DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Mô tả bài giảng: Chủ đê này đã giới thiệu ở bậc đại học nhưng rất khái quát. Bậc đào tạo SĐH (thạc sỹ) sẽ giới thiệu sâu hơn về quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ (chủ yếu giai đoạn 1930 1956). Bài giảng đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân, trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng giải quyết vấn đề ruộng đất trong thời kỳ mới. Đây là bài bổ trợ trong môn học lịch sử cuộc vận động thành lập Đảng và sự hình thành, phát triển đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng.
Trang 1ĐẢNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG CÁCH MẠNG
DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
- Mô tả bài giảng: Chủ đê này đã giới thiệu ở bậc đại học nhưng rất khái
quát Bậc đào tạo SĐH (thạc sỹ) sẽ giới thiệu sâu hơn về quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ (chủ yếu giai đoạn 1930 - 1956) Bài giảng đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân, trên cơ
sở đó rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng giải quyết vấn đề ruộng đất trong thời kỳ mới
Đây là bài bổ trợ trong môn học lịch sử cuộc vận động thành lập Đảng và
sự hình thành, phát triển đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng
- Mục tiêu bài giảng:
- Về kiến thức: làm cho người học nắm được chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng, giải quyết vấn đề ruộng đất (1930-1956); nắm vững kết quả, hạn chế nguyên nhân và những kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Về kỹ năng, phương pháp: tạo cho học viên phương pháp tư duy khoa
học độc lập, biết vận dụng, giải quyết các vấn đề liên quan đến ruộng đất thực tiễn đặt ra
- Yêu cầu: học viên tự học, tự nghiên cứu là chính, thông qua giới thiệu
của giảng viên, tiếp cận được và xử lý có hiệu quả các tài liệu có liên quan
NỘI DUNG CHI TIẾT BÀI GIẢNG
I VẤN ĐỀ RUỘNG ĐÂT ở VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG CHỈ ĐẠO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT
1 Chế độ ruộng đất ở Việt Nam dưới thời thực dân Pháp xâm lược
- Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là quốc gia phong kiến, độc lập, có chủ quyền Đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến là sự chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến để bóc lột nhân dân (chủ yếu là nông dân) bằng hình thức địa tô là chủ yếu Mâu thuẫn cơ trong xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến với nông dân
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858), xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Đặc trưng cơ bản của xã
Trang 2hội thuộc địa nửa phong kiến là sự câu kết giữa bọn đế quốc với tay sai địa chủ phong kiến để áp bức bóc lột nhân dân Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến tồn tại hai chế độ kinh tế là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến Trong xã hội đó tồn tại hai hình thức bóc lột cơ bản là bóc lột theo giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản và bóc lột địa tô của giai cấp địa chủ phong kiến
Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, ruộng đất ở Việt Nam phân phối không đều cho các giai tầng trong xã hội Giai cấp địa chủ phong kiến chiếm khoảng 5% dân số nhưng chiếm tới 7/10 diện tích ruộng đất Trong khi đó giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số chỉ sử dụng 3/10 diện tích canh tác Ngoài
ra ruộng đất còn nằm trong tay thực dân Pháp và ruộng đất công của các nhà thờ, nhà chùa, dòng họ v…v (xem bảng phụ lục sau).\
Sự phân bố ruộng đất trong nông dân
Thành phần % dân số % diện tích Bình quân nhân khẩu/1m2
Nông dân chiếm 94,8% (1776200 hộ), sử dụng 28,5% diện tích ruộng đất, tương đương với 1.225.000 ha
Địa chủ chiếm 5,2% dân số (98.680 hộ), chiếm 59,6% diện tích ruộng đất khoảng 2.565.000 ha
Ruộng đất công khoảng 11,1% diện tích (510.000 ha) chủ yếu ruộng của nhà thờ, nhà chùa
Hình thức bóc lột nông dân của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam chủ yếu là bóc lột địa tô, nhưng với ba hình thức địa tô cơ bản
- Tô đóng: là hình thức địa chủ phát canh thu tô sản lượng được định trước
đến mùa thu hoạch người nông dân phải nộp sản phẩm đó cho nhà địa chủ
- Tô rẽ: là hình thức sản lượng từng vụ được chia đôi giữa nhà địa chủ và
người nông dân
- Tô lao dịch: được quy định nhà địa chủ được nhận sản lượng vụ mùa,
người nông dân nhận sản lượng vụ chiêm
Trang 3Ngoài tô chính, người nông dân còn phải nộp tô phụ rất hà khắc cho nhà địa chủ như hình thức cống nạp, lễ lạt trong những ngày lễ, ngày tết v…v
Cùng với hình thức bóc lột địa tô, giai cấp địa chủ phong kiến còn áp
dụng hình thức cho vay nặng lãi Hình thức cơ bản là vay hiện vật bằng thóc.
Thông thường người nông dân được vay thóc chiêm nhưng phải trả thóc mùa lãi suất từ 30 - 50%, thậm chí có nơi lãi tới 100% Dưới chế độ phong kiến còn tồn tại hình thức bóc lột nhân công Bóc lột nhân công năm, nhân công tháng
và nhân công mùa
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, dân tộc ta mất độc lập, nhân dân ta mất dân chủ, nông dân mất ruộng đất vào tay bọn thực dân Pháp xâm lược Thực dân Pháp tập trung ruộng đất của nông dân Việt Nam hình thành nên các trung tâm trồng cây công nghiệp như cao su, chè cà phê Theo đó giai cấp công nghiệp nông nghiệp ngày càng phát triển ở Việt Nam Đến năm 1957 số công nhân nông nghiệp trong các đồn điền của thực dân Pháp lên tới 8 vạn người Thực dân Pháp áp dụng hình thức bóc lột đối với công nhân nông nghiệp chủ yếu là bóc lột giá trị thặng dư Mỗi ngày người công nhân phải làm từ 14 đến
16 tiếng, trong khi đó tiền công mỗi ngày từ 0,3 đến 0,4 hào Nhưng thực tế người công nhân chỉ được lĩnh 0,2 hào Trong khi đó giá 1 tạ thóc là 7,5 đồng
Sự bóc lột tàn nhẫn của bọn thực dân Pháp đối với nông dân, nhiều người đau
ốm, chết chóc Nhiều người đã bỏ trốn khỏi các đồn điền của thực dân Pháp Mỗi năm trung bình có tới 20% công nhân bỏ trốn Có nơi tới 40-50% công nhân bỏ trốn Từ thực tiễn đó rút ra kết luận:
- Sự câu kết giữa đế quốc với phong kiến để thống trị, bóc lột nông dân
Đó là nguồn gốc của sự đói khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
- Thực dân Pháp xâm lược nước ta phần lớn ruộng đất nằm trong tay đế quốc và phong kiến Nông dân Việt Nam cơ bản không có ruộng hoặc rất thiếu ruộng
- Chống đế quốc và chống phong kiến phải gắn với nhau, tiến hành đồng thời mới dành được độc lập dân tộc, ruộng đất cho nông dân
- Giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ là yêu cầu khách quan
Trang 42 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng giải quyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ
cơ bản là chống đế quốc và chống phong kiến, luôn gắn bó với nhau tiến hành đồng thời nhưng phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến rải ra từng bước, phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc
Thời kì 1930-1931 Đảng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến mang tư tưởng tả khuynh Hai nhiệm vụ này tiến hành đồng thời và ngang bằng nhau Trên thực tế, thực hiện không đạt được mục tiêu đề
ra, trái lại cách mạng rơi vào tình thế thoái trào
Thời kì 1936-1939 nhiệm vụ chống phong kiến mang tư tưởng hữu khuynh Trong phong trào vận động dân chủ nhưng Đảng không nêu khẩu hiệu, dân tộc tự quyết, không kết hợp chặt chẽ yêu sách dân tộc với yêu sách dân chủ Vấn đề ruộng đất cho nông dân không được đặt ra một cách rõ ràng
Thời kì 1939-1945, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ đánh chế độ vua quan phong kiến bên trên, thực hiện giảm tô, giảm tức, giai cấp địa chủ ở bên dưới không đánh triệt để
Thời kì 1945-1948 Đảng mắc khuyết điểm hữu khuynh, coi nhẹ nhiệm
vụ phản phong, không đặt vấn đề giảm tô, giảm tức một cách triệt để, không chủ trương chia ruộng công, ruộng của địa chủ vắng mặt
Ngày 14/7/1949, Đảng xác định thực hiện giảm tô, hoãn nợ của địa chủ đối với nông dân Tịch thu ruộng đất của Việt gian chia cho dân cày, khuyến khích cho nông dân khai hoang, phục hóa
Ngày 5/7/1950 Chính phủ quy định tạm cấp ruộng đất của địa chủ vắng mặt, của thực dân Pháp, của bọn Việt gian phản động chia cho nông dân
Đầu năm 1951 Chính phủ ban hành chính sách thuế nông nghiệp, thực hiện công bằng trong nông thôn, chủ trương giảm tô đồng loạt 25%
Tháng 3/1952 quy định điều lệ sử dụng công điền, công thổ ở nông thôn Đầu năm 1953 chia ruộng đất của địa chủ vắng mặt cho nông dân với số lượng rất lớn Ở miền Bắc đã chia 50 vạn ha, ở miền Nam chia 41 vạn ha cho nông dân Nhưng thời kì này vùng tự do lại không thực hiện cải cách ruộng đất
Tháng 1/1953 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ IV, khóa II
Trang 5đã kiểm điểm việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trung ương đã nghiêm túc thừa nhận thiếu sót trong chỉ đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và chống phong kiến Chưa thấy hết tầm quan trọng của nhiệm vụ phản phong Hội nghị chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến Giao cho ban chấp hành trung ương chuẩn bị văn kiện về cải cách ruộng đất để đến hội nghị lần sau thông qua Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 11 năm 1953 hội nghị lần thứ V ban chấp hành trung ương ra nghị quyết chuyên đề về cải cách ruộng đất
Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội họp thông qua Luật cải cách ruộng đất
Ngày 19/12/1953 chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ban hành Lệnh cải cách ruộng đất
Đến thời kì này Đảng đặt vấn đề cải cách ruộng đất trong kháng chiến với bốn lý do cơ bản sau
- Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến, lực lượng chủ yếu là nông dân, vấn đề ruộng đất là mục tiêu, nguyện vọng của người nông dân Tiến hành cải cách ruộng đất, giải quyết ruộng đất cho nông dân là một yêu cầu khách quan
- Nước ta là nước nông nghiệp, đa số là nông dân Qua 7 năm kháng chiến, nông dân chịu đựng nhiều gian khổ vì thiếu ruộng đất hoặc không có ruộng đất Thời kì đẩy mạnh tổng phản công phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế, chính trị cho nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân
- Chính sách ruộng đất từ năm 1930 đến năm 1953 chưa thỏa mãn nhu cầu chính đáng nhất của nông dân là người có ruộng, chưa giải phóng sức sản xuất
ở nông thôn khỏi quan hệ bóc lột phong kiến, Đảng tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, công thương phát triển do đó phải cải cách ruộng đất
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã phát triển đến đỉnh cao, khả năng dành thắng lợi đã rõ ràng, phải tiến hành cải cách ruộng đất thực hiện triệt
để người có ruộng để đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hai nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến đều hoàn thành
Trang 6- Đường lối cải cách ruộng đất của Đảng được thông qua Hội nghị Trung ương V luật cải cách ruộng đất và sắc lệnh cải cách ruộng đất của Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung sau:
oMục đích của cải cách ruộng đất là xóa bỏ toàn bộ sự chiếm hữu ruộng đất của đế quốc, phong kiến, thực hiện người cày có ruộng
oĐường lối giai cấp trong cải cách ruộng đất là dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với chung nông, liên hợp với phú nông, đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến, từng bước phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
oPhương châm tiến hành cải cách ruộng đất: thỏa mãn yêu cầu ruộng đất đối với nông dân, nhưng phải phân biệt đối xử với từng loại địa chủ khác nhau Phân biệt và xử lý các loại ruộng đất khác nhau Xử lý thích đáng địa chủ phân tán ruộng đất Từ năm 1949 đến năm 1951, địa chủ ở Vĩnh Phú phân tán từ 30 đến 50% ruộng đất Tiến hành từng bước, nơi có điều kiện làm trước Vừa làm vừa đào tạo cán bộ Biện pháp cơ bản cải cách ruộng đất: tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, địa chủ cường hào gian ác, Việt gian phản động Chưng thu ruộng nửa công, nửa tư Chưng mua của địa chủ thường, địa chủ kháng chiến
oPhân loại chia và cách chia: ruộng đất chuyên canh không chia để lập các lâm trường, nông trường Nguyên tắc chia: thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia
ít, không thiếu không chia Rút nhiều bù ít; lấy tốt bù xấu; chia theo nhân khẩu từng gia đình Lấy diện tích và sản lượng bình quân để chia Chia theo đơn vị hành chính xã
oPhân loại thành phần: điều lệ phân loại thành phần giai cấp ở nông thôn
do thủ tướng chính phủ ban hành ngày 1/3/1955 như sau:
Địa chủ là những người chiếm hữu ruộng đất, tự mình không tham gia lao động chính, hoặc chỉ tham gia lao động phụ Nguồn sống chính dựa vào bóc lột nông dân, thu lợi phát canh thu tô, hoặc thuê người làm Địa chủ có người kiêm cho vay nặng lãi, kiêm công thương Nhưng cách bóc lột chính và thông thường của địa chủ là phát canh thu tô
Phú nông là những hộ trong các trường hợp sau:
Tự mình có lao động chính, đồng thời thuê hai người ở trong một năm (mỗi năm là 120 ngày)
Trang 7Tự mình có lao động chính, đồng thời có ruộng đất phát canh bằng số ruộng hai nông dân thường làm bằng thuê hai người ở trong một năm
Tự mình có lao động chính đồng thời có thuê người làm và phát canh ruộng đất Nhưng thuê người làm và phát canh bằng thuê hai người ở trong một năm
Trung nông có đủ ruộng đất, trâu bò, nông cụ tự mình làm lấy để sống, không phải bán sức lao động, không bóc lột người khác
Bần nông là những người thiếu ruộng và nông cụ, hàng năm phải lĩnh canh ruộng đất Họ thường bị bóc lột địa tô, vay nợ lãi, cho thuê nhân công
Cố nông không có ruộng đất, nông cụ hoặc chỉ có một ít, họ sống hoàn toàn hoặc chủ yếu nhờ vào bán sức lao động cho gia đình địa chủ
Sau khi có chủ trương về cải cách ruộng đất, cuối tháng 12 năm 1953, Đảng phát động làm thí điểm cải cách ruộng đất ở 6 xã Đại Từ, Thái Nguyên (An Mỹ, Đình Lập, Hùng Sơn, Tân Thái, Bình Thuận)
Mỗi xã do đoàn ủy lãnh đạo, mỗi xã có một đội công tác khoảng 20 người Đội công tác đi sâu tìm hiểu, tuyên truyền giải thích, phát động quần chúng đấu tranh Phân định thành phần giai cấp Tiến hành tịch thu, chưng thu, chưng mua theo luật định
Qua đợt thí điểm, thế lực kinh tế, chính trị của địa chủ bị giảm sút, bị đập tan Người nông dân làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn Tăng cường sự đoàn kết của nông dân, nông thôn Việt Nam Đợt thí điểm ở Thái Nguyên đã chia 400 mẫu ruộng tịch thu của địa chủ cho 94 gia đình Thắng lợi của đợt thí điểm đã vượt ra ngoài địa phương Thái Nguyên nhỏ hẹp, ảnh hưởng vang dội đến toàn quốc Làm nức lòng quần chúng ở hậu phương và chiến sĩ ngoài mặt trận Góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
Thắng lợi của đợt làm thí điểm cải cách ruộng đất đã chứng minh chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng là đúng đắn, sáng suốt Qua đó bổ sung một số chủ trương, chính sách cải cách ruộng đất phù hợp Tuy vậy đợt thí điểm có nhiều khuyết điểm, sai lầm
Khuyết điểm hữu khuynh là: ngại khó, ngại khổ, không đi sâu phát động quần chúng; dựa vào một số phần tử xấu; dùng phương pháp hành chính thống
Trang 8kê đơn thuần, không tính toán kĩ; để lọt lưới một số địa chủ; tịch thu không triệt
để, không thỏa mãn yêu cầu tối thiểu của nông dân
Sai lầm tả khuynh là: đã đưa một số phú nông, trung nông lên địa chủ, không phân hóa địa chủ Những thiếu sót trong quá trình tiến hành cải cách không được phát hiện đầy đủ và phê phán kịp thời Một số nơi nêu tư tưởng thà
tả một tí còn hơn hữu
Sau đợt làm thí điểm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Tháng 9 năm 1954 BCT bổ sung một số nội dung về cải cách ruộng đất, chia cải cách ruộng đất thành 5 bước
Bước 1: tìm hiểu tình hình; bắt rễ sâu chuỗi; chỉnh đốn tổ chức.
Bước 2: phát động quần chúng đấu tranh, đánh đổ toàn bộ giai cấp địa
chủ phong kiến Phát hiện, xác định thành phần tố khổ Chọn một số cường hào gian ác đấu tranh công khai
Bước 3: tịch thu, trưng thu, trưng mua, bồi dưỡng cốt cán.
Bước 4: chia ruộng đất và quả thực cho nông dân
Bước 5: chỉnh đốn tổ chức, kiểm điểm rút kinh nghiệm.
BCT đã khẳng định cải cách ruộng đất là chính sách bất di bất dịch sau hòa bình lập lại vẫn tiếp tục thực hiện, coi đó là điều kiện cơ bản để phục hồi
và phát triển sản xuất, nhưng phải chú ý tư tưởng chiếu cố miền Nam
Tháng 9/1954 ủy ban cải cách ruộng đất ra nghị quyết đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất Thời kì này hội đồng chính phủ thông qua nghị quyết, bổ sung một số điểm quan trọng về cải cách ruộng đất ở miền Bắc như sau:
- Rút khẩu hiệu đánh đổ Việt gian phản động, thay vào là đánh đổ địa chủ cường hào gian ác
- Thu hẹp diện đấu tố, tăng cường công tác tòa án, không vạch linh mục là địa chủ
- Mở rộng diện chưng mua, quy định hiến điền rộng rãi
- Chiếu cố địa chủ kiêm công thương
Từ ngày 25/5 đến 20/9/1954 tiến hành cải cách ruộng đất đợt 1 mở rộng gồm 53 xã (6 xã ở Thanh Hóa, 41 xã ở Thái Nguyên), còn lại ở Bắc Giang
Trang 9Đợt 2 từ ngày 23/10/1954 đến 15/1/1955 ở 210 xã (Thái Nguyên 22, Phú Thọ 100, Bắc Giang 22, Thanh Hóa 66)
Đợt 3 từ 18/2/1955 đến 20/6/1955 ở 466 xã (Phú Thọ 106, Bắc Giang 84, Vĩnh Phúc 65, Sơn Tây 22, Thanh Hóa 115, Nghệ An 74)
Đợt 4 từ ngày 27/6 đến 31/12/1955 ở 859 xã (Phú Thọ 17, Bắc Giang 16, Vĩnh Phú 111, Nghệ An 5, Hà Tĩnh 227, Bắc Ninh 60, Sơn Tây 70, Hà Nội 98, Ninh Bình 47, Thanh Hóa 27)
Đợt 5 từ ngày 25/12/1955 đến 30/7/1956 ở 1722 xã (Bắc Ninh 86, Ninh Bình 45, Hà Đông 163, Nam Định 171, Thanh Hóa 19, Nghệ An 250, Hà Tĩnh
6, Quảng Bình 118, Vĩnh Linh 21, Hải Dương 217, Hưng Yên 149, Thái Bình
224, Kiến An 85, Hà Nội 47, Hải Phòng 9, Hồng Quảng 40)
Qua 5 đợt cải cách ruộng đất đã tiến hành ở 3651 xã thuộc 22 tỉnh chủ yếu là ở miền Bắc Vấn đề ruộng đất ở miền Nam sau này giải quyết theo chủ trương riêng của Đảng cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở miền Nam
I ĐÁNH GIÁ THẮNG LỢI, KHUYẾT ĐIỂM SAI LẦM, KINH NGHIỆM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
1 Về thắng lợi
Đánh giá về thắng lợi của cải cách ruộng đất
Hội nghị Trung ương X (10/1956) chỉ rõ đó là một cuộc chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội Nguyện vọng lâu đời của nông dân Việt Nam
đã được thỏa mãn Khẩu hiệu người cày có ruộng đã được thực hiện Trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân lao động đã được nâng cao một phần Hàng triệu nông dân lao động đã thấy rõ chính Đảng ta và chế độ ta đã đưa lại ruộng đất cho họ Sức sản xuất to lớn ở nông thôn đang thay đổi, do đó sức sản xuất nông nghiệp bước đầu được đẩy mạnh, đời sống nông dân bắt đầu được cải thiện Nông thôn đã bước sang một giai đoạn mới trong phát triển nông nghiệp,
mở đường cho công thương nghiệp phát triển và góp phần quan trọng vào công cuộc củng cố miền Bắc, phát triển kinh tế, văn hóa của nhà nước
Về chính trị:
- Đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến (chủ yếu ở miền Bắc)
- Trừng chị bọn Việt gian phản động cường hào
Trang 10- Uy tín chính trị của nông dân được nâng cao, sự lãnh đạo của Đảng được khẳng định trên thực tế
Cải cách ruộng đất tiến hành ở 3653 xã, 22 tỉnh xác định 47890 địa chủ, chiếm 1,87% số hộ, 2,25% nông dân Trong đó có 6220 địa chủ cường hào chiếm 13% số hộ, 14,3% nhân khẩu của địa chủ
Về kinh tế:
- Vĩnh viến xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất, thực hiện quyền sở hữu ruộng đất của nông dân; xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển
- Trong cải cách ruộng đất đã chia 81 vạn ha ruộng đất cho 2223 ngàn hộ, hơn 9 triệu nhân khẩu, 74,8% hộ nông dân
- Nông dân hăng hái sản xuất tự túc được lương thực
- Bộ mặt nông thôn được thay đổi
Về tư tường:
- Vạch rõ danh giới giữa nông dân và địa chủ
- Giác ngộ bần cố nông đi theo Đảng, tin tưởng vào Đảng, vào chế độ
- Khắc phục tư tưởng tự ti, giàu nghèo là do số phận
Về tổ chức:
- Kết hợp cải cách ruộng đất với chỉnh đốn tổ chức đã loại các phần tử xấu thoái hóa biến chất, kém năng lực ra khỏi các tổ chức cách mạng Qua cải cách ruộng đất đã lập được 190249 tổ đổi công, chiếm 58,7% số hộ trong cải cách ruộng đất
- Xây dựng được 285 chi bộ mới, đào tạo được 56980 cán bộ, kết nạp được 20889 đoàn viên thanh niên lao động Kết nạp được 37456 Đảng viên mới, trong đó 99,2% là bần cố nông
Nguyên nhân thắng lợi:
- Đảng có đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo cải cách ruộng đất đúng đắn
- Truyền thống dân tộc, tinh thần hăng hái cách mạng của nông dân, sự đoàn kết, cố kết dân tộc
- Cán bộ Đảng viên kiên định, vững vàng
2 Những sai lầm khuyết điểm của cải cách ruộng đất