1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TẬP bài GIẢNG LỊCH sử TRIẾT học

316 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Quy Luật Trong Sự Phát Triển Của Tư Tưởng Triết Học
Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÑEÀ CÖÔNG BAØI GIAÛNG PAGE BÀI NHẬP MÔN LSTHPT I TÍNH QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC 1 Triết học – tinh hoa tinh thần của thời đại Thuật ngữ “triết học” mà c.

Trang 1

BÀI NHẬP MÔN LSTHPT

I TÍNH QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

1 Triết học – tinh hoa tinh thần của thời đại

Thuật ngữ “triết học” mà chúng ta đang sử dụng hiện nay có ý nghĩa tươngđương với tiếng Hy Lạp “philosophia”1 (φιλοσοφία), sự hợp nhất của “yêu mến”,

“yêu thích”, “khát vọng” (φιλεω, hoặc φιλία) và “sự thông thái”, “sự mẫn tiệp”(σοφία) Thuật ngữ “philosophia” đi sau thuật ngữ “philosophos” – triết gia khácvới nhà thông thái, nhà bác học: một đằng là khát vọng “vươn đến sự thông thái”(thần linh), đằng khác là nắm tóm, thủ đắc sự thông thái; một đằng là khát vọngvươn đến chân lý, đằng khác là “đã” đạt được chân lý Phép ẩn dụ này cho ta mộtnhận định rất quan trọng: tri thức triết học mang tính thời đại, và là tri thức mở,với ước muốn đem đến những lời đáp chung nhất, có tính hệ thống về thế giớixung quanh và thế giới của chính con người, và là dạng tri thức lý luận xưa nhấtcủa nhân loại

Lịch sử tư tưởng triết học là sự phản ánh lịch sử hiện thực thông qua cácphạm trù, khái niệm đặc trưng của mình Sự phản ánh đó thể hiện ở nhiều bìnhdiện khác nhau

Về mặt lịch sử, hình thức triết lý đầu tiên của con người thể hiện trong tưduy huyền thoại, mà những lời đáp về thế giới được cô đọng trong những câuchuyện thần thoại, sự đối thoại đầu tiên, đầy tính hoang tưởng của con người vớithế giới xung quanh Thần thoại ngự trị trong ý thức đại chúng cùng với thuyếtnhân hình xã hội nguyên thuỷ, vật linh thuyết, vật hoạt luận Người nguyên thủybị vây bọc trong quyền lực của xúc cảm và trí tưởng tượng, những quan niệm củahọ còn rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc Các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệthuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tựnhiên và siêu nhiên ở thần thoại còn chưa bị phân đôi Đỉnh cao phát triển củathần thoại cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó Triết học – hìnhthức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại – ra đời, thay thế cho

tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thuỷ Thuật ngữ “triết học” do người HyLạp nêu ra2 (philosophia) theo nghĩa hẹp là “yêu mến sự thông thái”, còn theonghĩa rộng, là khát vọng vươn đến tri thức; nói khác đi, là “quá trình tìm kiếmchân lý”; nhà triết học là người yêu mến sự thông thái, khác với nhà bác học

1 Tiếng Anh: philosophy, tiếng Pháp: philosophie, tiếng Nga: философия

2 Một số nhà nghiên cứu cho rằng Pythagoras là người đầu tiên tự gọi là philosophos (φιλοσοφος), tức “kẻ yêu mến sự thông thái”, nhưng chính Heraklitus mới là người đầu tiên sử dụng từ này trong một đoạn tản văn của ông

Trang 2

(sophos), người nắm vững chân lý Tuy nhiên với thời gian triết học được hiểutheo nghĩa rộng: đó là thứ tri thức phổ quát, tìm hiểu các vấn đề chung nhất củatồn tại và tư duy Ở buổi đầu lịch sử tri thức triết học là tri thức bao trùm, là “khoahọc của các khoa học” Nói như thế không có nghĩa là tư tưởng đạo đức, chính trị,thẩm mỹ, nghệ thuật chưa xuất hiện Vấn đề là ở chỗ các tư tưởng đó đã đượcxem là một phần của triết học Trong thời Trung cổ thần học Kytô giáo chiếm vịtrí thống trị trong sinh hoạt tư tưởng Nhà nước phong kiến và nhà thơ Thiên chúagiáo chỉ lấy “những cái phù hợp” trong triết học Arixtốt (Aristoteles, Aristotle),trường phái Platôn (Platon, Plato) để làm chỗ dựa tư tưởng của mình Triết học trở

thành nô lệ của thần học, của cái gọi là tư duy chuẩn mực, nhà thờ trở thành “nền

chuyên chính tinh thần”, lịch sử các vị thánh quan trọng hơn lịch sử các danhnhân Thế kỷ XV – XVI được xem là thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ phong kiếnsang xã hội tư sản Tư tưởng nhân văn trở thành trào lưu chủ đạo và xuyên suốt,thể hiện ở hầu khắp các lĩnh vực nhận thức và hoạt động thực tiễn, với thông điệp

con người là trung tâm Từ thế kỷ XVII – XVIII trở đi tư tưởng triết học, khoa

học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị mang tính thế tục và duy lý thay thế dần thần họcvạn năng Khi trung tâm tri thức chuyển từ Anh và Pháp sang Đức từ nửa sau thế

kỷ XVIII truyền thống “cổ điển” phương Tây, bắt đầu từ Hy Lạp – La Mã, đạt đếnđỉnh cao hoàn thiện nhất, mà điển hình là hệ thống Hêghen (Hegel) Trong nhữngnăm 20 – 40 của thế kỷ XIX đã diễn ra quá trình phi cổ điển hóa các lĩnh vực trithức, thể hiện ở văn hóa, khoa học, triết học Bước ngoặt lớn này gắn liền vớinhững biến đổi kinh tế, chính rị, xã hội và chịu sự sự chi phối của những biến đổiấy Ngày nay xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa đưa các dân tộc xích lại gầnnhau hơn, tăng cường giao lưu, đối thoại, hướng đến lợi ích chung – hòa bình, ổnđịnh, hợp tác và phát triển bền vững Song bên cạnh đó xung đột về lợi ích vẫnchưa chấm dứt, mà ngày càng diễn biến phức tạp Đấu tranh tư tưởng và đối thoại

tư tưởng đan xen nhau, làm nên bức tranh tư tưởng đa dạng và phức tạp và đầymâu thuẫn Các chủ đề của tư tưởng triết học trở nên phong phú, với khá nhiềutrào lưu, khuynh hướng lần lượt ra đời và bị thay thế, kể cả những trào lưu,khuynh hướng từng được xem là tuyên ngôn bán chính thức về lối sống của mộtxã hội

Tìm hiểu sự phát triển của tư tưởng triết học qua các thời đại, C.Mác nhậnđịnh: “… mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đạimình”1, và rằng “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩmcủa thời đại mình, của dân tộc mình”2 Triết học chân chính là thứ triết học đượcsinh ra bởi thời đại, được tạo nguồn năng lượng sống bằng chính thực tiễn phong

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 157.

2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 156.

Trang 3

phú của thời đại, và về phần mình, góp phần vào sự phát triển của thời đại thôngqua thiên chức cao cả của mình.

Tính quy luật của sự ra đời, phát triển tư tưởng triết học thể hiện ở nhữngđiểm sau:

1) Mỗi hệ thống, trào lưu tư tưởng triết học đều xuất hiện một cách tất yếu,và với tính tất yếu ấy nó chịu sự sàng lọc của lịch sử, bị thay thế bởi những tưtưởng phù hợp với điều kiện lịch sử mới.Quá trình phát sinh, phát triển của tưtưởng triết học chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể.Chính thực tiễn xã hội với toàn bộ tính sinh động và phức tạp của nó chi phối nộidung và thực chất các khuynh hướng, trường phái triết học, vị trí, vai trò của triếthọc trong đời sống xã hội Sự thay thế nhau của các học thuyết triết học khôngtách rời nhu cầu khách quan, hiện thực của con người;

2) Tư tưởng của quá khứ không biến mất hoàn toàn, mà thường để lại di sản của mình; một số nội dung của nó tiếp tục được tìm hiểu, nghiên cứu như

những bài học kinh nghiệm của lịch sử, một số khác tiếp tục gia nhập vào cái toànthể sống động tiến về phía trước;

3) Sự vận động của tư tưởng triết học theo quá trình từ trừu tượng đến cụthể Theo đó triết học càng lùi về phía sau càng trừu tượng, càng gần với chúng tacàng giàu nội dung, càng cụ thể Mối quan hệ giữa triết học với các lĩnh vực trithức cũng thay đổi theo thời gian Vào thời cổ đại, khi trình độ nhận thức chungcòn thấp, tri thức khoa học còn ở trong tình trạng tản mạn, sơ khai, thì triết họcđóng vai trò là dạng nhận thức lý luận duy nhất, giải quyết các vấn đề lý luậnchung về tự nhiên, xã hội, tư duy Triết học được xem như “khoa học của cáckhoa học”, còn các triết gia được tôn vinh thành những bộ óc bách khoa, amtường mọi thứ Tuy nhiên khi các khoa học chuyên biệt với hệ thống lý luận riêngcó của mình lần lượt ra đời, thì mọi tham vọng về triết học toàn năng trở nên vônghĩa Ph.Ăngghen viết: “Chủ nghĩa duy vật hiện đại… không còn là một triết họcnữa, mà là một thế giới quan…” và “Chủ nghĩa duy vật hiện về bản chất là biệnchứng, và nó không cần đến bất cứ một triết học nào đứng trên các khoa họckhác”1;

4) Tư tưởng triết học là sản phẩm của thời đại, được sinh ra, nuôi dưỡng,thẩm định bởi thời đại; không có chân lý bất biến, tuyệt đích cho mọi thời đại, dođó không có thứ tư tưởng triết học xuyên qua nhiều thời đại, được thần thánh hóanhư những tín điều bất di bất dịch

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập; t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 197 và 42.

Trang 4

2 Tính tất yếu của sự thay đổi các chủ đề tư tưởng triết học

Trong sự phát triển tư tưởng triết học, các chủ đề thường xuyên trải quathay đổi, bổ sung, mở rộng nhằm lý giải một cách kịp thời các quá trình thực tiễnxã hội Có những chủ đề tư tưởng hôm qua là chủ đạo, hôm nay chỉ còn đóng vaitrò thứ yếu; ngược lại, cái mà hôm qua ở dạng phôi thai, thì hôm nay trở thànhtrung tâm, thành điểm nóng của sự tranh luận Trong điều kiện chủ nghĩa phổ quátKytô giáo thống trị vào thời trung cổ vấn đề con người hầu như không được quantâm, bị hòa tan vào cái phổ quát bao trùm là sự tồn tại của Đấng tối cao Cuộctranh luận giữa duy danh luận và duy thực luận chỉ đơn giản xoay quanh tính xácthực của khái niệm “đơn nhất” và “phổ quát” Song đến thời Phục hưng chủ đềtranh luận đã vượt qua khuôn khổ của hệ chuẩn tư duy trung cổ, mang đậm ýnghĩa của cuộc đấu tranh vì giá trị người, vì sự giải phóng con người cá nhân,thay thế từng bước thuyết thần là trung tâm (theocentrism) bằng thuyết con ngườilà trung tâm (homocentrism, hay anthropocentrism), thay sự thống trị của Thượngđế (regnum Dei) bằng sự thống trị của con người (regnum hominis) Phục hưng làbước chuẩn bị cho thế kỷ XVII – XVIII, tức thời đại của khám phá và phát minh,của “tư duy thiết kế” sáng tạo (chứ không phải tư duy minh họa, chủ giải chonhững chân lý đã có sẵn) Tương tự, nếu trào lưu chủ đạo trong thời Phục hưng là

tư tưởng nhân văn với sự tôn vinh hình ảnh con người vươn đến tự do, thì tưtưởng chính trong thế kỷ XVII – XVIII là triết học, chính trị, khoa học Về triếthọc chủ nghĩa duy vật chiếm vị thế áp đảo trước chủ nghĩa duy tâm Về chính trị

tư tưởng chính trị thế tục, quan điểm “xã hội công dân” và nhà nước pháp quyền,có mầm mống từ thời Phục hưng, tiếp tục phát triển, làm giàu và sâu sắc thêmthông qua quan điểm của những nhà lý luận kiệt xuất, từ Lốccơ (Locke), Hốpxơ(Hobbes), đến Môngtéxkiơ (Montesquieu), Vônte (Voltaire), Rútxô (Rousseau)…Về khoa học thế kỷ ấy chứng kiến nhiều khám phá, phát minh khoa học được ứngdụng vào thực tiễn, lý trí trở thành lý trí có định hướng thực tiễn, với sự thống trịcủa cơ học Các nguyên lý của nó tác động đến cả tư duy triết học và chính trị,đưa đến chủ nghĩa máy móc và phương pháp tư duy siêu hình Các nhà tư tưởngĐức (nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX) không chỉ đem đến sự kết thúcđầy ý nghĩa của truyền thống cổ điển trong tư tưởng, mà còn khắc phục nhữnghạn chế trong nhận thức luận thế kỷ trước Và chính họ, đặc biệt các nhà triết học

cổ điển Đức, điển hình là Hêghen và Phoiơbắc (Feuerbach), tạo nên một trongnhững tiền đề lý luận của chủ nghĩa Mác Với C Mác và Ph Ăngghen, bướcngoặt cách mạng trong tư tưởng đã được thực hiện Khác hẳn với các nhà tưtưởng cùng thời, những người hoặc đem đối lập khuynh hướng phi duy lý vớitruyền thống duy lý (Kiếckego chẳng hạn), hoặc chỉ dám “cách tân” một phần họcthuyết Hêghen (phái Hêghen trẻ), C Mác và Ph Ăngghen thể hiện thái độ văn

Trang 5

hóa đối với các vấn đề truyền thống, đồng thời làm cho hệ tư tưởng mang chứcnăng cải tạo cách mạng đối với đời sống xã hội

Như vậy, phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể, các trào lưu, khuynhhướng tư tưởng xác định chủ đề chính, tập trung khai thác, phân tích chúng, nhằmphản ánh trung thực những biến đổi của thực tiễn, đồng thời định hướng cho hoạtđộng thực tiễn Theo C Mác, không phải thực tiễn cần phải diễn ra theo các đồthức luận tư duy, mà ngược lại, các đồ thức luận tư duy cần thường xuyên đượcđiều chỉnh để không bị lạc hậu trước thực tiễn Vì thế mọi mưu toan giới hạn cácnội dung cần nghiên cứu trong phạm vi chật hẹp, xơ cứng, bất biến đều đồngnghĩa với sự bóp chết năng lực sáng tạo của chính tư duy Không phải hệ thống tưtưởng nào ở thời đại nào cũng chỉ quanh quẩn ở cùng một đối tượng nghiên cứu.Quy luật phát triển của tư tưởng là thường xuyên diễn ra sự đấu tranh, tác động hỗtương, đan xen nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau, làm cho mỗi hệ thống trong sốchúng mang tính độc lập tương đối, tính đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức thểhiện

Sự phát triển của tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học, phản ánh trình độ

tư duy chung của nhân loại Thực tiễn khách quan, hoạt động nhận thức và khoahọc của con người quy định vị trí của mổi quan điểm, học thuyết Chẳng hạntrong xã hội chiếm hữu nô lệ chưa hình thành các ngành khoa học độc lập, chuyênbiệt về tự nhiên và xã hội, về các hình thức vận động của vật chất, nên triết họcthời bấy giờ là kiến thức lý luận nói chung, trên thực tế là dạng kiến thức duynhất Dần dần các khoa học chuyên biệt ra đời, ranh giới giữa chúng với triết họcđược xác lập Sự phát triển phong phú tri thức loài người và quá trình phân loại,

“cá thể hóa” đưa đến chỗ triết học không còn đóng vai trò “khoa học của các khoahọc” nữa, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tồn tại và nhận thức

Sinh hoạt tư tưởng trong thời đại hôm nay phản ánh một thế giới mở, sựbùng nổ các khám phá khoa học, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ, kinh tếtri thức và sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc vì những mục tiêu nhân loạichung; song đó cũng là một thế giới phức tạp, tiềm ẩn các nguy cơ xung đột giátrị, trong đó có giá trị tư tưởng, tinh thần Nhận diện các trào lưu tư tưởng hiệnđại, giải thích một cách khách quan, khoa học nội dung và thực chất của chúnggóp phần làm sáng tỏ những đặc điểm của thời đại, dự báo xu hướng vận độngcủa lịch sử

Ba nguyên tắc cần nắm trong quá trình tìm hiểu một học thuyết, một trào

lưu tư tưởng trong lịch sử là: thứ nhất, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nghĩa là cần đặt

đối tượng nghiên cứu, xem xét trong những điều kiện lịch sử nhất định, phù hợp

Trang 6

với trình độ nhận thức của thời đại đó, đánh giá một cách nghiêm túc, trung thựcnhững thành tựu, đóng góp của các nhà tư tưởng vào kho báu tư tưởng nhân loại.Không nên áp đặt một cách chủ quan những tính quy định của thời đại hôm nayđối với quá khứ, buộc quá khứ làm được những điều mà thời ấy chưa thể biết đến.Nói khác đi, quan điểm lịch sử cụ thể đòi một thái độ văn hóa đối với những disản do nhiều thế hệ nhân loại đã tạo nên, tích lũy, sàng lọc qua các thời kỳ phát

triển Thứ hai, xác định cái cơ bản nhất, cốt lõi nhất, hay điểm nhấn trong toàn bộ

bức tranh tư tưởng với tính cách là đối tượng nghiên cứu Chỉ có như vậy mớihiểu biết một cách sâu sắc và cô đọng cái “hồn” sống động nhất của từng thời đại,

hiểu được “trục chính” trong sinh hoạt tư tưởng thời đại ấy Thứ ba, kết hợp hai cách đánh giá, đánh giá từ góc độ thế giới quan và đánh giá từ góc độ giá trị đối

với từng học thuyết, vừa làm nổi bật tính đảng phái, vừa chỉ ra vai trò, vị trí của

từng học thuyết trong đời sống xã hội, trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng Thứ

tư, chỉ ra mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, nghĩa là rút ra ý nghĩa và bài học

lịch sử của việc nghiên cứu một học thuyết, tư tưởng trong quá khứ đối với thờiđại chúng ta

III VỀ SỰ THỐNG NHẤT TÍNH ĐẢNG PHÁI VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

1 “Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa tinh thần của thời đại mình”, nhưng “không có tính đảng sẽ không có sự phát triển”

Nêu ra hai trích dẫn ấy của K Marx, chúng ta hiểu rằng, cần kết hợp mộtcách biện chứng cách tiếp cận thế giới quan và cách tiếp cận giá trị, cách tiếp cậntri thức và cách tiếp cận văn hóa trong việc đánh giá các học thuyết triết học tronglịch sử

Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khách quan, chuẩn mực(tính khách quan – khoa học) trong việc xem xét các tư tưởng, học thuyết triết họctrong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luậnkhoa học, đồng thời nắm vững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể,nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử

Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sự dửng dưng đối

với chính các vấn đề hiện tại, bởi lẽ nó hiểu lịch sử chỉ như những lát cắt rời rạc,không có mối liên hệ với nhau Thực ra cho dù lịch sử đã an bài, nhưng nó vẫntiếp tục ám ảnh những đang sống, bởi những cách tiếp cận khác nhau về lịch sử

Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túy chỉ như lịch

sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và hai phương pháp triết học đối lập

Trang 7

nhau, theo sự phân tuyến đơn giản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoahọc Lý luận khoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà cốgắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự phát triển tư duy triết học,

từ đó rút ra tính quy luật của nó

Triết học là giá trị văn hóa tinh thần cô đọng nhất, tinh tuý nhất, là thời đạilịch sử hiện thực được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các vấn đề

triết học C.Mác (K.Marx) viết trong “Bài xã luận báo “Kolnische Zeitung số

179”: … Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại

mình”1 Vậy thế nào là “triết học chân chính”? Đó là triết học được sinh ra, chịusự quy định bởi những điều kiện lịch sử – xã hội của thời đại mình, cùng với cáchọc thuyết, các tư tưởng khác làm nên diện mạo tinh thần của thời đại, đóng góp

vào giá trị chung của nhân loại Mác lại viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sửa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” 2

Ngay từ các bài viết đầu tiên trong thời kỳ chuyển tiếp tư tưởng, C.Mác đãnhấn mạnh sự thống nhất của hai cách tiếp cận đối với di sản của quá khứ: mộtmặt cần tuân thủ nguyên tắc tính đảng trong triết học, căn cứ vào việc giải quyếtvấn đề cơ bản của triết học, chỉ ra rằng cuộc tranh luận về thế giới quan tạo nênđộng lực cơ bản của sự phát sinh, phát triển, sự đan xen, thay thế nhau của cáchọc thuyết triết học Mặt khác, mỗi học thuyết, tư tưởng, trào lưu, khuynh hướngtriết học bên cạnh việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học bằng cách trực tiếphay ẩn mình trong các luận giải về con người, xã hội, ngôn ngữ… đều được thừa

nhận như “tinh hoa về mặt tinh thần” của mỗi thời đại, góp phần vào sự hoàn

thiện nhân cách và tri thức con người trong thời đại ấy Platôn (Plato, Platon),Arixtốt (Aristotle, Aristoteles), Lépních (Leibniz), Cantơ (Kant), Hêghen (Hegel)là những nhà duy tâm, nhưng đồng thời là những bộ óc lớn, những chân dung vănhóa của thời đại mình Chúng ta phê phán một cách xác đáng chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán của Makhơ (Mach), nhưng cũng lưu ý rằng ông là nhà bác họclừng danh của thế kỷ XIX, một trong những người thầy của Einstein

Tương tự như vậy đối với cách đánh giá tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Kytô

giáo Mác từng khẳng định “không có đảng phái thì không có sự phát triển”3,

nhưng cũng chỉ rõ: “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi”4

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, HN,1995, tr 157

2 C Mác và Ph Ăngghen, sđd, tr 156.

3 Sđd, tr 167.

4 Sđd, tr.166.

Trang 8

Nhân đọc Xôcrát (Socrates) V.I.Lênin viết trong “Bút ký triết học”, “Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn” 1 “Chủ nghĩa duy tâm thông minh” của Xôcrát, Platon, Hêghen

dù có những hạn chế ở phương diện thế giới quan, song đã để lại nhiều tư tưởngcó giá trị cho nhân loại ở những khía cạnh khác V.I.Lênin từng phê phán nhữngtoan tính xem xét chủ nghĩa Mác bên ngoài văn hoá nhân loại

Cần phân tích một cách phân minh, rõ ràng những đóng góp và những hạn

chế mang tính lịch sử của các học thuyết triết học Ngược lại, sự mơ hồ, lẫn lộn,

sự đánh giá thái quá, theo hướng “tả khuynh” lẫn “hữu khuynh” đối với các họcthuyết triết học, hoặc chủ trương “triết lý cái búa” trong sự đánh giá lịch sử, hoặccoi các nhận định trong lịch sử tư tưởng đều là những chân lý tuyệt đỉnh, “dànhcho mọi thời đại và mọi dân tộc”, là trái với bản chất của triết học, và đều đáng bịphê phán như nhau Ph.Ăngghen (F Engels) đã phê phán trường hợp tương tự ở vị

giáo sư cơ học Đuyrinh (Duhring) trong tác phẩm Chống Đuyrinh 2

Phân tích cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng cơ bản trong triết họckhông chỉ nhằm làm sáng tỏ tính quy luật trong sự phát triển của tri thức triết học,mà còn chứng minh rằng sự phản biện lẫn nhau giữa các khuynh hướng ấy là tấtyếu, góp phần vào sự phát triển chung của tư tưởng triết học Bài học Trung cổTây Âu, mà nhiều nhà tư tưởng xem như “đêm trường Trung cổ”, là ở chỗ, mộtkhi triết học chịu sự chế ngự vô điều kiện của uy quyền, của tín điều, không cầnđến hệ thống phản biện xã hội, thì nó cũng tự tuyên bố mình như một thứ “giáođiều triết học”, một thứ thần học bán chính thức, hay tệ hại hơn, một thứ nô lệ của

“thần học vạn năng”

Ngoài việc thừa nhận tính quy định (chế định) lịch sử - xã hội đối với cáchọc thuyết triết học, cần vạch ra những quy luật cơ bản trong quá trình vận độngcủa tri thức triết học

2 K Marx, F Engels, V.I Lenin, Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự thể hiện tính biện chứng và “có văn hóa” trong việc đánh giá lịch sử triết học (gợi ý phân tích)

+ Marx và Engels: đánh giá toàn bộ lịch sử triết học từ thế giới quan vàphương pháp luận của CNDVBC, vạch ra những đóng góp của các triết gia từ cổđại đến thời đại mình, làm rõ “hạt nhân hợp lý” trong các học thuyết, không hềđối lập một cách máy móc, siêu hình các trường phái (khoa học >< phản khoahọc, tiến bộ >< bảo thủ, cách mạng >< phản động v.v ), vạch ra những hạn chế có

1 V.I.Lênin, Toàn tập, t.29, Tiến bộ, M, 1981, tr 293.

2 Xem: C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1994, tr 124.

Trang 9

tính lịch sử của các trường phái, học thuyết, triết gia (nhưng không áp đặt điềukiện hiện tại cho quá khứ) Ehgels còn chỉ rõ, CNDVBC không có tham vọngđứng trên mọi khoa học  cách hiểu mới không chỉ về quan hệ giữa CNDVBCvới các trường phái, học thuyết trước Marx, mà cả về quan hệ với các khoa học cụ

thể, chuyên biệt…Dẫn chứng trong một số t/p của M và E, từ Bản thảo…1844, Gia đình thần thánh, Hệ tư tưởng Đức đến các tp thời kỳ cuối của Engels (Chống Duhring, L.Feuerbach và sự cáo chung…)

+ V.I.Lenin: tinh đảng và tính khoa học, thái độ đúng mực và khách qua đối

với lịch sử triết học (từ Những “người bạn dân”… đến CNDV và CNKNPP, Bút

ký triết học…)

+ Hồ Chí Minh: nhà triết học mácxít, nhà văn hóa lớn Không chỉ vận dụngsáng tạo CN M-L vào VN, mà còn phát triển nó “bằng dân tộc học phươngĐông”, nghĩa là bằng sự hiểu biết con người, văn hóa, tâm lý, tư duy phươngĐông (vđ “khúc xạ” văn hóa), tự nhận là học trò của “các vị ấy” (Phật tổ, KhôngTử, Jesus, Marx, Lenin, Tôn Dật Tiên), tỏ thái độ đúng đắn, “có văn hóa” đối vớiRussell và Sartre – những đại diện lớn của hai khuynh hướng cơ bản trong triếthọc phương Tây ngoài mácxít thế kỷ XX

CHƯƠNG I TRIẾT HỌC HY LẠP - LA MÃ CỔ ĐẠI (thế kỷ VI TCN - thế kỷ V)

I Sự ra đời và các thời kỳ của triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại

1 Sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại

a) Điều kiện kinh tế, xã hội dẫn đến sự ra đời triết học Hy Lạp cổ đại

Hy Lạp và La Mã đại diện cho thế giới phương Tây cổ đại, trong đó Hy Lạplà chiếc nôi của văn minh phương Tây Lãnh thổ Hy Lạp xưa kia rộng lớn hơn sovới hiện nay gấp nhiều lần, bao gồm phần đất liền cùng vô số hòn đảo trên biểnEgiê, vùng duyên hải Bancăng và Tiểu Á Từ cuộc di thực ồ ạt vào các thế kỷ VIII

- VI TCN, người Hy Lạp chiếm thêm miền nam Ý, đảo Xixin, vùng ven biển Đen,lập nên Đại Hy Lạp Những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alếchxăngđơ xứMaxêđoan vào cuối thế kỷ IV TCN đã đưa đến sự ra đời các quồc gia Hy Lạp hóatrải rộng từ Xixin ở phía Tây sang An Độ ở phía Đông, từ biển Đen ở phía Bắcđến khu vực tiếp giáp sông Nin ở phía Nam Tuy nhiên trung tâm của Hy lạp cổđại, trải qua bao thăng trầm, vẫn là vùng biển Egiê, nơi nhà nước và nền văn hóa

Hy Lạp đạt tời sự phồn thịnh cao nhất của mình Nơi đây những nền móng đầutiên của tri thức khoa học và triết học đã hình thành từ rất sớm

Vào thời đại Hôme (thế kỷ XI - IX TCN) ở Hy Lạp đã chớm bắt đầu quátrình tan rã của công xã thị tộc, được thúc đẩy bởi sự phân công lao động, diễn ra

Trang 10

trong nông nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi “Pôlít” (Polis), khái niệm dùng đểxác định nhà nước đặc trưng của người Hy Lạp dưới hình thức các thị quốc (thànhbang), vào thời Hôme chỉ là những cụm dân cư, tương đối độc lập, có thành lũybao bọc xung quanh Song sự phân hóa xã hội cũng đã bắt đầu và ngày càng trởnên gay gắt Bước sang thế kỷ VIII TCN kinh tế ở các thị quốc Hy Lạp tiếp tụcphát triển với nhịp độ nhanh Thủ công tách khỏi nghề nông và tiến những bướcđáng kể Hình thức tổ chức quyền lực mang tính nhà nước đã xuất hiện, thúc đẩykinh tế phát triển, nhưng cũng tạo nên sự phân hóa sâu sắc trong đời sống xã hội.Sự hưng thịnh của kinh tế kích thích quá trình vượt biển tìm đất mới, dẫn đếnnhững cuộc di thực ồ ạt, xâm chiếm các khu vực làng giềng, bắt người làm nô lệ Tóm lại, sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan rã củanền kinh tế tự nhiên, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa các lực lượng xãhội, sự thôn tính đất đai, sử dụng lao động nô lệ… khiến cho chế độ công xã thịtộc, là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, phải đi đến chỗ suy vong, và bịthay thế bởi một thiết chế xã hội mới, phù hợp với những quan hệ xã hội mới Nóicách khác, nhà nước đã ra đời như một tất yếu trên con đướng phát triển lịch sửcủa nhân loại Ph Ăngghen viết:”Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã pháttriển tới một giai đoạn nhất định”1

Cùng với sự hình thành các thị quốc, nền văn hóa mới cũng được xác lập, trởthành bộ phận hữu cơ của đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại Những biểu hiện chủyếu của hệ thống các giá trị tinh thần mới là sự duy lý hóa tư duy, ý thức về nhâncách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm và năng lực của con người trong cuộcđấu tranh với tự nhiên, tinh thàn ái quốc, quan niệm về tự do như phạm trù đạođức - chính trị cao qúy nhất…Sự hình thành những cơ sở của văn hóa Hy lạp là sựkế thừa các giá trị truyền thống, thể hiện trong các sáng tác dân gian, trong thầnthoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo, trong những mầm mống của tri thứckhoa học Tư tưởng triết học phát sinh và phát triển như một thành tố không táchrời của nền văn hóa mới ấy

Như vậy, sự chuyển tiếp từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếmhữu nô lệ diễn ra cùng với những biến đổi chăn bản trong ý thức, trước hết là nhucầu lý giải nghiêm túc những vấn đề tự nhiên, xã hội Triết học ra đời theoArixtốt, làm cho sự ngạc nhiên trước thế giới rộng lớn và bí hiểm được giải quyếtbằng những nỗ lực của lý trí truy tìm nguyên nhân đích thực của vạn vật Theo sửliệu học Pitago (570 - 496 TCN), hoặc có thể Hêraclít (khoảng 544 - khoảng 483TCN),là người đầu tiên tự gọi mình là philosophos, sau đó xuất hiện thuật ngữphilosophia, dịch thành triết học, mặc dù Talét (khoảng 624-547 TCN) mới là triếtgia đầu tiên của Hy Lạp Như vậy “Philosophia” (philo - yêu mến, sophia - sựthông thái) biểu thị khát vọng của con người vươn tới hiểu biết thực sự về mốiquan hệ giữa con người với thế giới và với chính mình, vượt qua ảnh hưởng của

tư duy huyền thọai, đi vào chiều sâu nhận thức thông qua khái niệm ngày càng đạtđược tính trừu tượng hóa cao

b) Con đường từ tư duy biểu tượng đến tư duy khái niệm, hay tiền đề tinh

1 C Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, t 21 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 252

Trang 11

thần của triết học

Ngạc nhiên làm nảy sinh triết lý, triết lý của con người về thế giới ở buổi đầulịch sử thể hiện trong huyền thoại, nhất là trong các câu chuyện thần thoại và sinhhoạt tín ngưỡng nguyên thuỷ Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên, đầy tính hoangtưởng, của con người với thế giới xung quanh

Thần thoại (xuất phát từ tiếng Hy Lạp mythologia, trong đó mythos là câuchuyện, truyền thuyết, logos là lời nói, học thuyết) là hình thức tư duy phổ biếncủa người nguyên thủy, cùng với thuyết nhân hình, vật linh thuyết, vật hoạtluận…Trong thần thoại các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật,tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và tưởng tượng, tự nhiênvà siêu nhiên còn chưa bị phân đôi Tuy nhiên tư duy huyền thoại cũng trải quanhững bước phát triển nhất định, thể hiện sự phát triển của ý thức Có thể nhậnthấy điều này trong thần thoại Hy Lạp Đỉnh cao của thần thoại cũng cũng đồngthời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình thức thế giớiquan mới, đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc hơn của conngười Quá trình này bắt đầu từ thời đại Hôme (thế kỷ XI - IX TCN) với việc xóa

bỏ dần hố sâu ngăn cách giữa thần và người, nêu ra các ý tưởng sơ khởi về hỗnmang, về các hành chất, về nguồn gốc thế giới, và cả những thông điệp của conngười về tình bạn, tình yêu, tinh thần ái quốc Xu hướng này được tiếp tục ởHêsiốt Trong “Thần hệ” của Hêsiốt các trạng thái vũ trụ được mô tả thông quacác thế hệ thần linh, từ Hỗn mang đến thần Dớt - biểu tượng của trật tự, ánh sángvà sự tổ chức cuộc sống trong vũ trụ Hiện tượng Prômêtê lấy trộm lửa của thầnDớt đem đến cho con người hàm chứa ý nghĩa sâu xa: lửa - biểu tượng của sứcmạnh và lý trí - không còn là đặc quyền của thần linh như trước, mà đã cố hữu nơicon người Con người trở nên tự chủ hơn trong quan hệ với thế giới xung quanh Vào khoảng cuối thế kỷ VII - đầu thế kỷ VI TCN, các thị quốc bước vào thời

kỳ phát triển khá thịnh vượng Sự phân công lao động lần thứ hai và sự ra đờiđồng tiền kim khí đã tạo nên những biến đổi lớn trong các lĩnh vực của đời sốngxã hội Ở bình diện văn hóa tinh thần “bảy nhà thông thái” xuất hiện, mở đườngcho một nền triết học thực sự Trong số họ Talét được Arixtốt gọi là nhà triết họcđầu tiên của thế giới phương Tây

Con đường từ thần thoại đến triết học, theo Hêghen, là con đường đi từ lýtính hoang tưởng đến lý tính tư duy, từ hình thức diễn đạt thông qua biểu tượng

đến hình thức diễn đạt bằng khái niệm (G W F Hêghen,toàn tập, t IX, Moskva,

1934, tr 14) Triết học ra đời không có nghĩa thần thoại mất đi, mà tiếp tục tồn tại

trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, nhưng được xem xét ở bình diện khác bình diện giá trị Đằng sau những câu chuyện thần thoại là cả một triết lý sống,thể hiện những chuẩn mực, những giá trị, những bài học đạo đức, nhân văn

-c) Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến sự hình thành tư duy triết học

và khoa học Hy Lạp

Trong quá trình xây dựng các học thuyết triết học và khoa học người Hy Lạpkế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc phương Đông, vốnhình thành sớm hơn, đồng thời tạo cho mình một phong cách và sắc thái tư duy

Trang 12

độc đáo, tạo nên truyền thống đặc trưng được tiềp tục bổ sung, phát triển ở cácthời đại sau

Thông qua những chuyến vượt biển tìm đất mới, quan hệ buôn bán, giao lưu,người Hy Lạp tiếp thu chữ viết, thành quả khoa học, và cả yếu tố huyền học(occultism) ở các nền văn minh phương Đông, nhất là vùng Trung Cận Đông vàBắc Phi Chữ viết tượng hình xuất hiện tại Ai Cập, Mesopotamie và một số dântộc khác từ khoảng 2700 TCN Đến thế kỷ VIII TCN người Phenicie, sau đóngười Hy Lạp tiếp thu, cải biến và hoàn thiện thêm Các lĩnh vực tri thức ởphương Đông như toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp,các mầm mống của y học, các khoa học về sự sống đáp ứng phần nào khát vọngkhám phá của người Hy Lạp, do đó được họ đón nhận một cách nhiệt tình, thúcđẩy quá trình hình thành những phác thảo đầu tiên về thế giới quan vào thế kỷ VII

- VI TCN Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp đều có kiến thức khoa họcvững vàng nhờ thường xuyên giao lưu với phương Đông dưới các hình thức khácnhau Người Ai Cập tính được số pi, diện tích hình tam giác, hình chữ nhật,, hìnhthang, hình bình hành, hình tròn Hệ thống lịch pháp được xác lập vào đầu thiênniên kỷ II TCN Từ phát minh của người Ai Cập ra cách tính thời gian một năm(365 + ¼ ngày đêm) sớm nhất thế giới, Babylon hoàn thiện thêm một bước vềtháng bổ sung, để đưa năm âm lịch (12 tháng với 354,36 ngày đêm) đến gần vớinăm dương lịch (365,24 ngày đêm) Cách tính giời hiện nay cũng cũng xuất phát

từ cách tính của Babylon Tuy nhiên, dù đi trước Hy Lạp ở trình độ phát triển,song tại các nước phương Đông láng giềng triết học đúng nghĩa vẫn chưa xuấthiện Ở phương diện lý luận tại Ai Cập và Babylon các yếu tố huyền học và thuậtchiêm tinh đan xen với các mầm mống của triết lý vũ trụ, nhân sinh, nhưng mặtthứ hai này còn khá mờ nhạt, bị lấn át bởi cách tiếp cận nhân hình hóa TạiBabylon chiêm tinh chiếm vị trí cao trong thang bậc tinh thần, nhà chiêm tinhđược tham dự vào cả công việc triều chính, giúp nhà vua vạch ra các kế hoạch đốinội, đối ngoại, tiến cử nhân sự Tại Ai Cập, những pho tượng khổng lồ đầu ngườimình thú, đặt bên cạnh những kim tự tháp uy nghi, tráng lệ, cho thấy người AiCập quan tâm đến thế giới “bên kia” vĩnh cửu Với thời gian, trong tư duy củangười Ai Cập xuất hiện một số cách ngôn chứa đựng các yếu của chủ nghĩa hoàinghi, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa khắc kỷ cổ sơ, như “Tôi là tôi”, “Đã vào cõi tửlàm sao trở về”, “Đừng uổng phí thời gian” Những cách ngôn đó bị xã hội xem làbáng bổ thế giới thiêng liêng Tại Babylon, sau thời kỳ hưng thịnh, những đô thịgiàu có và sa đoạ bắt đầu suy vong, và sau cùng lùi về dĩ vãng Sự kiện Babylon

sa đoạ và sụp đổ đã được nêu ra trong Kinh Thánh Kytô giáo

Các yếu tố huyền học, khi được du nhập vào Hy Lạp, chúng vẫn phải đóngvai trò giá đỡ cho tinh thần phóng khoáng, tự do của người Hy Lạp Liên minhPitago là một điển hình Ở đó các yếu tố duy tâm, tôn giáo, vốn được tiếp thu từphương Đông, không che khuất các yếu tố khoa học, duy lý Có thể khẳng địnhrằng, dù đi sau phương Đông về văn minh, nhưng Hy Lạp không đơn giản làmcông việc của người kế thừa Ngược lại, sự hình thành và phát triển của triết học

Hy Lạp là kết quả phát triển nội tại của tinh thần Hy Lạp, được thể hiện sinh độngtrong huyền thoại, trong văn hóa, trong tín ngưỡng nguyên thủy, chịu sự chi phối

Trang 13

của các điều kiện kinh tế và xã hội Trong quá trình tiếp thu có chọn lọc các giá trịvăn hóa tinh thần phương Đông, người Hy Lạp tạo nên phong cách tư duy đặctrưng của mình, trở thành cái nôi của triết học và khoa học phương Tây Vào năm

525 TCN, Ai Cập bị Ba Tư xâm chiếm Ach thống trị của Ba Tư đã đẩy văn minh

Ai Cập, cũng như Babylon trước đó, lùi về phía sau, nhưng ngọn lửa trí tuệ đãđược nhen nhóm lên và rực sáng ở một vùng đất khác

2 Sự phân kỳ triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại

Triết học Hy Lạp - La Mã trải qua ba chặng đường lớn, phản ánh sự hìnhthành, phát triển, khủng hoảng và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ

Triết học thời sơ khai, còn gọi là thời kỳ Tiền Xôcơrát, gắn với sự ra đời các

trường phái triết học đầu tiên tại Hy Lạp (thế kỷ VI - V TCN) Đây là thời kỳ đầucủa chế độ chiếm hữu nô lệ Triết học thay thế tư duy huyền thoại, mong muốntìm kiếm lời giải đáp nghiêm túc, hợp lý cho những vấn đề của tồn tại và nhận

thức Phần lớn các triết gia được gọi là các nhà triết học tự nhiên, vì họ quan tâm

chủ yếu đến tự nhiên, tìn hiểu bản nguyên và bản chất thế giới, nhằm giải đáp haicâu hỏi lớn: thế giới bắt đầu từ đâu và hướng về đâu (hay quay trở về đâu)? Thếgiới có trải qua quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong hay không?Thế giớiquan triết học còn ở trình độ chất phác, sơ khai, nhưng đã mang tính phân cực rõràng Chủ nghĩa duy vật, chủ yếu tập trung trong trường phái Milê và Hêraclít,đồng nhất bản nguyên thế giới với các yếu tố vật chất cụ thể (nước, khí, lửa, đất),hoặc giả định (apâyrôn), và chiếm vị thế áp đảo trước khuynh hướng duy tâm,thần bí Tính biện chứng tự phát, bẩm sinh thể hiện một cách sinh động qua cuộctranh luận giữa Hêraclít và trường phái Elê Bên cạnh đó vấn đề nhận thức luận,nguồn gốc sự sống cũng được đặt ra Thời kỳ khai nguyên triết học là thời kỳ hìnhthành trong dạng phôi thai những khuynh hướng và những phương pháp tư duy cơbản nhất

Triết học thời cực thịnh (thế kỷ V - thế kỷ IV TCN), còn gọi là thời kỳ

Xôcrát, gắn với những bước thăng trầm của nền dân chủ chủ nô (dân chủ theo từnguyên Hy Lạp là demokratia, là sự giản lược của demos + kratos, trong đódemos là nhân dân, kratos là quyền lực, hiểu chung thành “quyền lực của nhândân”) Vào thời kỳ này cùng với các vấn đề bản thể luận và vũ trụ luận, các nhàtriết học tìm hiểu nhận thức luận và vấn đề nhân sinh, xã hội Các nhà biện thuyết,

do Prôtago đừng đầu, là những người đầu tiên mở ra hướng đi mới cho triết họcphương Tây cổ đại, chuyển sự quan tâm từ tự nhiên sang con người và năng lựcnhận thức của nó thông qua tuyên bố “Con người - thước đo của vạn vật” Songbước ngoặt thực sự trong triết học gắn với tên tuổi của Xôcrát, vốn xuất phát từphái Biện thuyết Quy chức năng của triết học về đạo đức học, hiểu như “phươngtiện dạy con người sống”, Xôcơrát đã góp phần làm cho triết học vượt qua sự bếtắc, đi sâu vào những vấn đề nhân sinh, xã hội Con người giờ đây không chỉ làchủ thể, mà còn trở thành đối tượng, thành điểm xuất phát và mục đích của các tưtưởng triết học “Bước ngoặt Xôcơrát” cũng đánh dấu sự thay thế “triết học tựnhiên”, chủ nghĩa duy vật, bằng chủ nghĩa duy tâm, mà Platôn là người hệ thốnghóa nó

Trang 14

Sau Xôcơrát, triết học Hy Lạp một mặt vẫn tiếp tục các đề tài truyền thống,mặt khác dành nhiều tâm huyết lý giải những vấn đề liên quan đến vị trí và sốphận con người, ý nghĩa của cuộc sống, khả năng và phương pháp nhận thức, tiếntrình lịch sử, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Đây là thời kỳphát triển rực rỡ nhất của triết học Hy Lạp, thời kỳ sản sinh ra những tên tuổi lớn,làm rạng danh nền văn hóa phương Tây cổ đại

Triết học thời kỳ Hy Lạp hóa, khủng hoảng và suy tàn, hay thời kỳ Hy Lạp

-La Mã, bắt đầu từ thế kỷ III TCN đến thề kỷ V CN Thời kỳ Hy -Lạp hóa được bắt

đầu từ khi Alécxanđơ xứ Maxêđoan thông qua các cuộc viễn chinh đã phổ biếnẢnh hưởng của Hy Lạp ở phương diện chính trị lẫn văn hóa đến các nước trongvùng Tinh thần Hy Lạp hoá đó vẫn tiếp tục lan truyền ngay cả khi Hy Lạp bị mấtchủ quyền về tay La Mã (khoảng 143 TCN) La Mã đô hộ Hy Lạp về quân sự vàchính trị, nhưng về văn hóa Hy Lạp đã Ảnh hưởng một cách tích cực đến La Mãvà toàn bộ đế chế La Mã Những thành tựu văn hóa, khoa học của Hy Lạp đượcdịp phổ biến rộng rãi, từ từ khu vực Địa Trung hải đến Bắc Phi và vùng TrungCận Đông; tiếng Hy Lạp được sử dụng chính thức Nét đặc trưng của triết họcthời kỳ hậu Hy Lạp là bên cạnh những vấn đề phổ quát, siêu hình, các triết gia chútrọng nhiều hơn đến thế giới nội tâm của cá nhân, tìm kiếm phương thức giảithóat khỏi những vướng bận của đời thường, hoặc chủ trương đối thoại giữa conngười với vũ trụ, thần linh Trừ phái Êpiquya, phần lớn các nhà triết học thời kỳ

Hy Lạp hóa là những người đề cao vai trò của thần trong đời sống tâm linh củacon người

Sự khủng hoảng của tư tưởng triết học Hy Lạp - La Mã xuất phát từ bảnchất của chế độ chiếm hữu nô lệ, khi một bộ phận quần chúng đông đảo trong xãhội bị tướt bỏ quyền làm người, đưa đến những xung đột gay gắt, những cuộckhởi nghĩa của nô lệ và những cuộc chiến tranh triền miên Sự ra đời và pháttriển nhanh chóng của Kytô giáo (Christianity, Christianisme), với tư cách là tôngiáo nhất thần, thay thế tôn giáo đa thần, với thuyết giáo và biểu tượng mới,cũng góp phần báo trước cái chết tất yếu của chế độ chiếm hữu nô lệ Ở buổiđầu lịch sử Kytô giáo là tôn giáo của quần chúng bị áp bức, chống lại ách thốngtrị của đế chế La Mã bằng hình thức ôn hòa, tuyên truyền cho lối sống dân chủ,bình đẳng, không phân biệt giàu, nghèo, sang hèn, nam nữ, trở thành chỗ dựa,hay liệu pháp tâm lý, tinh thần của nô lệ và người nghèo Sau hai thế kỷ bị đànáp, năm 324 Kytô giáo được công nhận là quốc giáo Từ thời điểm này, nó trởthành một định chế vững vàng trong xã hội đang đi vào qũy đạo của chế độphong kiến Năm 476 Tây bộ đế quốc La Mã bị sụp đổ do những mâu thuẫn bêntrong và sự tấn công của các sắc tộc “man di”từ phương Bắc Năm 529 trườngphái Platôn tại Aten chính thức bị đóng cửa, chấm dứt một thiên niên kỷ tồn tạivà phát triển của triết học cổ đại Hy Lạp - La Mã, triết học của xã hội chiếm hữu

nô lệ Phong cách tư duy Hy Lạp - La Mã được thay thế bằng phong cách tư duydựa vào một hệ quy chiếu duy nhất, chịu sự chi phối của Kinh Thánh ở bìnhdiện thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh - xã hội Triết học Kytô giáochiếm vị trí độc tôn trong sinh hoạt tư tưởng, tinh thần, thủ tiêu đa nguyên triếtlý, vốn là đặc trưng của tư duy cổ đại

Trang 15

II Triết học thời sơ khai

1 Triết học tự nhiên của trường phái Milê

Cuộc tranh luận đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại xoay quanh vấn đề “thếgiới bắt đầu từ đâu và hướng (quay) về đâu?”, nói cách khác, đó là cuộc tranhluận về bản nguyên thế giới, tức cơ sở ban đầu, căn nguyên phát sinh mọi sự vật,

hiện tượng, hay nói như Talét, là cái mà từ đó mọi thứ sinh ra và trở về Đi tìm

“cái ban đầu”, viên gạch đầu tiên xây nên tòa lâu đài vũ trụ, đã tạo nên các cách lýgiải khác nhau về bản nguyên thế giới Tinh thần tranh luận quyết liệt ngay trongvấn đề đầu tiên này đã cho thấy khát vọng khám phá và chinh phục thế giới củangười Hy Lạp, tiêu biểu cho phong cách tư duy phương Tây trong lịch sử pháttriển của nó Sự vượt qua và điều chỉnh nhau giữa các triết gia, xét cho cùng, cũngchỉ nhằm biểu thị giới hạn và triển vọng hiểu biết của con người

Milê là tên một thị quốc phồn thịnh bậc nhất của Hy Lạp cổ đại, thuộc xứIôni, miền Tiểu Á Người sáng lập trường phái Milê là nhà toán học, nhà thiên vănhọc, nhà triết học đầu tiên của Hy lạp làTalét (khoảng 624 - 547 TCN) Trong toánhọc, bằng việc phát minh nhiều định lý cơ bản của hình học, số học, nghĩa là bằng

việc sử dụng những công thức trừu tượng, Talét đã đặt cơ sở cho sự ra đời toán

học lý thuyết Trong thiên văn và vật lý Talét có nhiều phát hiện độc đáo về hiệntượng nhật thực, nguyệt thực, thủy triều, tiết phân, hạ chí, mặc dù còn mang tínhchất ngây thơ Trong triết học, Talét thuộc thế hệ đầu tiên xem xét bản nguyên ởdạng hành chất Ông nói về nước như một cái phổ quát, tuyệt đối, như cơ sở củasinh thành và cả chuyển hóa nữa, mặc dù ý tuởng về chuyển hóa chỉ xuất hiệndưới dạng phôi thai Tất cả chỉ là biến thái của nước Trái đất như cái đĩa dẹt trôibồng bềnh trên nước, được bao quanh bởi nước, các đại dương, và chia thành 5vùng (bắc, hạ chí, xuân phân, đông chí, cực nam) Sự giải thích bản nguyên thế

giới từ chính những yếu tố vật chất của thế giới về căn bản đưa đến sự kết thúc

vai trò thống trị của thần thoại trong ý thức con người Lý trí thay thế thần Dớt,giới tự nhiên dần dần cởi bỏ lớp vỏ siêu nhiên Tuy nhiên bản thân Talét chưa thểchấm dứt ngay những ràng buộc với tư duy huyền thoại Ông sử dụng các yếu tốvật linh thuyết, vật hoạt luận làm chỗ dựa cho quan điểm của mình, như điều kiệncần thiết để dung hòa với thói quen truyền thống Đặc tính vật lý của nước đượcnâng lên cấp độ thần linh Thế giới chứa đầy thần linh Nước và tất cả những gìphát sinh từ nước đều có linh hồn, có thần tính Mặt trời làm cho nước bốc hơi thì

được Talét giải thích một cách ngây thơ, mộc mạc rằng Mặt trời cần nước để tồn

tại ! Nhưng khi có người hỏi “nước do đâu mà có ?”, thì sự chông chênh trong lý

lẽ của Talét bộc lộ ngay

Đại biểu thứ hai của trường phái Milêlà Anaximăngđơ (khoảng 610 - 546

TCN) Bản nguyên bây giờ không còn là nước, mà là cái có ý nghĩa phổ quát hơn.Theo Anaximăngđơ, để truy tìm bản nguyên sâu xa nhất, nguyên nhân của cácnguyên nhân, thì không thể dừng lại ở những hành chất cụ thể được Nước, haymột cái gì khác cụ thể, không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của một quátrình sinh thành trong vũ trụ Cái xác định là kết quả của những gì chưa xác địnhmà thành Nó vô cùng, vô tận, không chịu sự chi phối của những điều kiện không

Trang 16

- thời gian, vĩnh viễn, và không xác định được; trong sự tự do đó nó hợp nhất mọithứ để tạo nên những cái cụ thể mà ta biết, hoặc cảm nhận Cái không xác định

(apâyrôn) của Anaximăngđơ là nỗ lực vươn đến quan điểm thực thể về bản

nguyên: vượt qua cái cụ thể cảm tính để suy tưởng về một căn nguyên có tính trừu

tượng Tất cả các đặc tính của Apâyrôn được quy về một đặc tính chủ yếu là vận động Sự vận động của thực thể apâyrôn quyết định quá trình hình thành của vũ

trụ và con người Khi vận động theo vòng xoáy lốc, apâyrôn tạo nên những cựcđối kháng - ẩm và khô, lạnh và nóng Kết hợp theo từng cặp những tính chất ấy sẽdẫn đến hình thành đất (khô và lạnh), nước (ẩm và lạnh), khí (ẩm và nóng) và lửa(khô và nóng) Từ trung tâm, những kết cấu vật chất dần dần được xác định Dướitác động của lửa một phần nước bốc hơi, còn đất thì tụ lại giữa đại dương Trái đấtđã hình thành như vậy Bầu trời phân chia ra ba vòng, do khí bao quanh, tương tựnhư ba vành bánh xe rỗng, được bơm đầy lửa Vành dưới nhiều lỗ hổng, chứa lửa,là các vì sao Vành giữa một lỗ hổng, là Mặt trăng Vành trên cùng một lỗ hổng, làMặt trời Theo Anaximăngđơ, sự sống hình thành trước tiên ở đại dương, sau đótiến dần lên cạn Con người có thể chất yếu đuối nên sinh ra và phát triển trongbụng một loài cá khổng lồ Chỉ khi trưởng thành loài người mới lên đất liền vàsống độc lập Đó là quan niệm ngây thơ về nguồn gốc sự sống, song trong cái vẻnghèo nàn, trừu tượng này đã thể hiện những đột phá táo bạo về thế giới quan,:lần đầu tiên trong triết học cổ đại Hy Lạp Anaximăngđơ đã cố gắng giải thích thếgiới từ nguyên nhân tự thân, gạt bỏ yếu tố vật linh thuyết, vật hoạt luận, đưa ra tưtưởng biện chứng tự phát về tính phổ biến của vận động, biến đổi, sự thống nhấtcác mặt đối lập, về quá trình thành sự sống từ thế giới vô cơ, con người từ loàivật

Anaximen (588 - 525 TCN), nhân vật thứ ba của trường phái Milet, tìm cách

dung hòa hai bậc tiền bối, nhưng bác bỏ sự lựa chọn của họ Bản nguyên thế giớiphải là cái xác định, chứ không phải vô định, bởi lẽ tòa lâu đài vũ trụ không thể tựnhiên mà sinh thành với toàn bộ diện mạo của nó (bác bỏ Anaximandros) Tuynhiên với tính cách là cơ sở của mọi sự sinh thành, phát triển, diệt vong, của mọitrạng thái sự vật, bản nguyên phải là cái năng động và biến hóa, cái ta không thấy,mà cảm nhận sự hiện hữu khắp nơi của nó, đóng vai trò hàng đầu của sự sống,như nước, mà biến hóa hơn nước Đó là apâyrốt, tạm hiểu là “khí”, mà theoAnaximen, còn tỏ ra bao quát hơn cả apâyrôn, cái chỉ đáng xem như thuộc tính

của nó Chính ở apâyrốt diễn ra quá trình “tán” và “tụ” thường xuyên, để có được

một thế giới sống động và hài hòa Khi tán khí hóa thành lửa, rồi sau thành cáivầng sáng tinh khiết nhất - ête (aither); lúc tụ apeiros biến thành gió, mây, nước,đất và đá, tùy thuộc vào mức độ tụ của nó Sự tán gắn với quá trình đốt nóng, sựtụ - quá trình lạnh đi Không chỉ là bản nguyên thế giới, khí còn là nguồn gốc sựsống và các hiện tượng tâm lý Linh hồn là sự thở, khí của linh hồn và khí của thếgiới vật chất thống nhất với nhau Thần linh cũng xuất hiện từ khí Như vậy khícủa Anaximen vừa là yếu tố vật lý (không khí), vừa là yếu tố tâm linh (sinh khí)

Cả Talét, Anaximăngđơ và Anaximen đều là những nhà “vật lý”, vì họ xácđịnh nhiệm vụ chủ yếu là tìm hiểu những vấn đề của vũ trụ, tự nhiên Bên cạnhđó, họ còn đưa vào triết học của mình những yếu tố của huyền học, một phần kế

Trang 17

thừa từ thế giới quan huyền thoại trước đó, phần khác du nhập từ các nướcphương Đông láng giềng Nước được nâng lên cấp độ “nước thần”, là biểu tượngcủa sự nhất trí và hòa hợp; apâyrôn là nguyên lý sinh hóa của vạn vật; apâyrốtkhông chỉ là yếu tố vật lý, mà còn biểu thị sức sống năng động của vũ trụ và conngười; quan niệm về ngày tận thếlà sự vận dụng luật bù trừ trong thiên nhiên đểgiải thích quy luật chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng; kiếp người thường đượcliên tưởng đến kiếp của muôn loài: có sinh có diệt, tội ác phải đền bằng cái chết.Đó là điều bình thường trong điều kiện tư duy triết học vừa thoát ra khỏi thế giớiquan huyền thoại, cần sử dụng những yếu tố của quá khứ, nhưng đang còn phổbiến trong ý thức đại chúng, như giá đỡ cho sự thể hiện cái mới, cái hiện là cábiệt, song với thời gian sẽ chuyển hóa thành cái phổ biến

2 Trường phái, hay liên minh Pitago

Nước ở Talét không đơn giản là yếu tố vật lý, mà còn là yếu tố thần linh

(“nước thiêng”, nước “thần”) Đối với ông tất cả sự vật đều sống động, có thầntính Vật hoạt luận (Hylozoism, kết từ “hyle” - sự vật, và “zoe” - sự sống, họcthuyết chủ trương tất cả các sự vật đều sống động, có linh hồn, hay thần tính) ẩnnáu trong chủ nghĩa duy vật chất phác là đặc điểm của triết học Talét Apâyrốt(apeiros) của Anaximen không chỉ là “không khí”, mà còn là “khí”, “sinh khí’

cuộc sống Như vậy ngay trong các học thuyết được gọi là duy vật thì những mầm mống của chủ nghĩa duy tâm đã hình thành và phát triển khi có điều kiện thích hợp Bản thân chủ nghĩa duy tâm cũng ra đời một cách tự phát, gắn với trình độ

nhận thức chung của cổ đại Hy Lạp, song nó cũng là nỗ lực tìm kiếm lời đáp chovấn đề quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh và với chính mình Ởnhững nhà duy tâm đầu tiên việc đề cao “thần tính” của tồn tại, tính siêu việt củalinh hồn so với thể xác cần đến một giá đỡ, cái tuyệt đối bên ngoài thế giới

Bên cạnh đó sự ra đời của chủ nghĩa duy tâm như một hệ thống lý luận cócội nguồn sâu xa từ thần thoại và tôn giáo nguyên thủy, thể hiện cả thái độ sốngcủa con người, thái độ đối với thế giới mà mình còn chưa hiểu biết thấu đáo

Tư tưởng huyền học đan xen với tư tưởng khoa học là những biểu hiện đầu

tiên của chủ nghĩa duy tâm như một học thuyết bản thể luận ở Pitago và trường

phái Pitago

Ngay từ thời kỳ di thực vào cuối thế kỷ VI TCN trung tâm tri thức của người

Hy Lạp đã chuyển dần từ vùng Iôni sang phía Tây, hay Đại Hy Lạp, bao gồmnhững vùng đất mà người Hy Lạp chiếm ở ven Địa Trung Hải và Biển Đen Tạiđây các trường phái triết học lần lượt xuất hiện, trong đó nổi lên trường pháiPitago, còn gọi là liên minh Pitago, xét theo phương thức tổ chức, tầm Ảnhhưởng, tính hỗn dung về tư tưởng và chiều dài lịch sử của nó Đây là trường pháitriết học tồn tại lâu nhất, kéo dài từ thế kỷ VI TCN đến khi kết thúc triết học cổđại phương Tây Giai đoạn giàu ý nghĩa nhất trong sự tồn tại của trường pháiPitago là giai đoạn sơ - trung kỳ (thế kỷ VI - IV TCN), khi nó đạt được nhữngđỉnh cao đáng nhớ: đỉnh cao chính trị (nửa đầu thế kỷ V TCN), đỉnh cao triết học(nửa sau thế kỷ V TCN), đỉnh cao khoa học (nửa đầu thế kỷ IV TCN)

Liên minh, hay dòng tu Pitago hình thành trong bối cẢnh phực hưng tôn

Trang 18

giáo và công cuộc di thực ồ ạt từ Iôni sang miền nam nước Ý và vùng Xixin hiệnnay Liên minh được tổ chức chặt chẽ theo hình thức khép kín, lấy quan niệm vềsự hòa tiết và thanh tẩy linh hồn làm cơ sở đạo đức Trong liên minh mọi thứthuộc về của chung, mọi sinh hoạt đều tuân theo kỷ luật nghiêm ngặt, theo mộttrình tự được các thành viên chấp thuận Nhưng liên minh Pitago không thuần vềtôn giáo, mà chủ yếu là nơi tập hợp những người yêu thích hoạt động trí tuệ

Pitago (570 - 496 TCN) sinh tại Xamốt, thuộc vùng Iôni, sau di cư sang

Cơrôtôn, miền nam Ý Là nhà toán học, Pitago đưa ra nhiều định lý có giá trị.Trong triết học Pitago là nhà duy tâm tôn giáo, xây dựng những tư tưởng huyền bívề ý nghĩa cuộc sống và bản nguyên vũ trụ, mang đậm dấu s61n huyền họcphương Đông Bản tính con người, theo Pitago, có tính chất nhị nguyên - thể xáckhả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cả của cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy nhữngcái nhơ bẩn, những điều ác trong lòng, hòa mình vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếpluân hồi Triết lý, vì vậy, là hành trình của sự giải thoát

Trong tư tưởng của Pitago những con số chiếm vị trí đặc biệt Triết lý về con

số ở Pitago bắt đầu bằng mệnh đề “cái gì đo được thì tồn tại, cái gì tồn tại thì đo được”, vì thế những con số định hình nên thế giới, diễn đạt sự vật, thậm chí là bản

chất và chuẩn mực của chúng Triết lý là nhận thức quy luật vận động của vũ trụthông qua những con số Khi ta nói “linh hồn hòa điệu”, thì đó chính là quan hệhòa điệu của các con số Pitago dùng tương quan chẵn - lẽ, bộ mười và bộ bốn đểgiải thích tính thống nhất và đa dạng của tự nhiên, xã hội, con người, trong đó số

1 là đơn vị cơ sở, sau số 1 (lẽ) là số đối lập - số 2 (chẵn); lẽ là cái hữu hạn, chẵn làcái vô hạn Số 1 là con số năng động nhất, Bản nguyên hoạt động, chi phối tất cả,nhưng con số kỳ diệu nhất là số 10, bao gồm 10 mối quan hệ của các mặt đối lập:hữu hạn - vô hạn, chẵn - lẽ, đơn - đa, phải - trái, nam - nữ, động -tĩnh, thẳng -cong, sáng - tối, tốt - xấu, tứ giác - đa diện Trong sự liệt kê đơn giản, ngây thơ,ngẫu hứng và không mấy sắc sảo này đã thể hiện những phạm trù đầu tiên của tưtưởng, sự nỗ lực lý giải thực tại của Pitago - ông đã nâng con số lên trình độ kháiniệm, hiểu nó như tồn tại tự thân “trong nó, cho nó và cho cái khác” (Hêghen) Từcác con số hình thành nên những vật thể, những hành chất (nước, không khí, lửa)và toàn thể vũ trụ Vũ trụ được cấu thành từ 10 thiên hà, tạo nên sự hòa điệuthiêng liêng Tuy nhiên không thể đưa lẽ công bằng, tự do về những con số, vì đólà những khái niệm trừu tượng, khó được cụ thể hóa, hiện thực hóa hoàn toàntrong cuộc sống Lẽ công bằng không đo bằng các con số

Bản tính con người, theo Pitago, có tính chất nhị nguyên, trong đó thể xáckhả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cả của cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy nhữngcái nhơ bẩn, những điều ác, hóa thân vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếp luận hồi.Cách tiếp cận như thế cho thấy triết lý nhân sinh của Pitago mang đậm dấu ấn củahuyền học phương Đông Đánh giá Pitago, Hêraclít viết:”Pitago vượt xa nhữngngười khác về sự am hiểu khoa học, nỗ lực thâm nhập vào bản chất thế giới, tỏ rauyên thâm trong mọi chuyện, nhưng xem ra chỉ hình thành được mớ kiến thức giảtạo” (Tản văn, Lôgót, câu17)

Thế hệ tiếp theo của trường phái Pitago gắn với tên tuổi của Philôlai

Trang 19

(Philolaos, nửa sau thế kỷ V TCN), người tiếp tục huyền thoại hóa những con số.

Những điểm không gian được biểu tượng thành những số đơn giản, từ đó nốithành đường - “những con số đường thẳng” Những số triển khai ra thành hai sốnhân bằng nhau là “những con số hình vuông” (số 4, số 9 … ); nếu thành hai sốnhân không bằng nhau - “những con số hình chữ nhật” (số 6, số 12…); nếu thành

ba số nhân - những hình Ảnh không gian (vật thể) Như vậy số 1 tương ứng vớiđiểm không gian, số 2 - đường, số 3 - mặt phẳng, số 4 - khối vật thể đơn giản.Riêng số 10 Phillôlai không trình bày như con số hình chữ nhật, với các cạnh là 5và 2, mà như hình tam giác cân với 10 chấm đen, xếp theo bốn dãy, lấy từ bốn số

đầu của dãy số tự nhiên là 1,2,3,4 (1+2+3+4 = 10) Do chỗ số 1, số 2, số 3 và số 4

là sự thể hiện số học của điểm, đường thẳng, mặt phẳng và khối, nên số 10 chứa đựng trong nó cả bốn hình thức tồn tại của sự vật Các số khác cũng mang những

ý nghĩa tượng trưng, như số 5 - phẩm và sắc, số 6 - tính sống động, số 7 - trí tuệ,sức khỏe, ánh sáng, số 8 - tình yêu và tình bạn, sự mẫn tiệp và hào hoa Nhờnhững con số mà không gian vật thể được tổ chức lại Trong vũ trụ luận Philôlaikế thừa quan điểm của Pitago về sự hòa điệu giữa các hành tinh, làm nên bản giaohưởng vũ trụ huyền bí, thiêng liêng, đồng thời liên kết Đại không gian với cácnhân vật thần thoại Khác với Pitago, Philôlai cho rằng Trái đất không phải làtrung tâm vũ trụ, mà bay lượn như những hành tinh khác Nếu Plà người tiênphong của thuyết Địa tâm, thì Philôlai đi theo hướng ngược lại, song chưa phải làngười tiên phong của thuyết Nhật tâm, vì Mặt trời được hình dung chỉ như mộtkhối tinh thể lạnh, phản chiếu ánh sáng từ nơi khác, từ Vòm lửa Olimpốt(Olimpos) xa xôi, nơi phát nguyên ngọn lửa trung tâm vĩnh hằng

Acsitốt (Archytos), học trò của Philôlai, nghiêng hẳn về tinh thần Hy Lạp

phóng khoáng và yêu chuộng tự do, giảm dần các yếu tố bảo thủ, khổ hạnh, ỞAcsitốt tinh thần khoa học chẳng những vượt qua giáo điều, mà còn chiếm vị trídanh dự trong quan hệ xã hội, chẳng hạn luận điểm cho rằng một phép tính sòngphẳng ngăn ngừa đại họa cho muôn người Triết học Acsitốt nhấn mạnh xu hướngduy lý hóa nhận thức; trong vũ trụ vắng dần hình Ảnh các vị thần, thay bằngnhững xét đoán kết hợp trực quan và tư duy, khả năng tri giác và trí tưởng tượng.Tuy nhiên nhìn chung trường phái Pitago Trung kỳ chưa thực sự chấm dứt nhữngràng buộc với tôn giáo, nhất là tôn giáo Ocphây (Orpheus)

Trường phái Pitago, nơi các yếu tố khoa học và các yếu tố tôn giáo đan xennhau, phản ánh tính đa dạng và phức tạp của sinh hoạt tinh thần của thế giới HyLạp thời sơ khai, khi quá trình hình thành các thị quốc bị chi phối bởi những cuộc

di thực và chiến tranh, còn nền văn hóa thì đang tìm kiếm những khả năng mới,thay thế các môtíp sáng tạo từ thời trước

3 Cuộc tranh luận giữa Hêraclít và trường phái Êlê - tính biện chứng trong tư duy của người Hy Lạp

Cuộc tranh luận về bản chất của thế giới diễn ra hầu như đồng thời với cuộctranh luận về bản nguyên thế giới Các nhà triết học giải đáp không chỉ câu hỏi

“thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu ?”, mà cả những câu hỏi như “thế giới tồntại như thế nào ?”, “thế giới về nguyên tắc vận động hay đừng im ?”, “nếu vận

Trang 20

động, thì vận động theo những tính quy luật nào ? vận động tự thân của sự vật,hay do sự tác động của lực lượng huyền bí bên ngoài ?”…

a) Hêraclít (Heraclitos) - “mọi thứ đều tuôn chảy”

Xôcrát là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “biện chứng” (Dialektike) như

nghệ thuật đối thọai, tranh luận nhằm đạt tới chân lý Sau đó Platôn đã cụ thể hóa

cách hiểu này trong các thao tác lôgíc, phương pháp hỏi và đáp một cách hợp lývà thuyết phục, từ đó dễ dàng xác lập định nghĩa đúng về các khái niệm Theocách hiểu hiện đại, xuất phát từ Hêghen, phép biện chứng là khoa học về phươngpháp tư duy (khoa học lôgíc), đồng thời là học thuyết về mối liên hệ phổ biến vàsự phát triển C Mác đã kế thừa và cải tạo phép biện chứng Hêghen, xây dựngphép biện chứng duy vật Thuật ngữ phép biện chứng như vậy đã vượt qua ýnghĩa chủ quan ban đầu của nghệ thuật đôi thoại để trở thành một phương pháptriết học và một học thuyết tìm hiểu các sự vật, hiện tượng như một quá trình vậnđộng, phát triển mang tính quy luật

Từ góc đô này có thể xem Hêraclít là ông tổ thực sự của phép biện chứng,người đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng về thế giới

Hêraclít không chỉ là nhà duy vật tự phát, mà còn là nhà triết học đã đặt cơ

sở cho cách hiểu về thế giới như một quá trình, được diễn đạt bằng câu cách ngôn

“mọi thứ đều tuôn chảy”theo quy luật, hay Lôgốt (Logos, Hêraclít Tản văn, câu

2) Lôgốt là khái niệm chủ đạo trong triết học Hêraclít, dùng để giải thích bảnnguyên lẫn bản chất của thế giới Đó là một khái niệm đa nghĩa: 1)Thần ngôn(ngôn từ của Thần, thần ngôn); 2) lời nói, học thuyết, có nghĩa là logos đã đượcthế tục hóa thành cái thuộc sở hữu của con người (ta biết rằng có khá nhiều họcthuyết có phần kết thúc bằng “logy”, “logie”…); 3)lý trí, chân lý (môn học dạy tacách tư duy đúng, theo truyền thống gọi là Logic); 4)tính quy luật, tính tất yếu;5)trật tự, chuẩn mực; 6)lửa Bốn nghĩa sau cùng, không còn nghi ngờ gì nữa, gắnliền với tên tuổi của Hêraclít Một cách tổng quát, Hêraclít muốn nói rằng, mọi sựvật diễn ra trong thế giới không xô bồ, hỗn độn, mà tuân theo tính quy luật, tính

tất yếu, trật tự, chuẩn mực, được lý trí nhận biết (chúng ta không nhìn quy luật, mà nhận thức quy luật); đồng thời chúng ta hình dung toàn bộ thế giới này như

ngọn lửa thiêng liêng, sống động, bùng cháy và tắt đi theo quy luật Lửa - cơ sởcủa sinh thành và diệt vong, sức mạnh chở che và sức mạnh hủy diệt Đại hỏa tai

vũ trụ sẽ là phán xét vũ trụ, tất cả biến thành tro bụi, và từ trong tro bụi một chu

kỳ mới của sinh thành, biến hóa lại bắt đầu Quy luật thứ nhất chỉ rõ mọi sự vật

đều nằm trong sự sinh thành, phát triển và diệt vong không cưỡng lại được Tínhphổ biến của thay đổi diễn ra trong thế giới được ví như hình Ảnh dòng sông mà

tất cả đều đang trôi đi, bởi thế nên “không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì mỗi lần bước xuống sông, ta lại tiếp xúc với dòng nước mới”(Hêralít.

Tản văn, câu 41) Hêralí còn diễn tả một cách cô đọng quá trình liên tục của thếgiới bằng định thức “hư vô - tồn tại - hư vô”, liên tưởng dòng thời gian “quá khứ -hiện tại - tương lai” (cái đã qua - cái đang tồn tại - cái chưa đến); cái mà hôm quachúng ta cho là hiện tại, hôm nay chuyển thành quá khứ, cái hôm nay chúng ta gọilà hiện tại, ngày mai vụt chuyển thành quá khứ, và cái ngày mai ấy sẽ là hiện tại,

Trang 21

là cái-đang-tồn-tại … sự truy đuổi nhau ấy diễn ra liên tục, không bao giờ đạt đếnđiểm kết thúc tuyệt đối Sự vật thay đổi nhanh đến mức mỗi khi chúng ta nói vềnó, thì nhận định của chúng ta đã ít nhiều lạc hậu mất rồi !

Quy luật thứ hai nhấn mạnh tính thống nhất và đa dạng của thế giới Thế giới

thống nhất, nhưng không phải là thống nhất trừu tượng, mà là hoạt động, sự tựtriển khai ra các mặt đối lập Hư vô chỉ là “cái khác” của tồn tại, tính chủ quan là

“cái khác” của tính khách quan, mọi thứ đều hợp nhất, và mọi hợp nhất đều phân

đôi, tồn tại và hư vô chỉ là một Sự vật vừa có vừa không, vừa tồn tại vừa không tồn tại Vũ trụ thống nhất trong tính đa dạng, ở đó sự tác động qua lại và chuyển

hóa của các mặt đối lập làm nên bản chất của sinh thành, phát triển, diệt vong.Tuyên bố “trong chiến tranh (đấu tranh) có mầm của sự hòa điệu (thống nhất),trong hòa điệu ẩn chứa tiềm tàng khả năng của chiến tranh”, Heraclitos nhấnmạnh chiến tranh là “cha của tất cả”, “ông hoàng của tất cả” (Tản văn, câu 44).Trong đấu tranh cái mới xuất hiện, tạo nên sự thống nhất mới, quá trình chuyểnhóa không bao giờ ngừng Hêraclít xem quá trình chuyển hóa là tất yếu:”Lửa -biểu thị chuyển hóa của vạn vật, ví như sự trao đổi hàng hóa sang vàng và vàngsang hàng hóa…” (Tản văn, câu 22)

Quy luật thứ ba, xuất phát từ quy luật thứ nhất và quy luật thứ hai, có thể gọi là quy luật tương quan: sự vật đặt trong những tương quan khác nhau “biểu lộ” ra một cách khác nhau trước chủ thể, chẳng hạn mật ngọt đối với người bình thường, nhưng đắng đối với người bệnh; nước biển đối với một số sinh thể là môi trường

sống, nhưng đối với một số khác lại tỏ ra độc hại; vàng đối với người là quý,nhưng đối với loài vật lại vô giá trị Sau cùng, người thông thái nhất cũng chỉđáng là đứa trẻ so với thần linh; con khỉ đẹp nhất cũng trở nên xấu xí so với conngười, con người đẹp nhất cũng chỉ đáng coi là con khỉ không đuôi so với thầnlinh (xem Tản văn, các câu 97, 98, 99) Sự táo bạo, khác thường trong lập luậncủa Hêraclít là sự thách thức đối với quan điểm đương thời về bản chất của thếgiới, khiến cho ông bị cô lập, chấp nhận “bước đi trên con đường cô đơn”, nhưngvới “một lòng cao ngạo ngất trời” (Xem F Nietzsche Triết lý Hy Lạp thời bi kịch.Bản địch của Trần Xuân Kim Sài Gòn, 1975, tr 51) C Mác xem Hêraclít là mộttrong những tên tuổi lớn, tạo nên phong cách tư duy đặc sắc thời cổ đại1

Lôgốt- Lửa của Hêraclít rất thần linh, nhưng cũng rất vũ trụ và nhân tính.

Thần linh là biểu tượng của sự thống nhất và chuyển hóa ngày - đêm, đông - hạ,chiến tranh - hòa bình, no - đói Con người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, toàn thể

trong đại toàn thể, vì vậy lý trí con người và lý trí thần linh, đại diện cho tinh khí

vũ trụ, nhất trí với nhau, dù không hòa lẫn vào nhau Lý trí là chìa khóa giúp con

người hiểu được vũ trụ trong hòa điệu thiêng liêng Lý trí - Lôgốt chính là sự bảođảm tính phổ biến và tính chân lý của nhận thức Lý trí - Lôgốt - Lửa cũng làthước đo tính cách con người, xác định xem tâm hồn người nào “nhiều lửa” vàtâm hồn người nào “ít lửa”, hoặc “thiếu lửa” Lửa ấy là “lửa lòng” Lửa là cộinguồn vĩnh cửu của cuộc sống,

Hêraclít đã làm đảo lộn cách suy nghĩ phổ biến về một thế giới hài hòa và

1 xem C Mác và Ph Ăngghen Toàn tập T 1 NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 157

Trang 22

bền vững Nhà triết học yếm thế cố thuyết phục mọi người rằng quan điểm truyềnthống chưa đi sâu vào bản chất của sự vật, rằng chỉ có thể xác định “mọi thứ đangtrôi đi” mới hiểu ra cái lẽ đương nhiên của quá trình sinh - diệt Tuy nhiên theophần lớn những người cùng thời cách hiểu đó là lập dị, khác thường: Hêraclít hầunhư một mình thách thức tất cả Vì lẽ đó nhà triết học xứ Ephese ít được tôn vinhtrong biên niên sử triết học các thời đại sau, nhất là thời trung cổ, cho đến khiHêghen khôi phục và phát triển, hệ thống hóa phép biện chứng, vốn hình thành từquá khứ, đem đến cho nó ý nghĩa mới vào thế kỷ XIX Nhưng trước hết trườngphái Êlê- người phản biện - đã sửa chữa tư tưởng “vạn vật biến dịch” như thếnào ?

Khái niệm lôgốt cũng được vận dụng vào việc giải quyết vấn đề nhận thức luận Cơ sở tính phổ biến và tính chân lý của nhận thức là lôgốt, nghĩa là sự thống

nhất tất yếu của trật tự thế giới Khám phá sự vật là một quá trình phức tạp, vì

“giới tự nhiên không thích bộc lộ mình” (Tản văn, câu 10) Hêraclít phân biệtnhận thức cảm tính, tức nhận thức “thông qua nghe, thấy, sờ, nếm, ngửi” (Sđd,câu 6, 13, 15) và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính không phải là vô ích,nhưng mục đích cao nhất của nhận thức là nhận thức lôgốt, tức nhận thức lý tính,vươn đến sự hiểu biết tính thống nhất và đa dạng của vũ trụ “Sự khôn ngoan vượtlên trên tất cả” (Tản văn, câu 18); để có nó, theo Hêraclít, chúng ta không bằnglòng dừng lại ở sự quan sát, mà cần đến năng lực “thần linh”, thấu suốt bản chấtsự vật Ai cũng có thể tư duy, nhưng năng lực tư duy ở mỗi người lại khác nhau,

do lửa trong mỗi người không như nhau Với cách đặt vấn đề như thế, Hêraclít bàn đến đạo đức và chính trị như sự triển khai lôgốt trong cuộc sống Lôgốt

hướng dâ74n hành vi con người Bản chất đạo đức của con người (thiện, ác, dũngcảm, nèn nhát) tùy thuộc vào sự hiện diện của lửa nhiều hay ít, sinh động hay yếuớt Nếu xem lửa là cội nguồn vĩnh cửu, thì hoạt động sống của con người là mộtquá trình

Lửa là cội nguồn vĩnh cửu của cuộc sống, còn cuộc sống là quá trình hướngtới sự hợp nhất bền vững con người - vũ trụ - thần linh Song điều đó khó thànhhiện thực, vì một phần nhân loại không tuân thủ lôgốt, xem cuộc sống chỉ là “tròchơi con trẻ” Để ngăn chặn con người sa vào lầm lỗi, cần thiết phải xây dựng

“chuẩn mực luật pháp hữu ích”, “lôgốt của cuộc sống” Phục tùng lôgốt - luậtpháp và hành động theo lôgốt quy định tính cách của mỗi cá nhân Hêraclít kêugọi “con người phải đấu tranh cho luật pháp như cho ngôi nhà của mình” (Tảnvăn, câu 100) Theo Hêraclít, con người sợ cả hai thế lực: sợ thần linh trừng phạtvà sợ chính bản thân mình Trong khi cố gắng khám phá tự nhiên con người vẫnkhông đảm bảo rằng mình có thể chế ngự được bản thân hay không

Tản văn của Hêraclít (trích trong The Portable Greek Reader)

LOGOS

1 Thật không phải …khi tuyên bố rằng vạn vật đồng nhất thể 2 (Cho dù)

logos là chân lý trường cửu, nhưng con người không thể hiểu nó ngay khi được

nghe về nó lần đầu tiên, cũng như trước khi được nghe về nó …Mọi thứ đều tuôn

chảy, … nhưng không phải ai cũng cảm nhận được điều đó Họ không biết điều

Trang 23

mình đang làm, cả khi thức lẫn khi ngủ 3 Những kẻ đần độn dù cố nghe đến mấy cũng chẳng khác nào người điếc, chẳng khác nào chứng kiến cũng như không 4.

Mắt và tai là sự nhận thức mờ tối …dù con người có tâm hồn để nhận thức mà

không cần đến ngôn ngữ 5 Nhiều người chẳng màng quan tâm đến những thứ

diễn ra trước mắt, hoặc họ cũng chẳng ghi nhận được gì khi nghe, mặc dù họ ngỡ

rằng mình đã hiểu hết 6 Sự hiểu biết (thực sự - ĐNT) không bằng cách nghe và cũng không bằng cách nói 7 Nếu anh không mong đợi điều ngoài mong đợi, anh

sẽ không tìm thấy nó, vì nó không tự bộc lộ ra 10 Giới tự nhiên không thích bộc lộ mình 15 Chứng kiến bằng mắt chính xác hơn nghe bằng tai 20 Thế giới này

tồn tại tự thân, không do một vị thần hay con người nào tạo ra, mà đã, đang và sẽlà một ngọn lửa sinh động vĩnh hằng và là thước đo của việc những sự vật này

đang bùng cháy và những sự vật kia đang tắt đi 22 Lửa - biểu thị Chuyển hóa

(trao đổi) của vạn vật, ví như sự trao đổi hàng hóa sang vàng và vàng sang hàng

hóa (đều dựa vào những quy luật nhất định) 25 Lửa sống bằng cái chết của

không khí và không khí sống bằng cái chết của lửa Nước sống bằng cái chết của

đất, và đất - bằng cái chết của nước 26 Lửa …phán xét và kết án tất cả 27 Con người làm sao có thể ôm trọn cái thường xuyên biến đổi? 32 Mặt trời mỗi ngày đầu mới 36 Thần là ngày và đêm, mùa đông và mùa hạ, chiến tranh và hòa bình,

no và đói, nhưng thần cũng luôn luôn biến đổi hình thù của mình 39 Những thứ lạnh trở nên nóng, những thứ nóng lại trở nên lạnh 40 Tan rồi hợp, tiến rồi lùi.

41 Không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì mỗi lần bước xuống sông, ta lại tiếp xúc với dòng nước mới 44 Chiến tranh là cha của tất cả, ông

hoàng của tất cả; chiến tranh tạo nên các vị thần và con người, tạo nên kẻ nô lệ và

người tự do 45 Thật khó giải thích vì sao con người lại hòa hợp được những cái

trái ngược nhau trong chính mình Đó là hòa hợp của các trạng thái đối lập nhau,

như đàn vĩ và đàn lia 46 Sự đối lập đó (rỏ ra) tốt cho chúng ta 51 Những con lừa thích rơm hơn vàng 52 Nước biển vừa tinh khiết nhất, lại vừa bẩn nhất Với

cá nước biển uống được và rất tốt, nhưng với người thì không uống được và độc

hại 57 Cái thiện và cái ác là một 64 Tất cả những gì đang tồn tại cũng có thể được hiểu là đang chết 67 Những cái khả tử bất tử, những cái bất tử khả tử, vật này sống nhờ cái chết của vật kia, và chết - cho sự sống khác 79 …quyền hành thực sự đang nằm trong tay thời gian 81 Chúng ta vừa tồn tại, vừa không tồn tại 91b …tất cả luật lệ của loài người đều bắt nguồn từ luật lệ của thần linh 98 - 99

(diễn ý) Con người khôn ngoan nhất cũng chỉ đáng xem là con khỉ không đuôi sovới thần linh Tương tự như vậy, con khỉ đẹp nhất cũng trở nên xấu xí so với con

người 100 Con người phải đấu tranh cho luật pháp như cho ngôi nhà của mình.

118 Kẻ tưởng rằng mình đã hiểu biết mọi thứ là kẻ giả dối với những chứng cứ giả dối 129 - 130 (diễn ý) Thật vô ích khi người ta thanh tẩy mình bằng máu.

Điều đó cũng giống như một người bước xuống hố bùn để rữa chân mình chosạch Chỉ có kẻ điên rồ mới làm như thế

b) Biện chứng dưới hình thức phủ định của trường phái Êlê

Đại biểu đầu tiên của trường phái Êlê(Elea, là tên một đô thị ven biển miền

nam nước Ý hiện nay, nơi khai sinh trường phái), theo Platôn, là Xênôphan

(Xenophanes, khoảng 570 - 478 TCN), người phác thảo những đường nét ban sơ

Trang 24

của nguyên lý vạn vật đồng nhất thể Trong tác phẩm chính của mình - Những lời châm biếm - Xênôphan lên tiếng chống lại tất cả những nhà thơ và triết gia, từ

Hôme, Hêxiốt đến Talét Ong vạch ra cơ sở tâm lý của tôn giáo, nhấn mạnh rằngcon người khả tử tưởng tượng ra các vị thần giống như họ, cũng có áo quần, giọngnói, hình thức như ho, và xem các vị thần như biểu hi65n của cái Tuyệt đối, mục

đích cao cả của cuộc sống (xem The Portable Greek Reader, N Y, 1967, p 68 69) Cùng với nguyên lý “vạn vật đồng nhất”, Xênôphan còn là người đầu tiên

nêu ra vấn đề khả năng và giới hạn của nhận thức Pácmênhít (Parmenides, 540

-470 TCN), Dênông (Zenon, 490 - 430 TCN) và đông đảo học trò kế tục, phát

triển và hoàn thiện nguyên lý này, lấy học thuyết của Hêraclít làm đối tượng phêphán chủ yếu Ở góc độ bản thể luận cách tiếp cận của trường phái Êlê Ảnhhưởng đến hàng loạt tên tuổi lớn của triết học về sau như Empeđốc, Đêmôcrít,Platôn, Arixtốt…trong việc giải quyết vấn đề bản chất của tồn tại

Cơ sở phê phán của trường phái Elê đối với Hêraclít chính là quan niệm

“mọi thứ đều tuôn chảy” Thực ra con người đứng trước vũ trụ rộng lớn luôn khaokhát nhận thức nó trong tính chỉnh thể, trong sự trọn vẹn đủ đầy của nó, chứkhông phải để khẳng định rằng nó đang “tuôn chảy” Muốn nhận thức sự vật, cần

“chặn” dòng chảy ấy để xác định diện mạo, đặc tính của những gì trong tầm nhận thức của chúng ta Một cách ngắn gọn, sự phê phán của trường phái Elê đối với

Hêraclít không chỉ là vấn đế bản thể luận, mà còn là, và có lẽ trước hết là, vấn đề

nhận thức luận: đối với con người nói chung cần phải trả lời câu hỏi “nó là gì ?”, tiếp đó (hay cùng lúc) - “nó như thế nào ?” Không xác định diện mạo của cái

đang tồn tại thì ý tưởng tiếp theo trở nên vô giá trị, thậm chí biểu thị sự bất lựccủa chủ thể hoạt động và nhận thức Tuy nhiên Pácmênhít sửa chữa Hêraclít theo

một thái cực khác, thể hiện ở ba luận điểm sau: một la, hãy hình dung thế giới như

một quả cầu vật chất đóng chặt, nén đầy, không còn chỗ trống; không thể có vận

động (chuyển dịch), bởi lẽ tất cả đã được lấp đầy, tương tự - không có cái gọi là không gian rỗng, phi vật thể Hai là, luận điểm về tính đồng nhất tư duy - tồn tại Mọi ý tưởng luôn luôn là ý tưởng về cái đang-tồn-tại; không tồn tại cái không- tồn-tại Chỉ cái đang-tồn-tại mới là đối tượng của nhận thức Tồn tại và tư duy

đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như kết quả Tồn tại có, hư vô không

Ba là, bác bỏ chuyển hóa, sinh thành, diệt vong, bởi lẽ chúng giả định khả năng

của cái không-tồn-tại Tóm lại, ba đặc tính của tồn tại là toàn vẹn thống nhất,không sinh không diệt, bất biến bất phân Nhận thức được ba luận điểm ấy, chúng

ta bước đi trên con đường chân lý, ngược lại - con đường thường kiến TheoPácmênhít, có hai thứ triết học - một thứ hướng đến chân lý, một thứ hướng đến

thường kiến Con đường chân lý dựa vào lý trí để khám phá tồn tại vĩnh cửu bất biến, còn con đường thường kiến xuất phát từ cảm giác để nắm bắt thế giới luôn

biến đổi, nhất thời, hư ảo Hai con đường ấy dẫn dắt con người đi tới nhận thứchai thế giới khác nhau: thế giới bất biến, lý tưởng của tồn tại đích thực và thế giớihữu hình, khả biến của cảm giác

Dênông, học trò của Pácmênhít, cụ thể hóa và phát triển nguyên lý “vạn vậtđồng nhất thể” và nguyên lý “vạn vật bất biến” bằng phương pháp trưng dẫn chânlý (epicherema) và nghịch lý (aporia) Trong số hơn 40 nghịch ly của Dênông,

Trang 25

lịch sử còn lưu lại 4 aporia điển hình, và được phân thành hai nhóm; nhóm thứnhất đề cập đến tính thống nhất, duy nhất của tồn tại, nhóm thứ hai - tính bất biến

của tồn tại Aporia “Sự phân đôi” có thể tóm tắt như sau: một vật bất kỳ muốn

vượt qua đoạn đường từ A đến B trước hết phải vượt ½ của AB, mà muốn vượt ½của AB, nó phải vượt ½ của ½ ấy, cứ thế đến vô cùng Không thể tìm ra khởiđiểm của vận động, do chỗ bản thân sự phân đôi không đem đến một kết thúc khảhữu Cứ cho rằng khi phân đôi ta thu được hai nửa của AB, nhưng mỗi nửa của

AB, về phần, ình, là một cái toàn vẹn mới, và vật thể vận động cứ phải vượt qualần lượt những cái toàn vẹn ấy mãi vẫn không hết Zenon đi đến kết luận rằng, thứnhất, do chỗ không gian (“ở đây”) và thời gian (“bây giờ”) là cái liên tục tuyệtđối, nên không bao giờ đặt ra một sự phân chia, nếu có phân chia thì phân chiađến vô cùng; thứ hai, do chỗ không gian là liên tục, nên những khoảng phân chiacủa không gian thực ra là những khoảng phân chia quy ước Có thể cắt đôi khúc

gỗ, nhưng không thể cắt đôi không gian được Cắt đôi không gian để tìm khởi

điểm của vận động (chuyển dịch), do đó, là sai lầm về mặt lôgíc tư duy, kết quả

của nhận thức cảm tính Aporia “Achille và con rùa” nói rằng lực sỹ Achille

không thể đuổi kịp con rùa, dù chạy nhanh và tỉnh táo, vì đã chấp nó một quảngđường Theo lập luận của Zenon lôgíc của vấn đề là ở chỗ, khi Achille đạt tớiđiểm xuất phát của con rùa trước đó, thì con rùa đã không còn ở đó nữa, mà tiếnthêm được quảng đường ngắn một cách chậm chạp Cứ thế Achille đuổi mãi theocon rùa, nhưng mỗi lần đến điểm cũ của rùa, thì rùa đã dịch chuyển khỏi nơi đó.Thử quy ước B là vật chạy nhanh, A - vật chạy chậm hơn B hai lần, B chấp A mộtquảng, thể hiện bằng hình Ảnh dưới đây:

c d e f g

B A

Khi B vượt được quảng đường cd, thì A trong khoảng thời qian ấy vượt đượcquảng de; khi B vượt de, thì A đã đi tiếp quảng ef v v Như vậy vật chạy nhanhhơn cũng không đuổi kịp vật chạy chậm hơn, và trong trường hợp này vận độnghóa ra là vô nghĩa !

Aporia “mũi tên bay”cho thấy sự tài tình trong lập luận của Zenon Mũi tên

bay kỳ thực là không bay, vì lẽ vật đang bay luôn luôn “bây giờ” và “ở đây” bằngvới chính mình Trong “bây giờ” và “ở đây” mũi tên vẫn thế, không sinh thành,không chuyển hóa, mà được cấu thành từ những yếu tố không phân chia Để mũitên bay được trong mỗi khoẢnh khắc thời gian nó phải vừa nằm ở một vị tríkhông gian, vừa không nằm ở đó Nhưng điều này khó mà chấp nhận được

Trong aporia “vận động trường” Zenon giả định tình huống có ba hàng vật

thể AB, CD, EF bằng nhau; hàng AB đứng im, CD và EF chuyển dịch cùng mộtvận tốc, song song với AB, nhưng trái chiều nhau Để cả ba cùng ngang bằngnhau, CD vượt qua hai lần cùng những vật thể của hàng AB và EF Như vậy ởtrường hợp này “một nửa bằng toàn thể” Ví dụ khác, từ cùng một điểm xuất phátvật A chuyển dịch 2m về hướng Đông, vật B chuyển dịch cùng ngần ấy đoạn

đường về hướng Tây, kết quả sẽ tạo ra khoảng cách 4m Nhưng nếu một vật

chuyển dịch lên phía trước 2m, rồi sau đó lui về phía sau 2m, thì trên thực tế vật

Trang 26

ấy klhông rời khỏi vị trí, mặc dù nếu làm phép cộng ta sẽ có 4m Ở trường hợpnày vận động bằng không [0], vì hai vận động ngược chiều thủ tiêu nhau

Tất cả những ví dụ trên chứng minh rằng thừa nhận vận động là điều phi lý;nó chỉ là kết quả của cảm giác, chứ không phải của suy lý đúng Hai aporia đầucủa Zenon chỉ ra rằng nếu không gian được phân chia đến vô cùng, thì vận độngkhông thể bắt đầu và không thể kết thúc, nghĩa là không có vận động Hai aporiacuối chứng tỏ, ngay cả khi tính đến sự gián đoạn của không gian thì không thể cóvận động, bởi lẽ vận động không nên được xem như tổng số các trạng thái (điểm)cố định

Thực chất của các luận chứng bác bỏ quan niệm về tính vận động phổ biến là

gì ? Thoạt nhìn, người ta kết án Parmenides và Zenon đã rơi vào phép siêu hình tự phát, tức phương pháp giải thích thế giới trong trạng thái cô lập, ngưng đọng, bất

biến, không xem xét nó như một quá trình Tuy nhiên cần thấy rằng ngay trongquan niệm “mọi thứ đều chảy” Heraclitos đã chỉ chú trọng đến tính tuyệt đối của

vận động, mà không dành chỗ cho sự phân tích tính tương đối của đứng im, của

việc tìm hiểu kết cấu vật chất của sự vật, trạng thái cân bằng có điều kiện của nó.Các nhà triết học của trường phái Elea nhận ra sơ hở này của Heraclitos Từ cáchtiếp cận “vạn vật đồng nhất thể” họ đóng vai trò là người phản biện đối vớinguyên lý “vạn vật biến địch”; kết cuộc họ rơi vào thái cực khác Điều cần cânnhắc là ở chỗ trong quá trình tranh luận về bản chất của thế giới giữa một bên lànhà triết học cô đơn xứ Ephese và một bên là trường phái Elea hùng mạnh bài họcquý giá nào được rút ra cho những người kế tục

Quay lưng lại hoàn toàn với Hêraclít, Pácmênhít và Dênông muốn bảo vệ cáiđơn nhất chống cái đa tạp, tồn tại chống hư vô, bất biến chống khả biến, liên tụcchống gián đoạn Yếu tố biện chứng trong quan điểm của trường pháiÊlê, nếu cóthể nói như vậy, thể hiện ở phương diện nhận thức luận, và phần nào mang ýnghĩa của biện chứng chủ quan, của nghệ thuật đối thoại, tranh biện, phản bác đốithủ, dồn đối thủ vào tình thế khó khăn, lúng túng, nghệ thuật trau chuốt ngôn từ,đánh bóng những khái niệm Dẫu sao bài học của lý luận nhận thức đã được rút ra

từ các luận chứng về tồn tại của Pácmênhít và các aporia củaDênông, đó là: nhậnthức là một quá trình phức tạp, quanh co, nan giải, đầy chông gai, “nghịch lý”,đầy mâu thuẫn, vì thế không thể chấp nhận lối giải thích đơn giản, một chiều vềcác sự vật, hiện tượng mà con người nắm bắt chỉ nhờ vào các cảm giác rời rạc,theo “con đường thường kiến” Hơn nữa, dưới hình thức phủ định, phản bác, cácaporia của Dênông buộc người ta phải tìm ra câu trả lời xác đáng về mối quan hệgiữa vận động và đứng im, giữa liên tục và gián đoạn, giữa hữu hạn và vô hạn.Arixtốt nhận ra sự thách đố trí tuệ của Dênông khi lưu ý rằng Achille có thể đuổikịp con rùa, và có thể không đuổi kịp con rùa, nếu ta áp đặt một cách tính Nóicách khác, các aporia thực sự kích thích tư duy, khuyến khích tinh thần hoài nghi,tranh luận, đi tới chân lý, “đem đến một lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển toánhọc, lôgíc học cổ đại, đặc biệt quan trọng là phép biện chứng, bởi lẽ chúng vạch ranhững mâu thuẫn trong các khái niệm cơ bản của khoa học về không gian, đa thểvà vận động, hơn nữa còn thúc đẩy việc tìm kiếm những phương thức khắc phục

các nan giải thường gặp” (Tóm lược lịch sử triết học Moskva, 1981, tr 61 (tiếng

Trang 27

Nga)

II Triết học thời cực thịnh

1 Nền dân chủ chủ nô và sự tác động của nó đếb sinh hoạt tinh thần của

xã hội

Nền dân chủ chủ nô của Hy Lạp chính thức được khẳng định và phát triểnrực rỡ vào nửa sau thế kỷ V TCN, nhưng những cải cách dân chủ đã được bắt đầungay từ đầu thế kỷ VI TCN, gắn liền với tên tuổi của Sôlon Trong nền dân chủchủ nô tại Aten quyền lực tối cao thuộc về Hội nghị công dân (ekklèsia), tương tựnhư Nghị viện hoặc Quốc hội ngày nay Người Hy Lạp gọi kiểu nhà nước đó là

Dân chủ (Demokratia, sự kết hợp và giản lược từ “dèmos” nhân dân, kratos

-quyền lực, tức -quyền lực của nhân dân) Nền dân chủ Aten được coi là hình thứccai trị ưu việt nhất trong thế giới cổ đại Pêriclét, nhà lãnh đạo cao nhất của Atenthế kỷ V, tuyên bố:”Chế độ nhà nước của chúng ta không bắt chước những thiếtchế xa lạ; chính chúng ta mới là mẫu mực cho người khác noi theo, chứ khôngngược lại Chế độ ta là dân chủ, vì nó được xây dựng không trên thiểu số, mà trên

đa số các công dân” (V I Kudixin: Lịch sử Hy Lạp cổ đại Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1988, tr 164, tiếng Nga) Các khái niệm “dân chủ”, “công dân” đều là

phát minh của người Hy Lạp Nền dân chủ đã tạo nên sự khởi sắc trong đời sốngkinh tế, văn hóa của xã hội Thế kỷ V TCN Aten là thị quốc giàu có nhất Hy Lạpvới một nền sản xuất hàng hóa phát triển, có đội thương thuyền mạnh, làm chủ cảvùng đại dương rộng lớn Lao động nô lệ được sử dụng như lực lượng sản xuấtchủ yếu trong tất cả các ngành Thế kỷ V - IV TCN là thời kỳ cổ điển của văn hóa

Hy Lạp với tính đa dạng, xu hướng nhân bản và tự do, thể hiện trong văn chương,nghệ thuật, triết học, khoa học và các bộ phận cấu thành khác Trong văn chươngthể loại bi kịch, hài kịch, anh hùng ca đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Chủ nghĩa

Hy Lạp, biểu tượng cho tinh thần đặc trưng của người Hy Lạp, được các nhànghiên cứu văn chuơng, lịch sử nhắc đến, chủ yếu dựa trên các thông số này.Người Hy Lạp cũng tạo ra nhiều phát minh có giá trị trong hoạt động khoa học.Thiên văn, toán học, vật lý, y học cổ đại in đậm dấu ấn Hy Lạp Trong nghệ thuậtkiến trúc và điêu khắc người Hy Lạp đã xây dựng những công trình mang phongcách Iôríc, Iônic, Côrintien, những tác phẩm điêu khắc về các vị thần, tôn vinhsức mạnh cơ bắp và vẻ đẹp huyền diệu của con người Các kịch trường Hy Lạphầu như dành chỗ cho tất cả cư dân thị quốc với sức chứa không dưới chục ngànngười

Những đột phá của người Hy Lạp trong văn hóa góp phần tạo nên “vòngtròn” (xoắn ốc) đầu tiên, năng động của sự phát triển lịch sử toàn thế giới Saunày Xixêrôn (Ciceron, Cicero) đã đúc kết thành quả của văn hóa Hy Lạp bằngmột từ đầy ý nghĩa - nhân tính (humanitas)

Sau thời kỳ tồn tại và phát triển hưng thịnh, nền dân chủ chủ nô bộc lộ dầnnhững mặt trái của nó “Một đằng thì người Hy Lạp đã khám phá, hay phát minh

ra dân chủ, kịch nghệ, triết lý, nhưng đằng khác họ lại bo bo giữ lấy những nghi

lễ, tín ngưỡng cổ hủ và không tránh được nội chiến Người Aten chuộng tự do màlại xử tử Xôcrát Tuy họ đưa ra thuyết “tri bỉ” và thuyết trung dung, thực hiện

Trang 28

được những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàndiện con người về thể xác cũng như về trí tuệ, họ thường tỏ ra khinh mạn con

người…Ngạo mạn đã mang hình phạt tời cho họ” (C Brinton, J Christopher, R Wolff: Văn minh Tây phương, t 1 người dịch Nguyễn Văn Lượng; tủ sách Kim Văn, Sài Gòn, 1971, tr 83)

Sự khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô xuất phát từ những nguyên nhânbên trong, từ chính bản chất của nó Đó là hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp vàkhép kín, chỉ dành cho dân tự do, tức công dân, lúc ấy có khoảng 30 - 40 ngànngười trong số hơn 250 - 300 ngàn người, bằng một phần mười dân số Bị tướcquyền làm người, trong suốt nhiều thế kỷ người nô lệ liên tục nổi lên chống giaicấp chủ nô, dẫn đến sự suy yếu chế độ chiếm hữu nô lệ Giữa các tầng lớp dân cưtự do cũng nảy sinh mâu thuẫn trong việc phân chia tài sản, nô lệ, tranh giànhquyền lực Mâu thuẫn tiếp theo là mâu thuẫn giữa người Hy Lạp “chính gốc” vàdân nhập cư, kết quả của việc mở rộng lãnh thổ Cuối cùng, mâu thuẫn giữa cácthị quốc đã dẫn đến những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, làm suy yếu thếgiới Hy Lạp Người Hy Lạp đã từng đoàn kết với nhau trong Liên minh Đềlốt(Delos) để đánh đuổi quân xâm lược Ba Tư Nhưng sau chiến thắng giữa các thịquốc nảy sinh những rạn nứt nghiêm trọng, đưa đến sự hình thành hai liên minh -liên minh Aten và liên minh Pêlôpônét (Peloponnes) do Xpáctơ (Sparta) đứngđầu Năm 431 TCN bắt đầu cuộc chiến tranh giữa hai liên minh Các năm 430 -

428 nạn dịch giết chết một phần tư dân số Aten, kể cả Pêriclét (Pericles) Năm 411TCN nền dân chủ bị thay bằng chế độ thiểu số thống trị, nằm trong tay Hội đồng

400 , Năm 404 TCN sau nhiều tháng bị cây hãm Aten tuyên bố đầu hàng Xpáctơthay Aten kiểm soát thế giới Hy Lạp Tại một số thị quốc khác của người Hy Lạpnền dân chủ vẫn tiếp tục được duy trì, song có nơi thì tỏ ra lỏng lẻo, có nơi bị biếnthành “trò chơi dân chủ”, mị dân, nhằm phục vụ mục đích của các tập đoàn thốngtrị Các nhà tư tưởng lớn của Hy Lạp như Platôn, Arixtốt đều phê phán nền dânchủ, đòi hỏi thay thế nó bằng các hình thức nhà nước khác Phải đến hai mươi thế

kỷ sau nền dân chủ mới được nhắc đến và vận dụng vào đời sống chính trị trongđiều kiện lịch sử đã hoàn toàn khác

2 Empeđốc, Anaxago và sự giải thích mới về bản nguyên thế giới

Các nhà duy vật thời sơ khai giải thích nguyên nhân thế giới dựa trên các yếutố vật chất cụ thể hoặc giả định (đất, nước, lửa, khí, apâyrôn) Đó là phương án

“nhất nguyên” của chủ nghĩa duy vật cổ đại Tuy nhiên phương án đó không thỏamãn khao khát nhận thức thế giới của người Hy Lạp vì thiếu tính khái quát vàkhông phù hợp với bức tranh về tự nhiên Phương án “nhất nguyên” được thaybằng phương án “đa nguyên”, mà Empeđốc và Anaxago là những người mở đầu

Empeđốc (Empedocles, 490 - 430 TCN) sinh tại Agơrigen, đảo Xixin Ông là

nhà hùng biện, nhà tu từ học, nhà thơ, bác sỹ, kỹ sư, đồng thời là người ủng hộnhiệt thành nền dân chủ chủ nô, căm ghét chế độ độc tài, vì vậy về cuối đời bịphái qúy tộc chủ nô, sau khi lên nắm quyền, trục xuất sang Pêlôpônét, mất tại đó,vừa kịp chứng kiến cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa các thị quốc HyLạp Ông chọn cái chết theo lối “trở về kiếp xưa” để khỏi nhìn thấy cẢnh giết

Trang 29

chóc, trả thù lẫn nhau của đồng loại Quần chúng dựng tượng ông để tỏ lòng kínhtrọng người con của quê hương

Trong bản thể luận Empêđốc cố gắng hợp nhất trường phái Milê, Hêraclít và

trường phái Elê trong quan niệm về bản nguyên thế giớiỞ các nhà duy vật thời sơkhai bản nguyên thế giới được quy về một trong các yếu tố vậ chất, không có sựchuyển hóa vào nhau Điều này, theo Empeđốc, là là thiếu sức thuyết phục, vì thứnhất, sự thể hiện sinh động thế giới các sự vật chứng tỏ các hành chất (đất, nước,lửa, khí) là những yếu tố đồng cấp; thứ hai, nếu xem một trong các hành chất làbản nguyên thì việc giải thích các chu kỳ phức tạp trong vũ trụ sẽ trở nên bế tắc

Để khắc phục hạn chế đó Empeđốc đưa ra cùng lúc bốn hành chất vừa nêu nhưbốn cội nguồn của vạn vật, chỉ ra chu kỳ vận động, biến hóa của chúng Sự kếthợp các hành chất theo các tỷ lệ khác nhau tạo nên các sự vật khác nhau Chẳnghạn, xương gồm hai phần nước, hai phần đất, bốn phần lửa; thần kinh - hai phầnnước, một phần đất, một phần lửa, máu - pha đều các hành chất Empedocles chorằng mình đã giải quyết xong bài toán về tính đa dạng trong sự thống nhất của thếgiới, một bài toán mà Hêraclít (vạn vật biến dịch) và trường phái Elê (vạn vậtđồng nhất thể) đưa ra các đáp số đối lập nhau

Tồn tại xét như quá trình, như quan hệ giữa các sự vật, được Empeđốc diễn

đạt bằng cặp khái niệm Tình yêu - Thù hận, động lực của sự hợp nhất và tách biệt.

Philia - Tình yêu là sự hợp nhất, hay hòa lẫn các yếu tố khác nhau vào trong một,là bản nguyên của cái Thiện Neikos - Thù hận, là tách biệt cái hợp nhất thànhnhững yếu tố, cắt rời chúng,là cơ sở của sự đa tạp và cái Ac Trong vũ trụ diễn rathường xuyên sự thay thế nhau giữa Tình yêu và Thù hận, giữa hợp nhất và táchbiệt Quá trình ấy cũng chi phối đời sống sinh thể, từ sinh thể đơn giản đến con

người Tính biện chứng tự phát trong việc lý giải sự sống được thể hiện qua quan

hệ Tình yêu - Thù hận, theo các nấc thang từ bộ phận đến toàn thể, từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp: 1) Những sinh vật đơn giản, có một giác quan,sống dưới nước (khởi điểm Tình yêu) 2) Những sinh vật có cơ cấu phức tạp dần,nhưng không hoàn chỉnh, với những hình thù quái dị (Thù hận chớm nở) 3) Sinhvật bị dồn ép, không sinh sôi nảy nở được (Thù hận ngự trị) 4) Thực vật, độngvật, con người xuất hiện một cách trật tự, hài hòa, bằng con đường hợp nhất cáikhông đồng nhất và tách rời hợp lý cái hợp nhất, đào thải và nhân giống (Tình yêuchiến thắng)

Trong lý luận nhận thức Empêđốc cho rằng đối tượng cao nhất của nhận

thức là cái toàn thể, cái mà mắt không nhìn thấy, tai không nghe thấy, lý trí khôngbao quát hết Nhận thức là quá trình thống cảm tính và lý tính Lý tính sâu sắchơn, nhưng cảm tính hiện thực hơn, là nguồn gốc của nhận thức cái toàn thể.Khác với Pácmênhít, là người xem nhẹ vai trò của cảm giác, Empêđốc cho rằng tưduy và cảm giác nương tựa, bổ sung cho nhau, thậm chí trong nhiều trường hợpchúng là một

Triết học Empêđốc là sự dung hợp chủ nghĩa duy vật tự phát và thuyết nhân hình nguyên thủy, vận dụng các đặc tính tâm lý, tình cảm của con người (tình yêu,

Trang 30

thù hận) vào việc giải thích quá trình vũ trụ Ông cũng chịu Ảnh hưởng của thuyếtluân hồi, vốn phổ biến trong triết lý phương Đông Ông giải thích nhiều về sự đầuthai của linh hồn, về sám hối, thanh tẩy, số kiếp, về vòng luân chuyển triền miêncủa tồn tại như sự thử thách của thần linh:”Xưa ta là đứa trẻ vị thành niên, cũngcó thể là thiếu nữ, thậm chí là cây cỏ, chim muông, là cá của đại dương câm lặng”

(Empêđốc, Thanh tẩy, câu 117)

Anaxago (Anaxagoras, 500 - 428 TCN) sinh tại Cladômen, xứ Iônia, miền

Tiểu Á, đến Aten theo đề nghị của Periclét, trở thành vị quân sư cho nhà lãnh đạonày Song quan điểm tự do, có tính chất báng bổ thần linh, đã khiến 6ng suýt bỏmạng, nếu không có sự can thiệp của Periclét Bị đuổi khỏi Aten, Anaxago về quêmở trường dạy học Sau khi ông qua đời cư dân Cladômen dựng bia tưởng niệm,lấy ngày giỗ hàng năm của ông làm ngày nghĩ của học sinh

Vấn đề bản thể luận chiếm vị trí trung tâm trong triết học Anaxago, được ông trình bày trong tác phẩm Về tự nhiên, ở đó nhấn mạnh sự chuyển hóa về chất của các sự vật Dù thừa nhận tư tưởng nền tảng của trường phái Elê về tồn tại

(không có gì xuất hiện từ hư vô), song Anaxago bác bỏ cái gọi là tồn tại duy nhất,

bất biến do Pácmênhít nêu ra (xem Anaxago: Về tự nhiên, câu 17) Bản nguyên,

theo Anaxago, là những phần tử bé nhất, siêu cảm giác của các trạng thái vật chất(lửa, nước, vàng, máu…), những thứ mà Anaxago gọi là những hạt giống của

muôn vật, những mầm sống, hay “những chất đồng nhất”, homoiomeria (xuất

phát từ tiếng Hy Lạp cổ homoios là sự tương đồng) Những hạt giống của máuchứa đựng tất cả chất của máu như chất trội, chất căn bản, để ta gọi là máu.Tương tự như vậy với sắt, đồng… Hạt giống vĩnh cửu, bất biến, nhưng các sự vậtliên kết với nhau, chuyển hóa vào nhau bằng con đường kết hợp và phân tích theonguyên tắc “mọi thứ trong tất cả, và trong tất cả có một phần của tất cả” Người takhông thể dùng rìu mà cắt rời nóng khỏi lạnh, lạnh khỏi nóng, càng không thểdùng sức mạnh phá vỡ toàn thể vũ trụ như một khối thống nhất, bao gồm v6 sốcàc sự vật, hiện tượng liên kết với nhau, hút nhau hoặc đẩy nhau, đan xen nhau.Tồn tại thống nhất, nhưng không thống nhất tuyệt đối như cách hiểu của trườngphái Elê Sự vật thống nhất trong tính toàn vẹn, nhưng những yếu tố cấu thànhchúng hết sức đa tạp Sự vật vừa vô cùng lớn, vừa vô cùng bé, vì “không có cái bénhất, chỉ có cái bé hơn và bé hơn nữa” Tuy nhiên quan niệm về chuyển hóa củaAnaxago không phải là tư tưởng biện chứng thực sự về thế giới, vì ông bác bỏ sự

chuyển hóa thường xuyên của các mặt đối lập Ông nhấn mạnh:”Cái đồng nhất

xuất phát từ cái đồng nhất, không thể có sự chuyển hóa vào mặt đối lập”

(Hêghen: Toàn tập, t 9, Nxb Chính trị, Mátxcơva, - Lêningrát, 1934, tr 331, tiếng Nga) Mọi sự thay đổi đối với Anaxago chỉ là sự kết hợp và tách rời những cái

đồng nhất, còn sự thay đổi đích thực thì bị coi như sự phủ định chính mình Ôngchỉ biết rằng “thịt chuyển thành thịt, vàng chuyển thành vàng, còn mọi sự kết hợpkhác chỉ là một conglomeratus (kết hợp) gượng ép, vô trật tự, chứ không phải là

phép cấu thành sống động” (Hêghen, sđd, t 9, tr 331)

Cũng như Empeđốc, Anaxago cần đến một bản nguyên tinh thần làm động

lực cho quá trình thế giới Bản nguyên đó là Nous, hiểu như trí tuệ bên ngoài, tác

động đến vạn vật, khởi động và nhận thức thế giới, làm cho thế giới trở nên hoàn

Trang 31

chỉnh, thoát khỏi trạng thái hỗn động ban đầu Theo nghĩa hẹp nous là trí tuệ, trínăng, nhưng ở Anaxago nó được lý giải như bản chất tuyệt đối, đơn giản, duynhất, vô hạn, tồn tại trong tất cả, mà lại không hòa lẫn với bất lỳ sự vật nào, là cáitinh khiết giữa lòng vạn vật, hiểu biết và thâu tóm tất cả, chi phối quá khứ, hiệntại, tương lai, làm cho thế giới trở nên một chỉnh rhể sống động Nous - Trí tuệ vũtrụ Nous là khái niệm nền tảng dùng để lý giải quá trình tự nhiên Trước tiênNous đưa hỗn hợp vật chất từ trạng thái hỗn mang vào vận động theo vòngtrònCái lỏng lẻo tách khỏi cái đông đặc, nóng tách khỏi lạnh, sáng tách khỏi tối,khô tách khỏi ướt Những gì đông đặc, ẩm ướt, tối và nặng tích tụ lại ở trung tâm

vũ trụ, hình thành nên Trái đất Những gì lỏng lẻo, khô, sáng, nhẹ và nóng thì nổilên trên, tạo ra bầu trời Ete, vốn hình thành trước đó, ôm lấy vũ trụ (Aither trong

từ nguyên Hy Lạp được hình dung như tầng khí sáng rực trên cùng, nơi các vịthần cư ngụ Trong triết học Hy Lạp cổ đại có hai cách hiểu về Aither: yếu tố vậtchất ban đầu, hoặc vận động vĩnh cửu) Sự vận động tiếp theo làm cho đá táchkhỏi đất Đá bốc cháy, tạo nên các vì sao, Mặt trăng, Mặt trời Mặt trời là mộtkhối sắt, hay đá, bị đốt nóng, có kích thước to hơn xứ Pêlôpônét Bầu trời dày đặtnhững khối đá, bám vào nó nhờ vận động theo vòng tròn với tốc độ cực lớn, songkhông sớm thì muộn cũng sẽ rơi, mà bằng chứng là những thiên thạch vẫn rơi đềuđều, từ năm này sang năm khác Nếu vận động dừng lại Trái đất sẽ bị vùi lấp bởitất cả những thiên thạch cùng rơi một lúc Mặt trăng có những đặc tính gần nhưTrái đất, cũng có bình nguyên, núi đồi, thung lũng, vực sâu, có cả cư dân nữa Tráiđất có dạng mặt phẳng, bồng bềnh trôi trên không khí, chứ không phải trên nướcnhư Talét nghĩ Như vậy dù nói đến bản nguyên Nous, song sự phân tích tiếp theocủa Anaxago lại làm sáng tỏ “nguyên nhân tự nhiên” của thế giới Xôcrát phànnàn:”Thực tế càng đọc nhiều tôi càng thấy một người (Anaxago) không đếm xỉa

gì đến Thần tính, hơn nữa không gán cho thần tính một vai trò nào trong cácnguyên nhân riêng biệt của tổ chức các sự vật… khiến cho ta phải chưng hửng”

(Platôn Phêđôn, bản dịch của Trịnh Xuân Ngạn, Nxb Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1961, tr 249) :

3 Nguyên tử luận duy vật

Nguyên tử luận là chương mới trong triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đai,

do Lơxíp (Leucippos, 500 - 440 TCN) sáng lập, Đêmôcrít (Democritos, 460 - 370

TCN) phát triển, Vào thời kỳ Hy Lạp hóa Epiquya (Epicuros, 342/341 - 271/270

TCN) điều chỉnh và nhân bản hóa theo xu hướng thống nhất với duy cảm luận,chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa khoái lạc

Đêmôcrít sinh tại Apđerơ (Abdere), thuộc xứ Tơraxơ (Thrace) Dù lớn lêntrong gia đình giàu có, nhưng Đêmôcrít từ bỏ cuộc sống an nhàn để chu du khắpnơi Ông từng có mặt ở Ai Cập, Ba Tư, An Độ, Babilon, tiếp thu nhiều kiến thức

bổ ích về toán học, thiên văn Trở lại Hy Lạp, ông đến Aten, tham dự các buổithuyết giảng của Anaxago, gặp gỡ Xôcrát, nhưng không tán thành quan điểm của

ai cả Đêmôcrít viết khoảng hơn 70 tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm còn

được lưu giữ qua những trích đoạn như Về tư6 nhiên, Về lý trí, Về trạng thái cân bằng của tinh thần, Về bản tính con người, Về hình học, Về nhịp điệu và hòa hợp,

Về thi ca, Về hội họa, Về binh nghiệp, Về khoa chữa bệnh …

Trang 32

Ở khía cạnh bản thể luận thuyết nguyên tử được xây dựng trên cơ sở thừa nhận nguyên tử, với tính cách là tồn tại, và khoảng không, hay hư không, hư vô, là những bản nguyên thế giới Arixtốt viết về cách hiểu này trong Siêu hình học:”…

Lơxíp và người kế tục ông, Đêmôcrít, thừa nhận cái đầy đặn - nén chặt và cáitrống rỗng - phân tán như những bản nguyên, một gọi là tồn tại, một gọi là khôngtồn tại…[rằng cái tồn tại tồn tại không nhiều hơn cái không tồn tại, cũng do vậynên vật thể tồn tại không nhiều hơn khoảng không], còn nguyên nhân vật chất của

cái đang tồn tại thì họ quy về cái này lẫn cái kia” (Arixtốt Siêu hình học, Q 1, chương 4, 985b 4 - 9)

Ý tưởng về các nguyên tử như những phần tử bé nhất, không phân chia

(atomos theo tiếng Hy Lạp là cái bé nhất, không phân chia được nữa), khôngxuyên thấu, bất biến, không phẩm tính, siêu cảm giác, bền vững và vĩnh cửu, tạonên cơ sở của mọi tồn tại cụ thể, đồng thời cũng chính là tồn tại, không ngẫunhiên xuất hiện, mà gắn liền với những quan sát trực tiếp và suy đoán của các triếtgia về các biến đổi diễn ra ở các sự vật, các hiện tượng xung quanh con người,chẳng hạn sự đông đặc và nóng chảy, sự ăn mòn, sự bốc hơi …Có vô số các hiện

tượng diễn ra mà ta không nhìn thấy, nhưng chúng có khắp mọi nơi, làm nên tính phổ biến của vũ trụ Trực quan sinh động và suy tư triết học đã đưa các nhà nguyên tử luận đến quan điểm sau: sự khác nhau của các nguyên tử về hình dáng, kích thước, trật tự, vị trí …là sự lý giải đầy đủ và xác đáng nhất tính đa dạng của thế giới vật chất Đêmôcrít xem vận động là thuộc tính của các nguyên tử, nó vĩnh

cửu và không do ai sinh ra, cũng như các nguyên tử Các nguyên tử vận độngtrong không gian, chúng “bay lượn như những hạt bụi li ti, mà ta thường nhìn thấydưới nắng mai”, “chúng va chạm nhau, đẩy nhau, rồi lại xoắn vào nhau, tan hợphợp tan theo những trình tự nhất định, tạo ra những hướng vận động trái chiều

nhau” (Hợp tuyển triết học thế giới, t 1, phần 1, Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1989,

tr 311, tiếng Nga) Tuy nhiên Đêmôcrít chưa phân tích sự tự vận động, nguyên

nhân tự thân của vận động vật chất, do đó bị Arixtốt phê phán, một sự phê phán,như ta biết, cũng chỉ nhằm chứng minh cho “Động cơ đầu tiên”, tức Thượng đế

Quan niệm về nguồn gốc vũ trụ và sự sống được giải thích trên cơ sở thuyết

nguyên tử Vũ trụ là cái toàn thể rộng lớn, do các nguyên tử tạo nên Chúng bố tríkhông đồng đều trong không gian, chỗ dày chỗ thưa, chỗ đầy chỗ khuyết Ở đâumật độ dày đặc, các nguyên tử đẩy nhau, làm thành cơn lốc vũ trụ Những nguyêntử lớn và nặng tụ lại ở trung tâm, những nguyên tử nhẹ và bé hơn, hình cầu vàtrơn trượt, bị đẩy ra ngoại biên Bầu trời do lửa, khí, các tinh tú, những thứ bị cơnxoáy lốc đẩy ra, tạo thành Trung tâm vũ trụ là trái đất bất động, các vì sao vậnđộng xung quanh nó với vận tốc như nhau, hợp nên võ bọc vũ trụ to lớn Trongnguyên tử luận của mình Democritos đề cập đến nhiều thế giới với những khácbiệt về kết cấu, hình dáng, tính chất, quá trình xuất hiện và diệt vong v v Sựsống bắt đầu ngay trên trái đất, chứ không phải do những cơn mưa hạt giống từhành tinh khác rơi xuống, như Anaxagoras hình dung Hỗn nguyên tĩnh mịch vừanứt ra, không khí xuất hiện, bên dưới nó lềnh bềnh lớp đất nhão và nhẹ, tựa bùn

Từ lòng đất nổi lên những màng mỏng, giống bọc mủ hay quả bong bóng nước.Chúng được mặt trời làm khô dần, mặt trăng ấp ủ hằng đêm, cho đến khi vỡ tung;

Trang 33

từ trong bọc con người và loài vật bước ra, mỗi loài sở hữu một yếu tố chiếm ưuthế giữa bốn hành chất quen thuộc - đất, nước, lửa, khí Hành chất trội là cơ sở đểphân biệt các loài sống trên mặt đất, dưới nước, trong lòng đất, hay bay trên trời.Lúc mặt đất khô ráo hẳn, các sinh thể trưởng thành, bắt đầu công việc tự tạo tựsinh Quan hệ giữa con người, loài vật và toàn thể vũ trụ là quan hệ giữa tiểu thếgiới và đại thế giới Sự giống nhau giữa hai thế giới chính là ở chỗ cả hai đều cấuthành từ các nguyên tử

Quan niệm về nguồn gốc loài người của Đêmôcrít tỏ ra ấu trĩ Theo ông, conngười có ưu thế hơn loài vật vì chứa tích nhiều lửa, với những nguyên tử khácthường, hình cầu, trơn trượt, năng động So với loài vật con người sở hữu nguồnvật chất tinh khiết hơn, hấp thụ nguồn chất liệu từ bên ngoài nhiều hơn Các nhà

tư tưởng thuộc nguyên tử luận không xem linh hồn như thực thể phi vật chất, màquy nó về bản chất vật lý, xem như sự liên kết các nguyên tử hình cầu năng độngvà dễ phát tán Sự thở là trao đổi thường xuyên các nguyên tử linh hồn và ngoạicẢnh Thở và ngừng thở được xem như dấu hiệu đặc trưng của sự sống và c1ichết Chết đồng nghĩa với sự phân giải các nguyên tử linh hồn ra khỏi cơ thể, pháttán trong không khí

Nguyên tử luận cũng được triển khai vào việc giải thích mối quan hệ tất nhiên - ngẫu nhiên, một trong những mối quan hệ cơ bản của các sự vật, hiện

tượng, quá trình Đêmôcrít không bác bỏ khái niệm cái ngẫu nhiên, mà chỉ phêphán những ai dùng nó làm chiếc lọng che đậy sự nông cạn, phi lý của mình Sựđối lập tất nhiên - ngẫu nhiên, xét cho cùng, là sự đối lập cái xảy ra “theo tựnhiên” với cái xảy ra “không theo tự nhiên”, “không chủ đích” Vũ trụ xuất hiện,có nghĩa là tính quy luật, tính tất yếu tự nhiên thay thế trạng thái hỗn độn, ngẫunhiên Bản thân từ “vũ trụ” (theo tiếng Hy Lạp - “kosmos”) đã hàm chứa một cái

gì đó chuẩn xác, trật tự, là môi trường rộng lớn, nơi mỗi thực thể đều chiếm một

vị trí nhất định Không có sự chệch hướng, mọi thứ diễn ra theo tính tất yếu tự nhiên; chúng ta truy tìm nguyên nhân của vạn vật, và hiểu rằng vạn vật tồn tại như thế mà không khác đi Ngẫu nhiên, do đó, bị đồng nhất với phi nhân quả.

Tính chất máy móc và mâu thuẫn trong lập luận của Đêmôcrít về quan hệ nhânquả đã rõ Chỉ nắm vững phương pháp biện chứng thực sự mới tìm hiểu một cáchsâu sắc mối quan hệ, liên hệ và chuyển hóa sâu sắc giữa tất nhiên và ngẫu nhiên,đồng thời chỉ ra giới hạn của chúng

Bản thể luận và vũ trụ quan của Đêmôcrít ở một khía cạnh nào đó là sự dunghòa giữa Hêraclít và Pácmênhít, theo đó thế giới các sự vật luôn tuôn chảy, nhưngđồng thời là thế giới bền vững, hài hòa, hoàn hảo, được cấu thành từ các nguyêntử Cách diễn đạt như vậy chưa hẳn chính xác, bởi lẽ trên thực tế sự biến đổimang tính tuyệt đối, sự bền vững về kết cấu vật chất của sự vật là tương đối, cóđiều kiện Các nguyên tử tạo nên sự vật lẽ cố nhiên bền vững, theo quan niệm củacác nhà nguyên tử luận, song bản thân sự vật, hình thành từ sự kết hợp các nguyêntử, thì biến đổi tự tại Đêmôcrít mong muốn đứng giữa hai thái cực trong đánh giácác hiện tượng của thế giới, song không biết kết hợp cái hay, cái hợp lý từ lậpluận của cả Hêraclít lẫn nhân vật lớn của phái Êlê

Trang 34

Trong lý luận nhận thức Đêmôcrít phân biệt nhận thức mờ tối và nhận thức chân thực, tương ứng với hai nấc thang cảm tính và tư duy trừu tượng Cảm giác

đem đến cho con người những chất liệu thô, thiếu chọn lọc Nhận thức mờ tối,hay nhận thức cảm tính, chỉ hướng đến tồn tại bề ngoài của sự vật, mà chưa đi sâuvào bản chất của nó, chưa phân tích nguyên nhân của những cái được tri giác.Những chất liệu thô được tư duy xử lý, cải biến, trở nên hoàn thiện hơn về mặt trithức, bởi lẽ nó vạch ra tính quy luật bên trong, cơ bản của sự vật Như vậy nhậnthức lý tính là nấc thang cao nhất của “cây thang” nhận thức

Đêmôcrít chưa phải là người sáng lập lôgíc học, nhưng ông đã đặt nền móngcho nó, xem nó như công cụ giải thích tự nhiên Arixtốt xem Đêmôcrít như bậctiền bối của lôgíc quy nạp, để phân biệt với lơgíc diễn dịch của mình Sau này,vào thế kỷ XVII, Ph Bêcơn (F Bacon), người chủ trương phương pháp thựcnghiệm - quy nạp, đánh giá cao Đêmôcrít khi cho rằng nhà triết học cổ đại này đã

“đi vào tận chiều sâu thăm thẳm của giới tự nhiên”

Quan điểm đạo đức và chính trị của Đêmôcrít phản ánh nỗ lực của con

người nhằm duy trì những chuẩn mực xã hội tốt đẹp trong bối cẢnh nền dân chủchủ nô đang đứng trước nguy cơ khủng khoảng, suy thoái Trong quan hệ xã hộiĐêmôcrít đánh giá cao lòng nhân ái, tình bạnBạn tốt là người xuất hiện khi đượcmời trong những ngày vui, chủ động đến trong những ngày buồn, những khoẢnhkhắc đầy thử thách Ai không có bạn thì đó là người xấu, vì không biết yêu ai,không ai yêu mình Để phân biệt Thiện - Ac Đêmôcít nêu ra những cách ngôn như

“nhận ra người trung thực và người dối trá không nên chỉ căn cứ vào việc làm củahọ, mà cả ước muốn của họ”, “cái qúy của loài vật ở tố chất cơ thể, cái qúy củacon người ở tính cách tinh thần”, “người tốt thì tốt cả trong ý nghĩ”, “chính trongbất hạnh ta càng trung thành với nghĩa vụ thiêng liêng” Đêmôcrít đề cao vai tròcủa giáo dục, học vấn trong việc hinh thành đức hạnh Giáo dục tốt nhất trong môitrường gia đình, mà người cha là tấm gương Giáo dục thống nhất với học vấn.Trìng độ học vấn là thứ trang sức cho người hạnh phúc, là chốn nương thân của

kẻ bất hạnh Triết lý đạo đức của Đêmôcrít xây dựng mẫu người hiền nhân, tươngtự như mẫu người quân tử trong triết lý Nho giáo phương Đông Hiền nhân khôngmàng danh lợi, không ham của cải, lấy “nguồn lực tâm hồn” làm cơ sở cho hành

vi Đêmôcrít đánh giá cao sự trung dung và điều độ trong cuộc sống:”Hãy sửdụng mọi thứ vừa đủ”, “chớ vì muốn biết mọi thứ mà trở thành kẻ mơ hồ (trongnhận thức) đối với mọi thứ”

Đêmôcrít ủng hộ nhiệt thành nền dân chủ chủ nô, bất chấp tình trạng khủnghoảng của nó Ông tin tưởng rằng những mâu thuẫn đang nảy sinh trong nền dân

chủ sẽ được khắc phục, bởi lẽ, xét về bản chất, sự nghèo khó trong nhà nước dân

chủ vẫn đáng quý hơn cái mà người ta gọi là cuộc sống hạnh phúc trong chế độquân chủ, bởi tự do tốt hơn nô lệ Quyền lực chân chính nhất không nằm trong taynhững kẻ giàu sang, mà thuộc về nhân dân, những “nguyên tử xã hội” hùng mạnh.Đêmôcrít xây dựng học thuyết về tiến bộ lịch sử tự thân của loài người từtrạng thái thú vật sang trạng thái văn minh Tôn giáo, theo ông, là sản phẩm củalịch sử, xuất hiện do nỗi sợ hãi của con người trước các hiện tượng bí hiểm của tự

Trang 35

nhiên Thần linh chỉ là những “ngẫu tượng”, là lý trí con người đã được thầnthánh hóa Trong quan hệ tự nhiên - con người Đêmôcrít cho rằng con người từ

chỗ mô phỏng, bắt chước tự nhiên đã dần dần tạo ra thiên nhiên cho mình, tức xã hội loài người Vấn đề nhu cầu được Đêmôcrít giải thích trên quan điểm tiến hóa

tự nhiên - lịch sử: quá trình sinh tồn, giao tiếp làm cho lao động và ngôn ngữ trởthành nhu cầu phổ biến Tên gọi, hay khái niệm, theo Đêmôcrít, xuất hiện lúc đầumột cách ngẫu nhiên, chứ không sẵn có ở sự vật Quan niệm đó là tiền thân củathuyết duy danh sau này

Vào thời kỳ Hy Lạp hóa nguyên tử luận tìm thấy người kế thừa ở Epiquya(Epicuros) và trường pháiÊpiquya Trong Luận án Tiến sỹ của mình (1841) C.Mác chỉ ra hai nét khác biệt giữa triết học Epiquya và triết học Đêmôcrít Thứnhất, với Đêmôcrít mọi thứ đều diễn ra một cách tất yếu, hợp quy luật, mọi thứ

đều tuân theo một quỹ đạo thống nhất; ngược lại, Epiquya nhấn mạnh sự dao động tự do của các nguyên tử, sự đi chệch khỏi quỹ đạo định sẳn để thể hiện mình

như bản thể tự quy Mác cho rằng Epiquya đã nhân bản hóa vũ trụ nhằm đạt đếntự ý thức về tự do Sự khác nhau cơ bản giữa hai tên tuổi của triết học Hy Lạpbiểu thị sự khác nhau giữa hai thời đại - một thời đại của hưng thịnh và trật tự,một thời đại của suy thoái và loạn lạc, khi con người buộc phải đấu tranh vì chínhsự tồn tại của mình, tự tìm kiếm cho mình môi trường tồn tại, dù chỉ nhất thời vàchật hẹp Thứ hai, nguyên tắc dao động tự do của các nguyên tử gắn với chủ nghĩakhoái lạc đặc trưng, với đạo đức học và chủ nghĩa vô thần

*Tóm tắt và đánh giá chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại

Sự đột phá trong ý thức của người Hy Lạp xưa trước hết gắn liền với nỗ lựcvượt qua hình thức tư duy huyền thoại, thay câu hỏi “thế giới này do những vịthần nào tạo tác và cai quản ?” bằng câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và đi (quay)

về đâu ?”, mong muốn truy tìm bản nguyên của thế giới thay vì tưởng tượng về một hay nhiều vị hóa công vũ trụ Đó là biểu hiện của ý chí khám phá thế giới để

khẳng định vị trí của con người trong thế giới Không chấp nhận thói quen ý thứccủa đại chúng, phần lớn các triết gia đầu tiên đã thế tục hóa sự thông thái thầnlinh, đề cao lý trí con người, giải thích bản nguyên thế giới từ chính những chất

liệu sẵn có của thế giới, những chất liệu mà con người có thể quan sát trực tiếp

hoặc cảm nhận được: nước, lửa, khí, đất Có thể hiểu vì sao sự ra đời của triết học

Hy Lạp cũng là sự ra đời của triết học tự nhiên, và cũng là sự ra đời của chủ nghĩa

duy vật một cách tự phát Các nhà duy vật sơ khai là những nhà vật lý theo nghĩa

trực tiếp của từ này (physis trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là tự nhiên, tăng trưởng

v v )

Trong việc lý giải bản nguyên thế giới tồn tại hai phương án khác nhau phương án “nhất nguyên”, căn cứ trên một yếu tố vật chất nhất định, và phươngán “đa nguyên”, căn cứ trên nhiều yếu tố vật chất, chẳng hạn đất, nước, lửa,không khí đối với Empêđốc đều đáng được xem là bản nguyên thế giới, còn đốivới các nhà nguyên tử luận thì đó là các nguyên tử vận động trong khoảng hưkhông

-Chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại, với tính cách là hình thức lịch sử đầu tiên

Trang 36

của chủ nghĩa duy vật, mang tính chất trực quan, sơ khai và ngây thơ, vì phần lớn

những nhận định của nó dựa vào sự quan sát trực tiếp, sự cảm nhận hay suy tưởngcủa các triết gia, mà chưa được thẩm định về mặt khoa học Hơn nữa, như ta biết,trong triết học nói chung câu hỏi đúng vẫn tốt hơn là trả lời đúng cho câu hỏi sai.Bản thân cách đặt vấn đề về viên gạch đầu tiên xây nên tòa lâu đài vũ trụ, xét từquan điểm vật lý học hiện đại, rõ ràng chưa phải là “câu hỏi đúng” Ở chủ nghĩaduy vật Hy Lạp cổ đại bản nguyên đồng nhất với các yếu tố vật chất cụ thể (nước,lửa, khí, đất) hoặc giả định (apâyrôn, hômoiômeria, nguyên tử) Bên cạnh đótrong một số học thuyết được đời sau gọi là duy vật các yếu tố của tư duy huyềnthoại vẫn còn, dù không đóng vai trò chính trong thế giới quan chung Trong thời

kỳ đầu tiên các nhà triết học vẫn cần đến một giá đỡ thần linh để chuyển tải ý

tưởng mới lạ của mình mà không quá xa cách với trình độ nhận thức chung củathời đại Nước ở Talét được nâng lên cấp độ nước “thần” (liên tưởng hình Ảnhthần Đại dương trong thần thoại), là biểu tượng của sự nhất trí và hòa hợp;apâyron là nguyên lý sinh hóa của vạn vật; “khí” không chỉ là yếu tố vật lý, màcòn biểu thị sức sống năng động của vũ trụ và con người, là “sinh khí”; quan niệmvề ngày tận thế là sự vận dụng luật bù trừ trong thiên nhiên để giải thích quy luậtbiến thiên của các hiện tượng; kiếp người thường được liên tưởng tới kiếp củamuôn loài - có sinh có diệt, tội ác phải đền bằng cái chết…Yếu tố vật hoạt luận(tất cả các sự vật đều có linh hồn, có thần tính), nhân hình hóa hiện diện ở các họcthuyết duy vật thời kỳ muộn hơn Lôgốt của Hêraclít là sự kết hợp thần linh - vũtrụ - con người Empêđốc gán các đặc tính tâm lý, tình cảm của con người cho cácquá trình bên ngoài con người, theo đó khi Tình yêu chiến thắng vũ trụ đi đến sựhợp nhất, ngược lại, khi Hận thù chiếm lĩnh khắp nơi, vũ trụ bị chia cắt, phân ly.Chịu Ảnh hưởng của thuyết luân hồi và thanh tẩy của phái Oocphây (Orpheus) vàhuyền học phương Đông, Empêđốc cho rằng linh hồn có thần tính, do phạm tộimà chịu kiếp đọa đày vào thân xác, đầu thai, luân hồi “ba lần mười ngàn năm”,nhờ sám hối, thanh tẩy mới trở lại nơi cư ngụ thần linh của mình trước kia.Anaxago thì cần tới trí tuệ vũ trụ (Nous) để lý giải các quá trình tự nhiên, mặc dùcái bản nguyên tinh thần ấy bị chìm lấp giữa các yếu tố “không can hệ gì đến thầnlinh”

Tuy nhiên giới hạn của trình độ nhận thức không ngăn cản một số nhà duyvật vượt qua cái cụ thể, cảm tính, mong muốn đi tìm cái chung nhất của tồn tại(apâyrôn của Anaximăngđơ, homoiômeria của Anaxago, và cả “cái không phânchia”, tức nguyên tử, của Lơxíp và Đêmôcrít) Có thể nói các nhà duy vật cổ đại,

từ Talét trở đi, đã cố gắng tìm kiếm dấu hiệu tổng quát để diễn đạt bản nguyên thế

giới, nghĩa là họ vươn dần đến trình độ khái niệm, trình độ thực thể trong cáchhiểu về cơ sở của tồn tại

Trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại nguyên tử luậnchiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là điển hình cho tư tưởng duy vật thời bấy giờ

Tính chất điển hình đó được thể hiện ở mấy nét sau: thứ nhất, bằng việc xác định các nguyên tử (tồn tại) và khoảng không (hư vô) là bản nguyên của thế giới, các

nhà triết học thuộc nguyên tử luận đã xác lập bức tranh vật lý độc đáo, theo đótính đa dạng, muôn vẻ của thế giới vật chất xuất phát từ sự khác nhau của các

Trang 37

nguyên tử về hình dáng, kích thước, trật tự, vị trí và một số đặc tính khác Như

vậy thế giới tồn tại tự thân, tuân theo quy luật nội tại của mình Thứ hai, các sự

vật, hiện tượng tồn tại và vận động theo tính tất yếu tự nhiên, không chịu sự canthiệp của các lực lượng siêu nhiên Quan niệm về tính tất yếu tự nhiên của pháinguyên tử mang tính chất máy móc (không thừa nhận vai trò của cái ngẫu nhiêntrong tiến trình sự vật), nhưng đã chứa đựng yếu tố tích cực vì thông qua đó bác

bỏ thuyết định mệnh, mở đường cho sự giải thích quá trình tự nhiên một cách phi

nhân hình, thuần túy vật lý Thứ ba, các nguyên tắc của thuyết nguyên tử còn

được Đêmôcrít vận dụng vào việc giải thích đời sống xã hội và con người Chẳnghạn Đêmôcrít cho rằng nền dân chủ là chế độ nhà nước ưu việt nhất, vì ở đó

quyền lực thuộc về nhân dân mà ông gọi là “những nguyên tử xã hội” Thứ tư,

quan niệm về cái bé nhất (nguyên tử) không đơn giản là kết quả của sự quan sáttrực tiếp, mà đòi hỏi óc suy tưởng, trực giác trí tuệ cao, đề vượt qua tính trựcquan, vươn đến nấc thang lý trí, đến trình độ khái niệm Theo Đêmôcrít, chúng ta

không quan sát các nguyên tử, mà quan sát các sự vật, từ đó suy niệm về sự hiện

diện của chúng Atômốt (Atomos) của Lơxíp và Đêmôcrít trong nhiều thế kỷ đãkích thích sự tìm tòi, khám phá của các nhà khoa học và triết học

Cuối cùng, so với các nhà triết học tự nhiên sơ khai (Talét, Anaximăngđơ,Anaximen, thậm chí Anaxago, Empêđốc…) triết học tự nhiên của Đêmôcrít đãkhông còn thuần túy tự nhiên nữa, mà nhân hóa hơn Epiquya là người đã pháttriển nguyên tử luận và nhân bản hóa nó Thay vì nhấn mạnh tính tất yếu của sựvận động các nguyên tử, Epiquya nhấn mạnh “đao động tự do”, “sự vận động đichệch quỹ đạo” của chúng, qua đó, theo Mác, nhấn mạnh “tự ý thức tự do”.Nguyên tử luận ở Epiquya còn gắn liền với chủ nghĩa vô thần, duy cảm luận vàchủ nghĩa vô thần đặc trưng

Chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy lạp cổ đại không chỉ bàn đến bảnnguyên thế giới, mà bước đầu đến vấn đề nhận thức, nhân sinh, đặt nền móng chosự phát triển triết học Hy Lạp ở các thời kỳ sau Trong lý luận nhận thức, các nhàduy vật chỉ ra mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, trong đóxem nhận thức lý tính như nhận thức “chân thực”, khác với nhận thức cảm tínhnhư nhận thức “mờ tối” (Đêmôcrít), song khẳng định cơ sở hiện thực, vật chất củaquá trình nhận thức, khác với cách hiểu của chủ nghĩa duy tâm Platôn Các vấn đềđạo đức, thẩm mỹ, chính trị, xã hội cũng được đặt ra và giải quyết, dù khôngthành hệ thống quan điểm như ở các nhà triết học Platôn, Arixtốt

Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền

với thực trạng của tri thức về tự nhiên, những mầm mống của khoa học chuyênbiệt Nhiều luận điểm của triết học duy vật, dù mang tính tự phát, bẩm sinh, đãđem đến cho con người những gợi mở tích cực, kể cả định hướng thế giới quan vàphương pháp luận nghiên cứu khoa học Thực tế cho thấy chủ nghĩa duy vật tựphát góp phần tạo nên “vòng khâu” đầu tiên của lịch sử nhận thức

4 Phái biện thuyết và Xôcrát- những chuyển biến mang tính bước ngoặt trong triềt học phương Tây cổ đại

a Phái biện thuyết

Trang 38

Vào nửa sau thế kỷ V TCN trong bối cẢnh hưng thịnh của nền dânchủ chủ

nô triết học, lôgíc học và tu từ học được dịp phát triển, dần dần chiếm ưu thếtrong hệ thống giáo dục của xã hội Lúc ấy tại Aten và một số thị quốc khác xuấthiện nghề “dạy tư duy”, dạy cách diễn đạt, gọi là nghề biện thuyết (từ nguyên HyLạp:sophistikè), và một loại người - các nhà biện thuyết (từ nguyên Hy lạp:sophistès) Đối với họ chân lý khách quan không quan trọng bằng chiến thắng đốithủ trong tranh cãi

Các nhà biện thuyết có nhiều đóng góp cho khoa học ngôn ngữ, nhất là tu từhọc Họ làm sâu sắc thêm thái độ có tính phê phán đối với mọi tri thức và kiếngiải, chống lại những quan điểm thiếu tính chân thực, phê phán cả những cơ sở

của nền văn minh Lần đầu tiên cá nhân trở thành quan tòa phán xét mọi thứ

Có thể gọi các nhà biện thuyết là những nhà khai sáng cổ đại Họ không chỉ

làm sâu sắc thêm các học thuyết của quá khứ, mà hơn thế nữa, đã đại chúng hóa

tri thức, truyền bá cho các công dân những gì mà khoa học và triết học thời ấytích lũy

Các nhà biện thuyết hầu như không quan tâm đến thế giới bên ngoài, giới tựnhiên, mà chỉ chú trọng nhân tố con người, chủ thể tư duy, dùng chủ nghĩa tươngđối (relativism) để giải thích những vấn đề thế giới quan, nhận thức luận, đạo đức,xã hội Chân lý, theo họ, có tính chất tương đối, vì lệ thuộc vào ngoại cẢnh, thờigian, đặc biệt là con người Tuy nhiên, do quá thiên về trò chơi trí tuệ, tuyệt đốihóa năng chủ quan của con người mà sau này sophistikè bị phê phán như một họcthuyết cố tâm bảo vệ và biện minh những điều lạ lùng, ngược đời, nghĩa là một

học thuyết mang tính nguỵ biện

Người sáng lập phái biện thuyết là Prôtago (Protagoras, 480 - 410 TCN),

sinh tại Apđerơ, đồng hương với Đêmôcrít Ông là thầy dạy chuyên nghiệp môn

tu từ học và thuật tranh biện Ông không ở cố định một nơi nào, mà lang thangkhắp Hy Lạp, hay trên đường phố Aten, từng bị kết án tử hình do thái độ hoàinghi đối với tôn giáo và trật tự hiện hành, sau được tha, bị trục xuất trục xuất rakhỏi Aten nhờ sự can thiệp của Pêriclét, nhưng bị chết đối trên đường từ Nam Ýsang Xixin Tư tưởng của Prôtago khác hẳn bản thể luận truyền thống Ông cũngcho rằng các hành chất là nguyên nhân đầu tiên của vạn vật, nhưng không phảithực tại khách quan, mà tính biến đổi mới là thuộc tính của nó Nói cách khác,ông lý giải bản nguyên không từ kết cấu, mà tử bản chất của nó Chính tính biếnđổi, hay “tuôn chảy” của vạn vật đã đẫn Prôtago đến nhận định rằng nếu trong sựvật tồn tại hai mặt đối lập nhau, thì trong con người có thể tồn tại hai ý kiến tráingược nhau về sự vật, và “cả hai đều đúng” Trong trường hợp đó sức mạnh của

phán quyết phụ thuộc nhiều vào nghệ thuật biến hóa ngôn từ Trong Những ngôn

từ lật đổ Prôtago viết:”Con người - thước đo của vạn vật” Luận điểm chủ đạo đó

hàm chứa ý nghĩa nhân văn sâu xa Tạm bỏ qua những yếu tố cực đoan, có thể tìmthấy ở đây tinh thần đề cao tự do và năng lực cá nhân Nếu con người là thước đocủa vạn vật, thì thiết chế do con người xác lập là thước đo của sự công bằng Lànạn nhân của nền dân chủ Aten, nhưng khác với Xôcrát, Prôtago vẫn xem dân chủlà hình thức nhà nước ưu việt nhất trong thế giới cổ đại, vì theo ông, nó mở ra khả

Trang 39

năng đối thoại bình đẳng giữa các công dân và chính quyền Prôtago vận dụngchủ nghĩa tương đối vào việc lý giải các chuẩn mực đạo đức và các quan hệ xãhội Tiêu chuẩn của chân lý là lợi ích Cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác mangtính chất tương đối, vì phụ thuộc vào cách xem xét và đánh giá của mỗi cá nhân.Tôi chiến thắng, nghĩa là tôi đúng, chứ không phải tôi đúng, nên tôi chiến thắng

Đại biểu lớn thứ hai của phái biện thuyết là Goócgiát (Gorgias, 483 - 375

TCN), sinh tại Lêontium (Leontium), đảo Xixin Nếu Prôtago thiên về vấn đềnhận thức, thì Goócgiát chú trọng đến bản thể luận, mặc dù bản thế luận của ônghết sức đặc biệt Nếu trong chủ nghĩa tương đối Prôtago khẳng định “mọi thứ đềuđúng”, thì Goócgiát lại tuyên bố “mọi thứ đều sai”, sử dụng các apôria củaDênông như con dao hai lưỡi, bác bỏ luận điểm nền tảng của trường phái Elê vềchân lý và tồn tại Quan điểm triết học của Goócgiát có thể tóm gọn trong mộtcâu: “Không có gì tồn tại cả” Các nhà triết học thuộc trường phái Elê khẳng địnhrằng cái gì được ta tư duy thì mới tồn tại, mọi ý tưởng luôn luôn là ý tưởng về cáiđang tồn tại, còn cái không tồn tại trên thực tế (hư vô) thì không thể được tư duy

như cái đang tồn tại Nhưng Goócgiát bác bỏ từng luận điểm một của họ Thứ nhất, không thể chứng minh “hư vô không tồn tại” vì bản thân từ “chứng minh” đã buộc phải thừa nhận “cái không - là”, nghĩa là hư vô Thứ hai, không thể chứng

minh “cái đang tồn tại thì tồn tại”, vì tồn tại, theo trường phái Elê, là không sinhkhông diệt, bất biến bất phân, nghĩa là không có khởi đầu, mà nếu không có khởiđầu thì vô hạn, mà nếu vô hạn thì không xác định được, mà nếu không xác địnhđược thì hóa ra vật tồn tại không ở đâu cả, mà nếu không ở đâu cả thì nó không có(không tồn tại) Tính chất nguỵ biện của cách lập luận trên đã quá rõ Goócgiátđánh động khởi điểm thời gian với vị trí không gian, vị trí với tồn tại (không có vịtrí là không có tồn tại)

Trình tự lập luận của Goócgiát đưa ông đến ba điểm chính:1) không có gì tồntại cả;2) nếu có tồn tại thì cũng không nhận thức được; 3) nếu chúng ta biết đượcmột cái gì đó tồn tại, thì cũng không giải thích nó đầy đủ cho người khác được.Sai lầm về lý luận của Goócgiát là ở chỗ tách rời tồn tại và ý thức, biểu tượng vàlời nói, chủ thể cảm giác và đối tượng cảm giác Tư tưởng triết học bị mất đi tínhnghiêm túc vốn có của nó, hơn nữa rơi vào chủ nghĩa hoài nghi, bất khả tri CảPlatôn và Arixtốt đều xem biện thuyết như trò lừa bịp, biến con người thành nô lệcủa ngôn từ, dùng ba tất lưỡi bẽ cong chân lý Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khác cóthể thấy rằng chính các nhà biện thuyết thông qua sự triển khai tư tưởng của mìnhđã cho thấy sự huyền diệu của ngôn ngữ, sức mạnh của nghệ thuật hùng biện, mộtnghệ thuật rất cần trong ứng xử, giao tiếp, quan hệ công việc

b Xôcrát - từ triết học tự nhiên sang triêt lý học đạo đức

Xôcrát (Socrates, 469-399 TCN) sinh tại Aten, trong một gia đình mà chalàm nghề điêu khắc, mẹ là bà đỡ Thời trẻ Xôcrát theo phái biện thuyết, chịu Ảnhhưởng của nó trong việc xác định đối tượng triết học và cách thức truyền đạt tưtưởng Tuy nhiên sau đó ông rời bỏ trường phái này để tránh, như ông nói, sa vàonhững cuộc tranh luận vô bổ Xôcrát vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân của nềndân chủ Aten Năm 399 TCN ông bị chính quyền Aten, do lân bang Xpáctơ, kẻ

Trang 40

thắng trận trong cuộc chiến Pêlôpônét dựng nên, kết án tử hình vì ba tội - bài xíchthần linh, chống đối chế độ và hủ hóa giới trẻ, buộc uống thuốc độc tại nhà tù Triết học, theo Xôcrát, không phải là sự nghiên cứu tự nhiên một cách tư

biện, mà là học thuyết dạy con người sống tốt và sống đẹp Con người chỉ có thể nhận biết những gì nằm trong quyền hạn của mình, tức linh hồn mình “Hãy nhận biết chính mình”, nghĩa là nhận biết mình như thực thể xã hội và thực thể đạo đức.

Ông phê phán triết học tự nhiên vì nó không xem con người là đối tượng, màhướng đến nghiên cứu cái cao siêu, “xúc phạm đến thần linh” nhưng lại xa lạ vớicon người, do đó rơi vào bế tắc

Sự quan tâm đến con người có thể được xem như bước ngoặt từ triết học tựnhiên sang triết học đạo đức, từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân sinh.Xixêrôn cho rằng Xôcrát đã đưa triết học từ trên trời xuống dưới đất Ở Xôcrát

triết học được quy về đạo đức học duy lý Theo Xôcrát, triết học là tri thức về con

người, dành cho con người, nói cách khác, là tri thức về cái thiện Hiểu biết về cáithiện sẽ hành động theo cái thiện Cái ác nảy sinh là do sự dốt nát, thiếu hiểu biết.Thiện và ác không phải là hai căn nguyên tách biệt nhau, mà là sự hiện diện haythiếu vắng một căn nguyên - tri thức Xôcrát quy mọi hành động xuẩn ngốc, cái ác

nói chung, về sự dốt nát, còn cái thiện, sự mẫn tiệp - về tri thức, bởi lẽ “không ai biết thế nào là tốt mà làm điều ngược lại” Tuyên bố đó làm nên nội dung cơ bản

của đạo đức học duy lý Nhưng đó cũng là đạo đức học hướng đến cái lý tưởng,chứ không xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, với những biến thái phức tạp của nó Luận điểm cơ bản của đạo đức học duy lý cũng được vận dụng vào lĩnh vực

chính trị Phẩm hạnh (đức hạnh) chính trị là cách diễn đạt khác của tri thức về chính trị Với phẩm hạnh “không cần những kẻ vô học; nếu khác đi thì nhà nước cũng chẳng nên có làm gì” (V S Niersesian Xôcrát Nxb Khoa học, Mátxcơva,

1977, tr 44, tiếng Nga) Vì lẽ đó Xôcrát đã phê phán nền dân chủ chủ nô từ lập

trường của giới quý tộc, chứ không phải là “sự phê phán có tính chất dân chủ”,

“tạo nên bản chất của nền dân chủ”, như C Pốpơ (K Popper) đánh giá (xem C Pốpơ Xã hội mở và những kẻ thù của nó gồm 2 tập, t 1, Trung tâm sang kiến văn hóa, Soros Foundation, Mátxcơva, 1992, tr 238, bản tiếng Nga) Thêm nữa, Xôcrát muốn duy lý hóa nhà nước, muốn những người điều hành công việc quốc

gia phải có tri thức, hiểu biết Nhưng chẳng lẽ chính thể dân chủ không hướng đếnđiều đó? Đêmôcrít ủng hộ nền dânchủ, nhưng không hề hạ thấp vai trò của lý trí

Phương pháp của đạo đức học duy lý được gọi chung là phương pháp đỡ đẻ.

Theo lập luận của Xôcrát, chỉ có thể sống lương thiện nếu được trang bị mộtphương pháp hướng dẫn con người đến với chân lý, tức cái Thiện và lợi ích caonhất, phổ biến nhất Xuất phát điểm của phương pháp đó là thái độ hoài nghi tích

cực, sự tự tra vấn và cầu thị: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” Từ điểm

“không” này đến chân lý trải qua 4 bước: 1) mỉa mai (thể hiện tinh thần đối thọai tích cực và khoáng đạt); 2) đỡ đẻ (người thầy không chỉ “mỉa mai” về sự kém

hiểu biết của học trò, mà như một bà đỡ giúp học trò “đẻ” ra đứa con tinh thần của

mình, tức tri thức, trước hết là tri thức về cái Thiện); 3) quy nạp, nghĩa là tri thức

chỉ có thể trở nên chắc chắn nếu được thẩm định bởi cuộc sống, bắt đầu từ sự

Ngày đăng: 11/12/2022, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đanien Benxaiđơ: Mác người vượt trước thời đại. Bản dịch của Phạm Thành, Nguyễn Văn Hiến, Lê Xuân Tiềm. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác người vượt trước thời đại
Tác giả: Phạm Thành, Nguyễn Văn Hiến, Lê Xuân Tiềm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
4. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
5. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
6. 7. G. Đềriđa: Những bóng ma của Mác. Nxb Chính trị Quốc gia và Tổng cục II Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bóng ma của Mác
Tác giả: G. Đềriđa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
2. T/c Các vấn đề khoa học chính trị - xã hội, số 11/1990, tiếng Nga 3. T/c Các vấn đề triết học, số 1/1991, tiếng Nga Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w