cao do Chính phủ bổ nhiệm dưới sự phê chuẩn của Nhật Hoàng (có vị trí tương đương các Bộ trưởng)
Việc bổ nhiệm này cần được sự tín nhiệm của nhân dân qua các cuộc trưng cầu ý dân hoặc bầu cử Hạ nghị viện
Thẩm phán Tòa án tối cao nghỉ hưu ở tuổi 70
Tòa án tối cao
Trang 17Tòa án phúc thẩm đặt ở 8 thành phố lớn của Nhật Bản là Tokyo, Osaka, Nagoya; Hiroshima; Fukuoka; Sendai; Sapporo và Takamatsu.
Các tòa này có phạm vi xét xử trong toàn thành phố mình
Tòa án phúc thẩm
Trang 181 Chánh án do Chính phủ chỉ định và Nhật Hoàng phê chuẩn
Các thẩm phán do Tòa án tối cao giới thiệu và Chính phủ bổ nhiệm (cơ chế
bổ nhiệm này được thực hiện với các tòa án cấp dưới tòa án tối cao)
Tòa án phúc thẩm
Trang 19Tòa án gia đình được thành lập để giải quyết và hòa giải các vụ việc về gia đình kể cả liên quan đến vị thành niên.
Tòa này được bố trí cùng đại bàn với các tòa án cấp quận
Ngoài ra có những chi nhánh đại diện của tòa gia đình ở những nơi có nhu cầu (cả nước hiện nay có 50 tòa gia đình và 203 chi nhánh như thế)
Tòa án gia đình
Trang 20Tòa án cấp quận có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả các vụ việc dân sự, hình sự, hành chính không thuộc thẩm quyền của 2 tòa gia đình và tòa rút gọn.
Tòa án cấp quận có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ việc đã được tòa án rút gọn xét xử sơ thẩm
Hiện nay cả nước Nhật Bản có 50 tòa án quận và 203 chi nhánh ở các địa phương
Tòa án quận
Trang 21Tòa án rút gọn về các nguyên tắc chỉ giải quyết những vụ việc có giá trị tranh chấp không quá 900.000 yên, những vụ hình sự và dân sự nhỏ lẻ, hình phạt nhẹ hay những tranh chấp hằng ngày của công dân,
Ví dụ: những bị cáo bị phạt tiền giá trị ít hoặc bị phạt tù không quá
15 ngày
Hiện nay nhà nước Nhật Bản có khoảng 438 tòa án rút gọn tại các địa phương
Tòa án rút gọn
Trang 22Nguồn luật
03.
Trang 23Luật thành văn
Phán quyết của tòa án
Tập quán pháp
Nguyên tắc chung của pháp luật
Ý kiến pháp lý của học giả
Trang 24a Luật thành văn
Tương tự như các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil law, đây cũng là nguồn luật quan trọng nhất ở Nhật Bản
Luật thành văn bao gồm các văn bản pháp luật do Nghị viện, Chính phủ, cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương ban hành
Thẩm phán có bổn phận phải áp dụng luật thành văn trước các nguồn luật khác để giải quyết các vụ việc đưa đến tòa
Tuy nhiên, luật thành văn không phải là nguồn duy nhất, khi luật thành văn thiếu các quy định cần thiết để giải quyết các vụ việc hoặc khi các quy định của luật thành văn tối nghĩa, không phù hợp người thẩm phán có thể việc dẫn các nguồn luật khác
Trang 26Hai là, nguyên tắc chủ nghĩa hòa bình và hợp tác hòa bình với các nước khác (Điều 9)
Ba là, nguyên tắc tôn trọng quyền con người cơ bản (Chương III) Chính phủ và Tòa án tối cao giám sát việc thực hiện quyền này
Sửa đổi Hiến pháp ở Nhật Bản rất phức tạp, gồm 2 điều kiện:
Điều kiện cần: Đề xuất sửa đổi Hiến pháp phải được 2/3 tổng số Nghị sĩ mỗi viện đồng ý
Điều kiện đủ: Phải tiến hành trưng cầu ý kiến của nhân dân, phải được đa số phiếu tán thành
Hiến pháp
Trang 27a Luật thành văn
Học thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế đối trọng được áp dụng chịu ảnh hưởng của Mỹ
Tam quyền phân lập: Lập pháp (Nghị viện), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (tòa án mà đứng đầu là tòa án tối cao)
Kiềm chế đối trọng: Chính phủ – Tòa án – Nghị viện ở một mức độ nhất định có sự can thiệp vào công việc của nhau
Nghị viện đề cử Thủ tướng trong số các nghị sĩ của mình (Thượng viện và Hạ viện đều có quyền đề cử ứng viên Thủ tướng)
Tòa án tối cao của Nhật Bản có quyền giám sát tối cao đối với các hoạt động của Nghị viện và Chính phủ
Hiến pháp
Trang 28Điều ước quốc tế được áp dụng trực tiếp mà không cần nội luật hóa
Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với hiến pháp và các đạo luật khác: Về nguyên tắc ĐƯQT có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp (Hiến pháp là nơi tạo ra cơ sở pháp lý để ĐƯQT có hiệu lực) và cao hơn các đạo luật
Điều ước quốc tế
Trang 29Theo Hiến pháp 1946 thì Bộ luật và luật do Nghị viện ban hành, Nhật Hoàng chỉ trợ giúp chứ không ban hành luật như trước
Năm 1878 người Nhật đã xúc tiến soạn thảo bằng cách thành lập Ủy ban để dịch Bộ luật dân sự của nước ngoài trong đó có Bộ luật dân
sự Pháp (1804) và cho ra đời Bộ luật dân sự đầu tiên 1890
Áp dụng máy móc nên Bộ luật dân sự đầu tiên 1890 của Nhật có nhiều khiếm khuyết và hạn chế
Chính phủ Nhật đã thành lập Ủy ban soạn thảo Bộ luật dân sự mới 1898 tiếp thu kinh nghiệm của Đức (Đức ban hành Bộ luật dân sự năm 1896)
Bên cạnh những quy định mới theo kinh nghiệm Đức thì còn nhiều quy định cũ và thêm cả những kinh nghiệm của Anh và đó là các học thuyết trong luật tư
Các văn bản do Nghị viện và Chính phủ ban hành
Trang 30b Phán quyết của tòa án
Hệ thống pháp luật Nhật Bản chủ yếu dựa trên luật pháp điển hóa, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là phán quyết của Tòa không quan trọng Ngược lại, phán quyết của Tòa được tôn trọng và tuân theo như một nguồn luật chính yếu.
Về mặt lý thuyết, thẩm phán Nhật Bản không có nghĩa vụ phải tuân thủ tiền lệ pháp và cũng không có điều khoản pháp luật cụ thể nào của Nhật Bản quy định rằng các phán quyết trong quá khứ của tòa án là tiền lệ pháp, là nguồn luật.
Trên thực tế, phán quyết của tòa án tối cao thường được các tòa án cấp dưới tôn trọng và tuân thủ như nguồn luật cơ bản (nguồn luật thực tế)
và thuật ngữ “tiền lệ pháp” thường được sử dụng khi nói về phán quyết của tòa án tối cao.
Mặc dù không chính thức thừa nhận học thuyết tiền lệ pháp nhưng Nhật Bản có rất nhiều sách công bố các phán quyết của tòa án do cả Nhà nước và tư nhân xuất bản
Trang 31c Tập quán pháp luật
Ở Nhật Bản, tập quán pháp được hiểu là những quy tắc xử sự được xã hội tuân thủ mặc dù không được bất cứ cơ quan công quyền nào đặt ra Tập quán được coi là nguồn luật nếu:
Tập quán đó liên quan tới những vấn đề chưa được pháp luật quy định đồng thời không trái với trật tự công cộng hoặc trái với quy phạm đạo đức.
Không bị bãi bỏ bởi bất cứ quy định pháp luật nào do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được pháp luật quy định cụ thể
về việc áp dụng tập quán đó.
Về nguyên tắc, tập quán chỉ là nguồn luật phụ trợ và thẩm phán chỉ áp dụng tập quán pháp khi không có quy định trong luật thành văn Tuy nhiên việc áp dụng tập quán pháp cũng có những ngoại lệ:
Có những trường hợp tập quán có giá trị cao hơn luật (dân tộc thiểu
số, vùng sâu ).
Trong một số trường hợp, trên thực tế, thẩm phán còn có thể tham khảo những tập quán không phù hợp với luật thực định nhằm đạt tới giải pháp thỏa đáng nhất.
Trang 32d Nguyên tắc chung của pháp luật
Trong tất cả các vụ việc trừ những vụ việc hình sự, thẩm phán quyết định theo nguyên tắc chung của pháp luật khi không có nguồn luật nào khác có thể áp dụng.
Tuy nhiên, hiếm khi các thẩm phán chỉ dựa vào nguyên tắc chung của pháp luật vì ngày nay các vụ việc được đưa ra tòa thường là những vụ việc đã được pháp luật quy định hoặc đã có tiền lệ xét xử của tòa án cấp trên.
e Ý kiến pháp lý của các học giả
Ở mức độ nhất định, ý kiến pháp lý của các học giả nổi tiếng cũng là một nguồn luật trong pháp luật Nhật Bản
Giới thẩm phán ở Nhật Bản thừa nhận lý luận khoa học pháp lý có vai trò quan trọng trong việc phát triển các quy phạm pháp luật, vì vậy họ thường bám sát quan điểm của các giáo sư luật hơn là các quan chức chính phủ và họ tự hào vì họ là những nhà lý luận khoa học pháp lý chứ không phải chỉ thuần túy là những người hành nghề luật
Trang 33Đào tạo luật và hành nghề luật
04.
Trang 34Đào tạo luật
Chương trình đạo tạo gồm 2 giai đoạn:
Sau khi có bằng, cử nhân Luật có thể học tiếp sau đại học theo các giai đoạn:
3 năm sau ở trình độ tiến sĩ luật
Trang 35Hành nghề luật
Nhật Bản là nước áp dụng chế độ tam quyền phân lập, bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền tư pháp ở Nhật Bản thuộc về Tòa án tối cao và các toà án địa phương Ngoài ra, có hai tổ chức quan trọng khác cũng có quyền tư pháp là viện kiểm sát và hội luật
Thời gian đào tạo nghiệp vụ tư pháp kéo dài 24 tháng tại Viện nghiên cứu do Tòa án tối cao Nhật Bản tổ chức:
4 tháng đầu và 4 tháng cuối học viên học tại Viện.
16 tháng giữa khóa, tất cả học viên sẽ đi thực tập: 8 tháng ở Tòa, 4 tháng ở Viện công tố và 4 tháng ở văn phòng luật sư.
Việc lựa chọn hành nghề nào sẽ được quyết định ở thời gian 4 tháng cuối khóa và học viên sẽ phải tốt nghiệp để được cấp chứng chỉ hành nghề
Trang 36Tổng kết lại, hệ thống pháp luật Nhật Bản từ khi thành lập cho đến nay đã chịu sự ảnh hưởng bởi hai hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới là hệ thống Civil law và Common law Sự ảnh hưởng đó vừa có yếu tố khách quan, nhưng phần lớn là sự tiếp nhận một cách chủ động do nhu cầu tự thân và sự hấp dẫn bởi những giá trị tiến bộ Nhật Bản đã cẩn trọng, khôn khéo và nỗ lực trong việc tiếp nhận và “Nhật hóa” những giá trị tiên tiến nhất về pháp luật ở khắp nơi trên thế giới để chuyển hóa thành những thành những chuẩn mực của mình Thành quả là Nhật Bản đã xây dựng được hệ thống pháp luật toàn diện, tiến bộ, phù hợp, có vị trí trên bản đồ pháp luật thế giới.
Trang 37THANKS FOR LISTENING
Nhóm 5 cảm ơn thầy và các bạn đã lắng nghe bài
thuyết trình