MỤC LỤC I ĐỀ BÀI 2 II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 2 1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A 2 2 Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? 6 3 Trường hợp, t.
Trang 1MỤC LỤC
I- ĐỀ BÀI: 2
II- GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG: 2
1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A 2
2 Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? 6
3.Trường hợp, trong số 03 nạn nhân trong vụ án nêu trên có nạn nhân mới 15 tuổi 11 tháng, thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A có thay đổi hay không? Tại sao? 6
4 Khi thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, A mới ra tù được 03 tháng sau khi chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội đánh bạc (khoản 2 Điều 321 BLHS), thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2I- ĐỀ BÀI:
A lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội, kết bạn với nhiều nữ công nhân Khi tạo được tình cảm, A hẹn các cô gái đến khu vực vắng người để tâm sự Lợi dụng đêm tối, đường vắng, A đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực giao cấu với các nạn nhân Khi bỏ đi A còn lấy tiền, điện thoại, dây chuyền của các nạn nhân Trong khoảng 03 tháng, A đã thực hiện hành vi phạm tội với 03 cô gái và chiếm đoạt tài sản của các nạn nhân (tổng tài sản trị giá 15 triệu đồng) A bị bắt và thừa nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình
II- GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:
1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A
Hành vi của A bao gồm: Lợi dụng đêm tối, đường vắng, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực giao cấu với các nạn nhân ( 03 cô gái); lấy tiền, điện thoại, dây chuyền của các nạn nhân ( tổng giá trị tài sản là 15 triệu đồng) Các hành vi này của
A là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, có dấu hiệu của tội phạm và đã làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự A đã xâm phạm đến quyền được tôn trọng nhân phẩm, danh dự của nạn nhân và quan hệ sở hữu Dựa vào các hành vi cũng như khách thể mà A xâm phạm, cần kiểm tra các quy phạm pháp luật hình sự tại khoản
1, khoản 2 Điều 141; khoản 1 Điều 168; Điều 173
- Khoản 1, khoản 2 Điều 141 BLHS: Điều luật quy định về tội hiếp dâm, khoản 1 là CTTP cơ bản và khoản 2 là các tình tiết tăng nặng
Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là quyền được tôn trọng
về nhân phẩm, danh dự của người khác Hành vi của A là lợi dụng đêm tối, đe dọa dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để giao cấu với các nạn nhân dã trực tiếp xâm phạm đến khách thể mà Điều 141 bảo vệ
Mặt khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội này được quy định
là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi
Trang 3dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác1 Xét theo đúng nghĩa, hành vi khách quan của tội hiếp dâm có thể là hành vi giao cấu với người khác trái ý muốn của họ hoặc là hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của
họ Để thực hiện được một trong hai hành vi này, chủ thể phải sử dụng một trong bốn thủ đoạn đã được quy định, trong đó có hai thủ đoạn thể hiện là hành vi cụ thể
Đó là hành vi dùng vũ lực và hành vi đe dọa dùng vũ lực Dấu hiệu hành vi của tội hiếp dâm chỉ đòi hỏi hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác được thực hiện mà không đòi hỏi hành vi này phải kết thúc về mặt sinh lý2 Trái với ý muốn cua người khác khi thực hiện hành vi giáo cấu hoặc quan hệ tình dục khác được hiểu là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội 3
Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý dặc trưng thuộc mặt khách quan của tội Hiếp dâm nêu trên và đối chiếu so sánh với các tình tiết khách quan của vụ
án cho thấy A đã thực hiện hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực giao cấu với các nạn nhân Hành vi trên của A là rất nguy hiểm, xâm hại trực tiếp đến danh
dự, nhân phẩm, sức khỏe của các nạn nhân và chính hành vi đó, A đã thực hiện hành vi phạm tội với 3 cô gái Như vậy A đã thỏa mãn các dấu hiệu về mặt khách quan theo khoản 1 Điều 141 BLHS 2015
Mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội này là lỗi cố ý Người phạm tội biết
hành vi giáo cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục của mình la trái ý muốn nạn nhân nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên4
Khi thực hiện hành vi, A có đủ NLTNHS, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm A cũng nhận thấy được hậu quả của hành mà
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019)- Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm (quyển 1), Nxb Công an
nhân dân, trang116-118
2 GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017
(phần các tội phạm) quyển 1, Nxb Tư pháp
3 Theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 1/10/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của BLHS…,dấu hiệu “trái ý muốn của nạn nhân” được giải thích là “…người bị hại không đồng ý ”
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019)- Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm (quyển 1), Nxb Công an
nhân dân, trang119
Trang 4mình làm tuy vậy nhưng A vẫn “lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội, kết bạn với nhiều nữ công nhân” “A hẹn các cô gái đến khu vực vắng người” “Lợi dụng đêm tối, đường vắng” cố ý thực hiện hành vi giáo cấu nhằm thỏa mãn bản thân
Dấu hiệu nạn nhân của tội phạm: Nạn nhân của tội phạm này có thể là nam
hoặc nữ, độ tuổi của nạn nhân không được quy định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 nhưng từ nội dung của khoảng 4 Điều 141 này chúng ta có thể hiểu nạn nhan của tội này phải từ đủ 16 tuổi trở lên vì nếu dưới 16 tuổi chỉ có thể là nạn nhân của tội Hiếp dâm trẻ em Ở khoản 2 có quy định về tình tiết tăng nặng mà ta cần quan tâm đó là: Phạm tội 02 lần trở lên và Phạm tội đối với 2 người trở lên Đối với phạm tội từ 02 lần trở lên được hiểu là trường hợp chủ thể đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau đối với cùng 01 nạn nhân hoặc đối với các nạn nhân khác nhau Đối với Phạm tội đối với 2 người trở lên được hiểu là trường hợp chủ thể phạm tội đối với nhiều nạn nhân khác nhau
Dựa vào tình tiết vụ án, A đã thực hiện hành vi phạm tội với 03 cô gái trong vòng 03 tháng và sau đó mới bị bắt giữ Như vậy A đã thỏa mãn các dấu hiệu theo điểm đ, khoản 2 Điều 141 BLHS 2015 về Tội hiếp dâm với khung hình phạt là 7 năm đến 15 năm tù
- Khoản 1 Điều 168 BLHS 2015: Tội cướp tài sản:
Khách thể của tội phạm: Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời 2 quan hệ xã
hội được luật hình sự bảo vệ đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Ở vụ án này, A đã chiếm đoạt tài sản của các nạn nhân, chính là xâm phạm đến quyền sở hữu của họ
Mặt khách quan: Điều 168 quy định 03 dạng hành vi khách quan của tội cướp tài
sản: hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của nạn nhân Như vậy, ngay từ dấu hiệu hành vi đầu tiên,
ta có thể thấy hành vi của A hoàn toàn trùng khớp Sau khi thực hiện hành vi dùng
Trang 5vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để giao cấu với các nạn nhân, các nạn nhân trên đã không còn sức chống cự và họ không thể chống lại việc chiếm đoạt của A
Mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Mục đích phạm tội
được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản Thông thường, khi thực hiện tội cướp tài sản, người phạm tội có ý thức chiếm đoạt trước khi có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Tuy nhiên, theo khoa học luật hình
sự, mục đích phạm tội không được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Bản chất hành vi trong mặt khách quan của tội cướp tài sản là chiếm đoạt được và hành vi chiếm đoạt đã thể hiện được bản chất của tội này (bao hàm cả mục đích chiếm đoạt), đồng thời là căn cứ phân biệt tội cướp tài sản với các tội khác, nhất là đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Trường hợp này,
có thể ban đầu A chưa có ý định cướp tài sản nhưng tất cả hành vi dùng vũ lực và đưa các nạn nhân vào tình trạng không thể kháng cự được rồi chiếm đoạt tài sản đã thể hiện được bản chất của việc cướp tài sản
Như vậy, qua phân tích trên, A đã phạm tội cướp tài sản theo quy định tại khoản
1 Điều 168 BLHS 2015 với khung hình phạt là từ 3 năm đến 10 năm tù
Tóm lại: A phạm tội hiếp dâm và tội cướp tài sản Tội danh và hình phạt quy
định tại khoản 2 Điều 141 và khoản 1 Điều 168 BLHS Khung hình phạt cho A với tội hiếp dâm là từ 7 năm đến 15 năm tù và từ 3 năm đến 10 năm đối với Tội cướp tài sản
Căn cứ pháp lý:
Khoản 2 Điều 141 BLHS: Tội hiếp dâm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến
15 năm:
đ) Đối với 02 người trở lên;
Khoản 1 Điều 168 BLHS: Tội cướp tài sản
1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm
Trang 62 Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù?
Như đã kết luận tại câu 1, A đã phạm 2 tội đó là: Hiếp dâm theo Điều 141 BLHS 2015 với tình tiết tặng nặng theo khoản 2 và tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015
Đối với tội Hiếp dâm, A đã có thêm 2 tình tiết tăng nặng đó là điểm d) Phạm tội 02 lần trở lên và điểm đ) đối với 02 người trở lên theo khoản 2 Điều 141 vì vậy nên mực phạt nặng nhất mà A có thể phả chịu là 15 năm tù
Đối với tội Cướp tài sản, A sẽ bị kết án theo khoản 1 Điều 168 BLHS với mức hình phạt nặng nhất là 10 năm tù
Như vậy, tổng hợp hình phạt mà A phải chịu cho 2 tội danh trên là 25 năm tù
3 Trường hợp, trong số 03 nạn nhân trong vụ án nêu trên có nạn nhân mới
15 tuổi 11 tháng, thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của
A có thay đổi hay không? Tại sao?
Dựa vào các dấu hiệu về mặt chủ quan, mặt khách quan và chủ thể của hành
vi của A như đã phân tích ở câu 1, ta có thể khẳng định rằng A vẫn phạm tội hiếp dâm, tuy nhiên nạn nhân ở đây lại có người dưới 16 tuổi ( 15 tuổi 11 tháng) nên trong trường hợp này ta có thể khẳng định thêm, ngoài tội hiếp dâm theo điều 141
và cướp tài sản theo điều 168 thì A còn vi phạm thêm một tội nữa đó là tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo điều 142 BLHS vì theo dấu hiệu pháp lý của Điều 142, trong trường hợp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, hành vi phạm tội của tội này được quy định như hành vi phạm tội của tội hiếp dâm (Điều 141)5
Trường hợp 1: Trong số 3 nạn nhân có 2 người dưới 16 tuổi, người còn lại từ
đủ 18 tuổi trở lên: Trong trường hợp này, dấu hiêu nạn nhân của vụ án có sự thay đổi, không còn là 3 người từ đủ 18 tuổi trở lên nữa mà sẽ có 2 nạn nhân dưới 16 tuổi Chính vì vậy nên tội danh cũng như khung hình phạt dành cho A sẽ bị thay đổi, A sẽ phạm thêm Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 142 BLHS với 2 tình tiết tăng nặng đó là đ) phạm tội 02 lần trở lên và e) đối
5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019)- Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm (quyển 1), Nxb Công an
nhân dân, trang 121
Trang 7với 2 người trở lên Như vậy khung hình phạt của A khi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi sẽ là từ 12 năm- 20 năm tù
Như vậy: A phạm Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Tội cướp
tài sản Tội danh và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 141, khoản 2 Điều 142 và khoản 1 Điều 168 BLHS Khung hình phạt cho A với tội hiếp dâm là từ 7 năm đến
15 năm tù, khung hình phạt với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là từ 12 năm đến
20 năm tù và từ 3 năm đến 10 năm đối với Tội cướp tài sản
Trường hợp 2: Trong số 3 nạn nhân, chỉ có một người dưới 16 tuổi, 2 người còn
lại đều từ đủ 18 tuổi trở lên: Trong trường hợp này, dấu hiệu về nạn nhân cũng có
sự thay đổi tuy nhiên chỉ có 1 người dưới 16 tuổi nên sẽ định tội A theo khoản 1 Điều 142 BLHS mà không có tình tiết tăng nặng nào Như vậy khung hình phạt cho tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi của A sẽ là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm
Như vậy: : A phạm Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Tội cướp
tài sản Tội danh và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 141, khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 168 BLHS Khung hình phạt cho A với tội hiếp dâm là từ 7 năm đến
15 năm tù, khung hình phạt với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là từ 7 năm đến 15 năm tù và từ 3 năm đến 10 năm đối với Tội cướp tài sản
Căn cứ pháp lý: Khoản 1, 2 Điều 142 BLHS 2015:
1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất loạn luân;
b) Làm nạn nhân có thai;
Trang 8c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương
cơ thể từ 31% đến 60%;
d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
đ) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Đối với 02 người trở lên;
h) Tái phạm nguy hiểm
4 Khi thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, A mới ra tù được 03 tháng sau khi chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội đánh bạc (khoản 2 Điều 321 BLHS), thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Căn cứ pháp lý:
Điểm b, khoản 1 Điều 9: Phân loại tội phạm:
b, Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là
từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
Khoản 1 Điều 53: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1, Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý
A đã đi tù 3 năm về tội đánh bạc theo khoản 2 Điều 321 BLHS có khung hình phạt là phạt tù từ 3 năm- 7 năm nên xét theo điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 quy định về phân loại tội phạm thì tội đánh bạc của A là tội phạm nghiêm trọng
Về án tích, A mới ra tù được 3 tháng sau khi phạm tội đánh bạc và bị phạt tù
theo khoản 2 Điều 321 với mức án tù là 3 năm Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều
70 BLHS thì “Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành
xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi
Trang 9phạm tội mới trong thời hạn 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm” Vậy, trong tình huống này, A chưa được xóa án tích
Xét đến vụ án, sau khi mới ra tù được 03 tháng thì A đã phạm tội Hiếp dâm
và tội Cướp tài sản theo điều 141 và Điều 168 BLHS và đều là lỗi cố ý Chính vì
vậy nên căn cứ theo khoản 1 Điều 53 BLHS 2015 về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
ta có thể kết luận được trường hợp phạm tội của A là tái phạm
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 1/10/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143,
144, 145, 146, 147 của BLHS 2015
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019)- Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm (quyển 1), Nxb Công an nhân dân
4 Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 ( phần các tội phạm) quyển 1, Nxb Tư pháp
5 Trịnh Quốc Toản (2012), Định tội danh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6 https://plo.vn/plo/chiem-doat-tai-san-nhung-chua-ro-toi-448904.html