1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận pháp luật về trung gian thương mại 2

50 381 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về trung gian thương mại
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Đăng Duy
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật thương mại
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 218,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các hoạt động trung gian thương mại này, bên được thuê làm dịch vụ làngười trung gian nhận sự ủy quyền của bên thuê dịch vụ và thay mặt bên thuê dịch vụthực hiện các hoạt động thươ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

Đề tài: Pháp luật về trung gian thương mại

Khái niệm, bản chất, phân biệt các loại trung gian thương mại, các vấn đề pháp lý

về trung gian thương mại; các bất cập (nếu có) trong quy định pháp luật hiện hành

MỤC LỤC:

1 Khái niệm hoạt động trung gian thương mại

2 Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại

3 Quy định pháp luật về hoạt động trung gian thương mại

4 Các hoạt động trung gian thương mại

5 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động trung gian thương mại

6 Sự hình thành pháp luật về hoạt động trung gian thương mại ở nước ta

7 Các hạn chế trong hoạt động trung gian thương mại (ở đây chọn vấn đề trong môi giới thương mại)

8 Tài liệu tham khảo

Bài làm:

1 Khái niệm hoạt động trung gian thương mại

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụgiữa các thương nhân thông qụa mua bán là điều kiện quan họng cho sự tồn tại và pháttriển của xã hội Khi mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trường, tùy thuộc vàođối tượng giao dịch, thời gian giao dịch, thị trường cũng như tính chất, thời cơ của từngthương vụ, thương nhân có thể lựa chọn phương thức giao dịch cho phù hợp

Giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịchtrong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hàng hoá (người cungứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch phảithông qua một người trung gian Trong phương thức giao dịch qua trung gian sẽ xuất hiệnmột chủ thể thứ ba, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bên còn lại trong quan hệ và

là người thực hiện dịch vụ theo sự ủy quyền và vì lợi ích của người khác để hưởng thùlao Phương thức giao dịch qua trung gian được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực phânphối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông qua bên trung gian giúp họ tiếp cận vớikhách hàng, với người tiêu dùng một cách nhanh chóng hơn

Dưới giác độ pháp lý, hiện tượng thương nhân nhận ủy quyền của người khác

để tiến hành các hoạt động vì lợi ích của bên ủy quyền để mua, bán hàng hoá hoặc cungứng dịch vụ thương mại được pháp luật một số nước khái quát bằng khái niệm “trunggian tiêu thụ” hoặc “đại diện thương mại” Các hiện tượng này được khái quát theo luậtAnh - Mĩ dưới khái niệm Agency, luật Pháp: Agent commercial, luật Đức: Absazmittler

Ở Việt Nam, “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định,

Trang 3

bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.” (Khoản 11, Điều 3, Luật Thương mại 2005)

2 Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại

Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch

vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian Bên trung gianđược bên thuê dịch vụ trao quyền tham gia vào việc xác lập, thực hiện giao dịch thươngmại với bên thứ ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao

Trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môigiới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) có vai trò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ

ba Bên trung gian thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại vớibên thứ ba không vì lợi ích của bản thân mình mà vì lợi ích của bên thuê dịch vụ (bên ủyquyền) Tuy nhiên, bên trung gian (bên được ủy quyền) sẽ được hưởng thù lao khi hoànthành nhiệm vụ bên ủy quyền giao phó

Trong các hoạt động trung gian thương mại này, bên được thuê làm dịch vụ làngười trung gian nhận sự ủy quyền của bên thuê dịch vụ và thay mặt bên thuê dịch vụthực hiện các hoạt động thương mại với bên (hoặc các bên) thứ ba Bên thuê dịch vụ sẽ

ủy quyền cho bên thực hiện dịch vụ thay mặt mình mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụthương mại với bên thứ ba (bên này có thể do bên ủy quyền chỉ định trước hoặc do bênđược ủy quyền tìm kiếm theo yêu cầu của bên ủy quyền), theo đó bên được ủy quyền sẽ

có nhiệm vụ đàm phán giao dịch với bên thứ ba để thực hiện việc mua bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ cho bên ủy quyền theo yêu cầu của bên ủy quyền Khi giao dịch vớibên thứ ba, thương nhân trung gian có thể sử dụng danh nghĩa của mình hoặc danh nghĩacủa bên thuê dịch vụ Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, trong trường hợpthực hiện hoạt động đại lý thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá hoặc môi giới thươngmại, thương nhân trung gian sử dụng danh nghĩa của chính mình, còn khi thực hiện hoạtđộng đại diện cho thương nhân thì họ lại nhân danh bên ủy quyền để giao dịch với bênthứ ba Điều này có ý nghĩa quan ữọng đối với việc xác định các nghĩa vụ phát sinh tronggiao dịch đối với bên thứ ba sẽ thuộc về ai

Thứ hai, bên trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với

bên thuê dịch vụ và bên thứ ba

Để thực hiện các hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đạidiện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo quy định tạiĐiều 6 Luật Thương mại năm 2005 Đối với một số hoạt động trung gian thương mạinhư: ủy thác mua bán hàng hoá, ngoài điều kiện là thương nhân bên trung gian còn phải

có điều kiện khác như phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoáđược ủy thác (Điều 156 Luật Thương mại năm 2005)

Trong quan hệ với bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) và bên thứ ba, bên trunggian thực hiện các hoạt động thương mại với tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập và tự do.Bên trung gian là bên được ủy quyền cung ứng một dịch vụ thương mại cho bên ủy

Trang 4

quyền chứ không phải là người làm công ăn lương Điều này thể hiện qua việc bên trunggian cô trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự định đoạt thời gian làm việc, tự chịutrách nhiệm về các hoạt động của mình Điều này giúp ta phân biệt bên trung gian tronghoạt động thương mại với các chi nhánh, vãn phòng đại diện do thương nhân lập ra đểthực hiện hoạt động kinh doanh của thương nhân và những người lao động làm thuê chothương nhân cũng như những người có chức năng đại diện như: giám đốc doanh nghiệp,thành viên hợp danh của công ty hợp danh Các chủ thể nói trên không có tư cách pháp lýđộc lập và chỉ được thực hiện các hoạt động trong phạm vi, quyền hạn theo quy địnhtrong nội bộ của thương nhân đó.

Thứ ba, hoạt động trung gian thương mại song song tồn tại hai nhóm quan hệ:

(i) quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ; (ii) quan hệ giữabên thuê dịch vụ, bên trung gian thực hiện dịch vụ với bên thứ ba Các quan hệ này đềuphát sinh trên cơ sở hợp đồng

Xuất phát từ đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động trung gian thương mại làloại hoạt động trong đó bên thuê dịch vụ sẽ trao cho bên trung gian quyền tham gia thiếtlập, thực hiện các giao dịch thương mại Do đó, để thực hiện hoạt động trung gian thươngmại, trước tiên bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứngdịch vụ trung gian phải thiết lập được quan hệ với nhau Quan hệ giữa bên thuê dịch vụ

và bên trung gian thực hiện dịch vụ đuợc thiết lập trên cơ sở tự do, thống nhất ý chí củacác bên và hình thức của nó là hợp đồng

Tuy nhiên, hoạt động trung gian thương mại sẽ không thể thực hiện được nếuchỉ tồn tại quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian Đe thực hiện hoạt động này,bên trung gian phải tham gia giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên thuêdịch vụ giao cho Khi tham gia giao dịch với bên thứ ba, bên trung gian có thể làm việcvới nhiều tư cách Họ có thể tạo ra một giao dịch thương mại nhân danh chính mình hoặcnhân danh bên thuê dịch vụ nhưng cũng có thể họ chỉ thực hiện nhiệm vụ giới thiệu bênthứ ba với bên thuê dịch vụ mà không có quan hệ gì với bên thứ ba

Trong trường hợp bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với bênthứ ba nhân danh bên thuê dịch vụ (trong phạm vi được ủy quyền) sẽ làm phát sinh quan

hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Trong trường hợp bên trung gian nhândanh chính mình thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ ba thì quan hệ hợpđồng sẽ phát sinh giữa bên trung gian với bên thứ ba Tùy thuộc vào đối tượng của hợpđồng giao kết với bên thứ ba mà các hợp đồng đó có thể là hợp đồng mua bán hàng hoáhoặc hợp đồng dịch vụ

Các hoạt động dịch vụ trung gian thương mại đều phát sinh trên cơ sở hợpđồng như: hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng môi giới thương mại; hợp đồng

ủy thác mua bán hàng hoá; hợp đồng đại lý thương mại Các hợp đồng này đều cố tínhchất là hợp đồng song vụ, ưng thuận và có tính đền bù Hình thức của các hợp đồng đạidiện cho thương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý thương mạiphải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

Trang 5

với văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra,được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức kháctheo quy định của pháp luật.

3 Quy định của pháp luật về hoạt động trung gian thương mại

Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian

thương mại tại khoản 11 Điều 3 như sau:

“Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lýthương mại”

Chương V với 37 điều (từ Điều 141 đến Điều 177), Luật Thương mại năm

2005 quy định cụ thể về từng hoạt động trung gian thương mại.

Chủ thể tham gia vào hoạt động trung gian thương mại:

Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, chủ thể tham gia vào

hoạt động trung gian thương mại đều phải là thương nhân

=> Tức là bên trung gian phải là thương nhân, có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 thì thương nhân bao gồm:

tư cách pháp lý độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình

Theo quy định tại Điều 141 và Điều 167 Luật Thương mại năm 2005 thì bên thuê dịch

vụ không nhất thiết phải là thương nhân trừ bên giao đại diện và bên giao đại lý thươngmại phải là thương nhân Bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thươngnhân (Điều 157 Luật Thương mại) Còn bên được môi giới có bắt buộc phải là thươngnhân hay không, chưa được thể hiện rõ trong Luật Thương mại

Như vậy, pháp luật chỉ yêu cầu chủ thể bắt buộc là thương nhân đối với bên trung giantrong tất cả các hoạt động trung gian thương mại Tùy trong từng hoạt động cụ thể, bênthuê dịch vụ và bên thứ ba có thể là thương nhân hoặc không

Cơ sở phát sinh quan hệ trung gian thương mại:

Cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ trung gian thương mại là hợp đồng do sự thỏa thuận củacác bên Trong hoạt động trung gian thương mại, quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và

Trang 6

bên thuê dịch vụ thường có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và phát sinh trên cơ sởhợp đồng Đó là các hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại,hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa và hợp đồng đại lý thương mại.

Theo Điều 142, 159, 168 Luật Thương mại năm 2005, các hợp đồng đại diện cho

thương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý phải được lập thànhvăn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Như vậy, các thỏa thuậntrong các loại hợp đồng trên không thể giao kết bằng lời nói Tuy nhiên, đối với hợp đồngmôi giới, Luật Thương mại năm 2005 không quy định hình thức của loại hợp đồng nàynên theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Luật Thương mại năm 2005 thì hợp đồng môi giới

có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụthể

4 Các hoạt động trung gian thương mại

Có 4 hình thức trung gian thương mại bao gồm: Đại diện cho thương nhân; Môi giớithương mại; Ủy thác mua bán hàng hóa; Đại lý thương mại

1 Đại diện cho thương nhân

Căn cứ pháp lý: mục 1 chương 5 Luật thương mại 2005

Khái niệm: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bênđại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt độngthương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao

về việc đại diện

Đặc điểm: Chủ thể: Bên giao đại diện và bên đại diện

Điều kiện: Cả hai bên đều phải là thương nhân

Trong quan hệ đại diện, người làm đại diện phải giao dịch với bên thứ ba trên danh nghĩacủa bên giao đại diện và phải hành động theo sự hướng dẫn của bên giao đại diện

Phạm vi đại diện: Các bên có thể thỏa thuận về phạm vi của việc đại diện; bên đại diện cóthể thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt độngcủa bên giao đại diện

Hình thức pháp lý: Thông qua Hợp đồng đại diện cho thương nhân Hợp đồng phải đượcthể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương

Quyền hưởng thù lao đại diện: Bên đại diện được hưởng thù lao đối với hợp đồng đượcgiao kết trong phạm vi đại diện Quyền được hưởng thù lao phát sinh từ thời điểm do cácbên thoả thuận trong hợp đồng đại diện

2 Môi giới thương mại

Căn cứ pháp lý: mục 2 chương 5 Luật thương mại 2005

Trang 7

Khái niệm: Môi giới thương mại là hoạt động thương mại; theo đó một thương nhân làmtrung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi làbên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ

và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới

Đặc điểm: Chủ thể: Bên môi giới và bên được môi giới

Điều kiện: Theo quy định của Luật Thương mại 2005, bên môi giới bắt buộc phải làthương nhân và phải có đăng kí kinh doanh ngành nghề môi giới thương mại

Phạm vi môi giới: Phạm vi môi giới thương mại khá rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa,dịch vụ mà pháp luật cho phép

Hình thức pháp lí: Thông qua hợp đồng môi giới

Quyền hưởng thù lao môi giới: Phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợpđồng với nhau

3 Ủy thác mua bán hàng hóa

Căn cứ pháp lý: mục 3 chương 5 Luật thương mại 2005

Khái niệm: Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thácthực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏathuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác

Đặc điểm: Chủ thể: Bên ủy thác và bên nhận ủy thác

Điều kiện: Bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân; nhưngbên nhận ủy thác bắt buộc phải là thương nhân

Bên nhận ủy thác sử dụng danh nghĩa của chính bên nhận ủy thác để mua hoặc bán hànghóa thay cho bên ủy thác Đồng thời, bên nhận ủy thác không được quyền ủy thác lại chobên thứ ba thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nếu như không có sự chấpthuận bằng văn bản của bên ủy thác

Phạm vi: Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa trong phạm vi ủy thác củabên ủy thác

Hình thức pháp lý: Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc phải được lập bằng vănbản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương

4 Đại lý thương mại

Căn cứ pháp lý: mục 3 chương 5 Luật thương mại 2005

Khái niệm: Đại lý thương mại là hoạt động thương mại; theo đó bên giao đại lý và bênđại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giaođại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao

Đặc điểm:

Trang 8

Chủ thể: Bên giao đại lý và bên đại lý.

Điều kiện: Cả hai bên đều phải là thương nhân

Trong quan hệ thương mại này, bên đại lý sẽ nhân danh chính mình để giao dịch vớikhách hàng

Phạm vi: Bên đại lý sẽ theo thỏa thuận, thực hiện bán hàng cho bên giao đại lý hoặc muahàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ giao đại lý cho khách hàng

Hình thức pháp lý: Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thứckhác có giá trị pháp lý tương đương

5 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động trung gian thương mại

Việc sử dụng các dịch vụ trung gian thương mại có vai trò quan trọng đối với

sự phát triển kinh doanh của thương nhân cũng như nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, bởi những tác dụng sau:

Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại mang lại hiệu quả lớn cho các

thương nhân trong quá trình tổ chức mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ởtrong nước cũng như ở ngoài nước

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hoá, hoạt động thương mại vượt ra ngoài lãnh thổ củamột nước, vai trò của các trung gian thương mại không chỉ được quan tâm trong hoạtđộng thương mại nội địa mà được chú trọng trong thương mại quốc tế Thương nhânkhông thể mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín của mình nếu không vươn tới thịtrường nước ngoài Khi xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài, các nhà xuất khẩu sẽgặp nhiều khó khăn và luôn phải đối mặt với những rủi ro về việc lựa chọn đối tác, về thịtrường, về tín dụng, về sự am hiểu pháp luật của nước nhập khẩu Các rủi ro này có thểhạn chế được nếu nhà xuất khẩu hợp tác với các trung gian thương mại của nước nhậpkhẩu

Thứ hai, các hoạt động trung gian thương mại góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu

thông hàng hoá và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển

Hoạt động trung gian thương mại phát triển làm cho khối lượng hàng hoá lưu thông trênthị trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong một nước cũng như giữa cácnước với nhau được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế của đất nước Hơnnữa thông qua các trung gian thương mại mà người sản xuất có thể thiết lập một hệ thốngphân phối hàng hoá đa dạng Mặt khác, các trung gian thương mại giúp thương nhân nắmbắt những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường trong nước, thị trường ngoài nước mộtcách kịp thời Từ đó, đánh giá chính xác nhu cầu thị trường và tiến hành các hoạt độngkinh doanh theo nhu cầu của thị trường Trên cơ sở đó mà mở rộng thị trường tiêu thụhàng hoá, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Trên thực tế, hoạt động thương mại qua trung gian đặc biệt là hoạt động đại lýđược đánh giá là một phương thức kinh doanh có lợi cho người tiêu dùng Khách hàng có

Trang 9

thể tiếp cận dễ dàng, thuận tiện và nhanh chóng với các sản phẩm chính hãng qua mạnglưới đại lý có mặt tại nhiều nơi Người tiêu dùng có thể yên tâm với chất lượng sản phẩm,hàng hoá và giá cả khi mua hàng tại các đại lý.

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, phương thức kinh doanh qua cáctrung gian thương mại cũng có những mặt trái của nó Nhược điểm lớn nhất của phươngthức kinh doanh này là bên thuê dịch vụ sẽ không liên hệ trực tiếp với thị trường mà hoạtđộng thông qua người trung gian Do đó, việc kinh doanh của bên thuê dịch vụ sẽ bị phụthuộc vào năng lực và phẩm chất của người trung gian và lợi nhuận cùa họ bị chia sẻ chobên trung gian Thực tế đã cho thấy, có nhiều tranh chấp phát sinh trong hoạt động trunggian thương mại Các tranh chấp này khá phong phú, đa dạng về chủ thể cũng như nộidung Chúng có thể là tranh chấp giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian phát sinh từviệc bên trung gian không trung thực làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên thuê dịch vụ hoặckhi bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ trả thù lao hay đã đơn phương chấm dứthợp đồng hoặc là tranh chấp giữa bên thứ ba với bên thuê dịch vụ, bên trung gian do cácbên không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình

6 Sự hình thành pháp luật về hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam

Trên thế giới, hoạt động thương mại qua trung gian đã xuất hiện từ lâu, do nhucầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân Người tacho rằng vào khoảng thế kỉ XIII, khi vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khácbắt đầu được thực hiện bằng đường biển, các thương gia, những nhà đầu tư vốn khi cầnphải vận chuyển hàng hoá của mình sang nước khác bằng tàu thủy thì họ đã ở lại đấtnước của mình và giao hàng hoá, tiền bạc cho một người để người này theo tàu đi đếnnước khác thực hiện việc giao hàng tại cảng đến và mua hàng đem về để kiếm lời Ngườinày được gọi là người nhận ủy thác, họ sẽ được nhận một khoản tiền là một phần lợinhuận của bên ủy thác do việc thực hiện công việc của mình Đó là khởi nguồn của việc

sử dụng các dịch vụ trung gian thương mại

Sau đó, cùng với sự phát triển của các hoạt động thương mại trên thế giới, cácloại hình dịch vụ trung gian thương mại cũng lần lượt xuất hiện Đặc biệt, từ nửa sau củathế kỉ XIX khi các quan hệ quốc tế gia tăng đáng kể thì việc sử dụng dịch vụ trung gianthương mại trong hoạt động kinh doanh của thương nhân càng trở nên có ý nghĩa Đếnnay, ở hầu hết các nước đều tồn tại các hoạt động thương mại qua trung gian là: Đại diệnthương mại, đại lý thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá, môi giới thương mại

Pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại qua trung gian ở các nước khônggiống nhau Các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mĩ không có quy định riêngđiều chỉnh các dịch vụ trung gian trong hoạt động thương mại Tất cả các giao dịch quatrung gian bất kể nhằm mục đích gì cũng được quy định chung trong “Law of agency”(luật đại diện) Luật đại diện của Anh - Mĩ dùng thuật ngữ bên đại diện (agent) để chỉnhững người thực hiện một hoặc một số hành vi theo sự ủy quyền của bên ủy quyền(Principal) với danh nghĩa của bên ủy quyền hay với danh nghĩa của chính mình vì lợi íchcủa bên ủy quyền

Trang 10

Ở Việt Nam, trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hoạt động trunggian thương mại chủ yếu tồn tại trong lĩnh vực kinh tế quốc tế do nhu cầu giao lưu kinh tếgiữa các nước, còn ở trong nước thì các hoạt động trung gian thương mại chưa có điềukiện để hình thành Trong thời kì này, một số văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Ngoạithương dưới hình thức thông tư được ban hành để điều chỉnh các hoạt động ủy thác xuấtnhập khẩu và việc đặt đại lý mua bán hàng hoá ở nước ngoài (Thông tư số 03-BNg/XNKngày 11/4/1984 về ủy thác xuất nhập khẩu; Thông tư số 04-BNg/XNK về việc đặt đại lýmua bán hàng hoá ở nước ngoài).

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, do nhu cầu của việc trao đổi hàng hoádịch vụ, các hoạt động trung gian thương mại đã xuất hiện và cần phải có pháp luật điềuchỉnh các hoạt động này Ngày 10/5/1997 Quốc hội nước ta thông qua Luật Thương mại,Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1998 Luật Thương mại năm 1997 chỉ điềuchỉnh các hành vi thương mại của thương nhân, đó là những hành vi mua bán hàng hoá,cung ứng các dịch vụ thương mại gắn với việc mua bán hàng hoá (trong đó có các dịch

vụ đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá, đại lý muabán hàng hoá) Luật Thương mại năm 1997 chưa đưa ra khái niệm hoạt động trung gianthương mại, tuy nhiên, các dịch vụ đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủythác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá được quy định từ Điều 83 đến Điều 127của Luật này chính là các dịch vụ trung gian thương mại Các dịch vụ trung gian thươngmại theo Luật Thương mại năm 1997 chỉ bó hẹp trong các hoạt động dịch vụ làm trunggian để mua bán hàng hoá (ủy thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá), cungứng dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hoá mà thôi Mặt khác, phạm vi hoạt động củacác dịch vụ trung gian thương mại theo Luật Thương mại năm 1997 còn bị giới hạn ởkhái niệm hàng hoá (Khoản 3 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997) Do đó, nhiều dịch vụtrung gian nhằm mục đích kiếm lời như môi giới bảo hiểm, môi giới chứng khoán, môigiới hàng hải không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này

Sau khi Luật Thương mại năm 1997 được thông qua, cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đã ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, trong đó có một số vănbản hướng dẫn, quy định cụ thể về các dịch vụ trung gian thương mại như: Nghị định số57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thươngmại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài;Nghị định số 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP; Thông tư số 18/1998/TT-BTM ngày28/8/1998 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 57/1998/NĐ-CP

Sau gần 7 năm thi hành, Luật Thương mại năm 1997 đã bộc lộ nhiều bất cậpcần phải được sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện phát triển hoạt động thương mại trongnước cũng như quốc tế Do đó, ngày 14/6/2005 Quốc hội khoá XI kì họp thứ 7 đã thôngqua Luật Thương mại mới, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 và thay thếcho Luật Thương mại năm 1997 Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra định nghĩa hoạtđộng trung gian thương mại và có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung, quy định mới về các hoạt

Trang 11

động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá, đại lýthương mại so với Luật Thương mại năm 1997.

Trong ngày 14/6/2005, cùng với việc thông qua Luật Thương mại, Quốc hội

đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 vàthay thế Bộ luật dân sự năm 1995)

Ngày 24/11/2015 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật dân sự mới thay cho

Bộ luật dân sự năm 2005 Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý vềcách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cánhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độclập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Có thể khẳng định: Bộ luật dân sự là luật “gốc” điềuchỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ thương mại nói chung và các quan hệ phátsinh ưong hoạt động trung gian thương mại nói riêng

7 Các hạn chế trong hoạt động môi giới thương mại

Môi giới thương mại là một loại hình dịch vụ được phát triển ở nước ta trongnhững năm gần đây Môi giới thương mại là một hoạt động thương mại và được pháp luậtđiều chỉnh tại Luật thương mại 2005 Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy hoạt động môigiới vẫn gặp khá nhiều vướng mắc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chính ngànhdịch vụ này cũng như nền kinh tế

Môi giới thương mại được hiểu theo Điều 150 Luật thương mại 2005 là “hoạtđộng thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho cácbên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán,giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môigiới”

So với các hoạt động trung gian thương mại khác được quy định trong Luậtthương mại 2005, có thể thấy đối với môi giới thương mại luật không quy định về hìnhthức của hợp đồng, trong khi đó các hoạt động trung gian thương mại khác đều có quyđịnh về hình thức của hợp đồng phát sinh giữa bên thực hiện dịch vụ và bên nhận dịch

vụ Luật thương mại 2005 không đề cập tới vấn đề hình thức của hợp đồng môi giớithương mại, điều này tạo điều kiện cho các hoạt động môi giới có thể tiến hành nhanhchóng, thuận tiện Tuy nhiên việc không quy định như vậy cũng có mặt trái, đó là làmphát sinh những vấn đề tiềm ẩn về tranh chấp giữa các bên thực hiện dịch vụ môi giới vàbên được môi giới Trên thực tế có những hợp đồng môi giới được giao kết với giá trị lớnnhư môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới đưa người lao động ra nướcngoài làm việc… việc không quy định về hình thức của hợp đồng rất dễ gây rủi ro chocác bên đặc biệt là những hợp đồng có giá trị lớn như trên Để tránh những vướng mắcnày xảy ra giữa các bên, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về hợp đồng mội giới thươngmại sao cho có sự phù hợp, thống nhất với các hoạt động môi giới chuyên ngành khác

Một vướng mắc khác mà hoạt động môi giới thương mại trong thực tế gặpphải, đó là vấn đề về chế độ thanh toán chi phí, thù lao Thù lao trong hoạt động thương

Trang 12

mại là khoản tiền mà bên được môi giới phải trả cho bên môi giới khi bên môi giới giúpbên được môi giới làm việc với bên thứ ba Thù lao có thể bao gồm cả những chi phí màbên môi giới bỏ ra khi thực hiện công việc giao dịch, được gọi là chi phí môi giới Luậtthương mại 2005 chưa có quy định về trường hợp khi các bên không có thỏa thuận thì khinào bên môi giới được hưởng thù lao môi giới, khi nào được hưởng chi phí môi giới Haytrường hợp bên môi giới ký hợp đồng môi giới với cả hai bên được môi giới thì thù laotính như thế nào Chính vì vậy pháp luật cần có quy định rõ hơn về thù lao môi giới, ví dụnhư nếu bên được môi giới giao kết thành công hợp đồng với bên thứ ba, thì thù lao môigiới phải do cả hai bên này cùng thanh toán; nếu giao kết hợp đồng với bên thứ ba khôngthành công thì bên được môi giới phải thanh toán thù lao bao gồm cả chi phí môi giới màbên môi giới đã bỏ ra Đối với trường hợp bên môi giới giao kết hợp đồng với cả hai bênđược môi giới thì thù lao được xét trong mối quan hệ giao dịch thương mại, chứ bên môigiới không thể hưởng thù lao từ cả hai bên được môi giới trong cùng một giao dịch.

Việc điều chỉnh các quy định pháp luật về hoạt động môi giới là rất cần thiết,tạo điều kiện cho ngành dịch vụ này được tiến hành dễ dàng, thuận tiện hơn, tránh đượcnhiều rủi ro phát sinh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như nềnkinh tế phát triển Hy vọng sắp tới pháp luật sẽ có sự điều chỉnh sát với thực tế hơn nữa

để hạn chế được tối thiểu nhất những rủi ro mà các doanh nghiệp có thể gặp phải tronghoạt động môi giới thương mại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hiện nay, ở Việt Nam pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại bao gồm cácvăn bản pháp luật chủ yếu sau:

- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật Thương mại năm 2005;

- Các luật khác có quy định về các hoạt động thương mại đặc thù như: Luật Kinh doanhbảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm

2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật Du lịch năm

2017, Luật Quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và 2016), LuậtChứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Luật Kinh doanh bất động sản năm

Trang 13

2015 là: mọi hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liênquan; hoạt động thương mại đặc thù được quy định ưong luật khác thì áp dụng quy địnhcủa luật đó Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưngtrái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật dân sự được ápdụng.

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, thế giới đang chứng kiến sự biếnđổi qua từng ngày của những hình thức giao dịch Thay vì phương thức giao dịch trựctiếp đã tồn tại suốt hang ngàn năm lịch sử loài người, nay nó không còn là sự lựa chọn tối

ưu của các thương nhân cũng như là khách hàng nữa Như chúng ta cũng biết, nhu cầu

mở rộng mô hình kinh doanh, thành lập các tập đoàn, công ty có quy mô toàn cầu đang làmục tiêu to lớn của các chủ doanh nghiệp Từ đó, họ có thể tiếp cận được nhiều đối tượngkhách hàng hơn, và quan trọng hơn cả là mở rộng thị trường Chính vì lẽ đó mà các công

ty, tập đoàn chuyên cung ứng dịch vụ trung gian thương mai được ra đời nhằm đáp ứngnhững yêu cầu mà các chủ doanh nghiệp đưa ra

Bài tiểu luận sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản về khái niệmchung gian thương mại, hình thức hoạt động và đặc điểm cơ bản của nó Đầy có thể được

sử dụng như một tài liệu tham khảo cho những bài nghiên cứu khoa học về chủ để nàyhoặc có thể là tài liệu cho những ai đang muốn bước chân vào công cuộc hợp tác cũngnhư xây dựng mô hình trung gian thương mại trong tương lại

I Khái niệm

Ở Việt Nam, hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiệncác giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạtđộng đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lýthương mại (Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005)

Có thể hiểu một cách đơn giản, giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại làphương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bánhàng hoá (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điềukiện giao dịch phải thông qua một người trung gian Trong phương thức giao dịch quatrung gian sẽ xuất hiện một chủ thể thứ ba, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bêncòn lại trong quan hệ và là người thực hiện dịch vụ theo sự ủy quyền và vì lợi ích củangười khác để hưởng thù lao Phương thức giao dịch qua trung gian được thực hiện chủyếu trong lĩnh vực phân phối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông qua bên trunggian giúp họ tiếp cận với khách hàng, với người tiêu dùng một cách nhanh chóng hơn

II Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại

Trang 14

1 Đặc điểm thứ nhất

Đây là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thứcgiao dịch qua trung gian Theo đó, bên trung gian được bên thuê dịch vụ trao quyền thamgia vào việc xác lập, thực hiện giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bênthuê dịch vụ để hưởng thù lao Khác với các hoạt động thương mại thực hiện qua phươngthức giao dịch trực tiếp với sự tham gia chỉ của hai bên Hoạt động trung gian thương mại

có sự tham gia của ba bên: bên ủy quyền (bên thuê dịch vụ, gồm một hoặc một số người),bên thực hiện dịch vụ (bên được ủy quyền) và bên thứ ba (gồm một hoặc một số người).Trong các hoạt động dịch vụ trung gian thương mại này, bên được thuê làm dịch vụ làngười trung gian nhận sự ủy quyền của bên thuê dịch vụ và thay mặt bên thuê dịch vụthực hiện các hoạt động thương mại với bên (hoặc các bên) thứ ba Đặc điểm này dễ thấynhất chính là môi giới bất động sản Khi chúng ta muốn bán một căn nhà thật nhanh,chúng ta sẽ phải nhờ đến môi giới Đấy cụ thể là những người sẽ giúp chúng ta tìm kiếmkhách hàng và hỗ trợ mọi giao dịch liên quan từ đàm phán thảo thuận đến giấy tờ hồ sơ.Việc của ta chỉ đơn giản là chờ kết quả và trả thù lao

Trong các hoạt động trung gian thương mại, bên thuê dịch vụ sẽ yêu cầu bên thực hiệndịch vụ thay mặt mình hoặc giúp mình quan hệ với bên thứ ba để mua, bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ thương mại Do đó, bên trung gian sẽ có nhiệm vụ tìm hiểu thị trường,tìm hiểu đối tác, đàm phán giao dịch với bên thứ ba để thực hiện việc mua bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ cho bên uỷ nhiệm (bên thuê dịch vụ) theo yêu cầu của họ Hoạt độngdịch vụ trung gian thương mại khác với các hoạt động dịch vụ có liên quan đến bên thứ

ba như: Dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận hàng hoá… ở chỗ những dịch vụ này đượcthực hiện trực tiếp giữa bên làm dịch vụ với bên thuê dịch vụ mà không có sự tham giacủa bên trung gian Trong hoạt động dịch vụ trung gian thương mại, bên trung gian có vaitrò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Bên trung gian thực hiện việc muabán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ ba không vì lợi ích của bản thânmình mà vì lợi ích của bên thuê dịch vụ (bên uỷ nhiệm) Tuy nhiên, bên trung gian (bênđược uỷ nhiệm) sẽ được hưởng thù lao khi hoàn thành nhiệm vụ mà bên uỷ nhiệm giaophó Do đó, mục đích của bên trung gian trong các hoạt động trung gian thương mại lànhằm tới thù lao mà bên thuê dịch vụ sẽ trả cho họ chứ không mua, bán hàng hoá, cungứng dịch vụ nhằm lợi ích của bản thân họ

2 Đặc điểm thứ hai

Trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian thương mại phải là thương nhân

và có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Ngoài ra, với mỗi hìnhthức trung gian thương mại, bên trung gian còn phải đáp ứng điều kiện mà pháp luật đặt

ra đối với mỗi hình thức trung gian đó

Trang 15

Để thực hiện các hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môigiới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo quy định tại Điều 6 LuậtThương mại năm 2005 Đối với một số hoạt động trung gian thương mại như: ủy thácmua bán hàng hoá, ngoài điều kiện là thương nhân bên trung gian còn phải có điều kiệnkhác như phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được ủy thác(Điều 156 Luật Thương mại năm 2005) Trong quan hệ với bên thuê dịch vụ (bên ủyquyền) và bên thứ ba, bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với tư cáchpháp lý hoàn toàn độc lập và tự do Bên trung gian là bên được ủy quyền cung ứng mộtdịch vụ thương mại cho bên ủy quyền chứ không phải là người làm công ăn lương Điềunày thể hiện qua việc bên trung gian cô trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự địnhđoạt thời gian làm việc, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình Điều này giúp taphân biệt bên trung gian trong hoạt động thương mại với các chi nhánh, vãn phòng đạidiện do thương nhân lập ra để thực hiện hoạt động kinh doanh của thương nhân và nhữngngười lao động làm thuê cho thương nhân cũng như những người có chức năng đại diệnnhư: giám đốc doanh nghiệp, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Các chủ thể nóitrên không có tư cách pháp lý độc lập và chỉ được thực hiện các hoạt động trong phạm vi,quyền hạn theo quy định trong nội bộ của thương nhân đó.

3 Đặc điểm thứ ba

Hoạt động dịch vụ trung gian thương mại tồn tại hai quan hệ: Quan hệ giữa bên uỷ nhiệm

và bên được uỷ nhiệm; quan hệ giữa bên được uỷ nhiệm (hoặc bên uỷ nhiệm) và bên thứ

ba Các quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc hình thức khác có giá trị pháp lýtương đương

Xuất phát từ đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động trung gian thương mại là loại hoạtđộng trong đó bên thuê dịch vụ sẽ trao cho bên trung gian quyền tham gia thiết lập, thựchiện các giao dịch thương mại Do đó, để thực hiện hoạt động trung gian thương mại,trước tiên bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứng dịch vụtrung gian phải thiết lập được quan hệ với nhau Quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bêntrung gian thực hiện dịch vụ đuợc thiết lập trên cơ sở tự do, thống nhất ý chí của các bên

và hình thức của nó là hợp đồng

Hoạt động trung gian thương mại sẽ không thể thực hiện được nếu như chỉ tồn tại quan

hệ giữa bên uỷ nhiệm và bên được uỷ nhiệm Để thực hiện hoạt động này, bên được uỷnhiệm phải giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên uỷ nhiệm giao cho.Khi giao dịch với bên thứ ba, tư cách và vai trò của người trung gian không luôn giốngnhau Họ có thể và nhân danh bên uỷ nhiệm (như bên đại diện) để giao dịch với bên thứ

ba trong hoạt động đại diện cho thương nhân hoặc họ chỉ thay mặt bên uỷ nhiệm nhưnglại nhân danh chính mình để quan hệ với bên thứ ba (như bên nhận uỷ thác, bên đại lí)

Trang 16

trong hoạt động uỷ thác mua bán hàng hoá, hoạt động đại lí thương mại hoặc chỉ nhận sự

uỷ nhiệm của bên thuê dịch vụ để tìm kiếm bên thứ ba và giúp bên thuê dịch vụ, bên thứ

ba tiếp xúc với nhau Bởi vậy, trong hoạt động trung gian thương mại, bên thứ ba sẽ cóquan hệ pháp lí với bên uỷ nhiệm (đối với hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giớithương mại) hoặc trực tiếp quan hệ với bên được uỷ nhiệm như trong hoạt động uỷ thácmua bán hàng hoá

III Các hình thức của trung gian thương mại

Có 4 hình thức trung gian thương mại bao gồm: Đại diện cho thương nhân; Môi giớithương mại; Ủy thác mua bán hàng hóa; Đại lý thương mại

1 Đại diện cho thương nhân

Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện)của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mạivới danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đạidiện (khoản 1, điều 141, mục 1 chương 5 Luật thương mại 2005)

Chủ thể tham giao bao gồm bên giao đại diện và bên đại diện Để đảm bảo giao dịchđược thực hiện đúng quy định của pháp luật, cả hai bên đều phải là thương nhân Trongquan hệ đại diện, người làm đại diện phải giao dịch với bên thứ ba trên danh nghĩa củabên giao đại diện và phải hành động theo sự hướng dẫn của bên giao đại diện Các bên cóthể thỏa thuận về phạm vi của việc đại diện Cụ thể, bên đại diện có thể thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đạidiện Hình thức giao dịch hợp pháp duy nhất là hợp đồng đại diện cho thương nhân Hợpđồng phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương.Bên đại diện được hưởng thù lao đối với hợp đồng được giao kết trong phạm vi đại diện.Quyền được hưởng thù lao phát sinh từ thời điểm do các bên thoả thuận trong hợp đồngđại diện

2 Môi giới thương mại

Trang 17

Môi giới thương mại là hoạt động thương mại; theo đó một thương nhân làm trung gian(gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên đượcmôi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và đượchưởng thù lao theo hợp đồng môi giới (khoản 1, điều 150, mục 2 chương 5 Luật thươngmại 2005)

Chủ thể tham gia bao gồm bên môi giới và bên được môi giới Theo quy định của LuậtThương mại 2005, bên môi giới bắt buộc phải là thương nhân và phải đăng ký kinh doanhngành nghề môi giới thương mại Tất cả các hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật cho phépđều sẽ được thực hiện theo hình thức môi giới Hợp đồng môi giới vẫn là hình thức giaodịch hợp pháp duy nhất Quyền hưởng thù lao môi giới sẽ phát sinh từ thời điểm các bênđược môi giới đã ký hợp đồng với nhau

3 Ủy thác mua bán hàng hóa

Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiệnviệc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận vớibên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác (khoản 1, điều 155, mục 3 chương 5 Luậtthương mại 2005)

Chủ thể bao gồm bên ủy thác và bên nhận ủy thác Bên ủy thác có thể là thương nhânhoặc không phải là thương nhân nhưng bên nhận ủy thác bắt buộc phải là thương nhân.Bên nhận ủy thác sử dụng danh nghĩa của chính bên nhận ủy thác để mua hoặc bán hànghóa thay cho bên ủy thác Đồng thời, bên nhận ủy thác không được quyền ủy thác lại chobên thứ ba thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nếu như không có sự chấpthuận bằng văn bản của bên ủy thác Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóatrong phạm vi ủy thác của bên ủy thác Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộcphải được lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương

4 Đại lý thương mại

Đại lý thương mại là hoạt động thương mại; theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoảthuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặccung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (khoản 1, điều

166, mục 4 chương 5 Luật thương mại 2005)

Chủ thể bao gồm bên giao đại lý và bên đại lý Cả hai bên đều phải là thương nhân thìgiao dịch mới được coi là hợp pháp Trong quan hệ thương mại này, bên đại lý sẽ nhândanh chính mình để giao dịch với khách hàng Bên đại lý sẽ theo thỏa thuận, thực hiệnbán hàng cho bên giao đại lý hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch

Trang 18

vụ giao đại lý cho khách hàng Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằnghình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

5 Đánh giá về các hình thức trung gian thương mại

Chúng ta có thể thấy các hình thức trên đều có một vài tương đồng trong các đặc điểmyếu tố như chủ thể tham gia hay hình thức pháp lý Vậy nên để phân biệt những hình thứcnày, chúng ta cần phải xem xét đến phạm vi và mục đích mà hai bên thỏa thuận với nhau.Nhìn chung, các hình thức sẽ đều hướng tới cái bản chất của trung gian thương mại đó làbên thứ ba thực hiện giao dịch mua bán tuy nhiên sẽ được chủ thể lựa chọn dựa trên mụcđích và mức độ áp dụng ứng với từng hoàn cảnh cụ thể

IV Vai trò của trung gian thương mại

Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ngày càng gia tang Tuy nhiên, việc sản xuất hàngloạt của các doanh nghiệp chưa thể tiếp cận và đánh đúng vào tệp khách hàng có nhu cầu

sử dụng sản phẩm Chính vì vậy, trung gian thương mại được sinh ra để thực hiện sứmệnh giúp các doanh nghiệp làm việc đó

Trước hết, trung gian thương mại giúp cho nhà sản xuất chuyên tâm vào việc sản xuất.Bởi, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, các khâu trong quá trìnhsản xuất - phân phối cần phải được chuyên môn hoá lao động Các trung gian thương mại

là chuyên gia trong lĩnh vực phân phối, tiêu thụ nên hơn ai hết họ biết tất cả những gì cầnthiết cho công việc của mình Bên trung gian có khả năng đẩy mạnh việc giao lưu buônbán, hạn chế được rủi ro và nhiều khi mua, bán được hàng hoá, cung ứng dịch vụ với giá

cả có lợi hơn cho bên thuê dịch vụ của họ vì họ đã thực hiện nó với công việc chính vàchuyên nghiệp Hơn nữa, các hoạt động trung gian thương mại góp phần thúc đẩy sảnxuất, lưu thông hàng hoá và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Hoạt động trung gianthương mại phát triển làm cho khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường tăng lên,giao lưu kinh tế giữa các vùng trong một nước cũng như giữa các nước với nhau đượcđẩy mạnh, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế của đất nước

Chi phí bỏ ra để thuê trung gian thương mại hiện nay đã có nhiều sự lựa chọn hơn trước.Bên cạnh những công ty, những cá nhân lấy thù lao rất cao thì vẫn có những công ty hay

cá nhân lấy giá khá tốt như các công ty start-up hay các KOLs chưa quá nổi tiếng Nóichung, dù đắt hay rẻ, các doanh nghiệp vẫn luôn sẵn sàng chi trả vì hiệu quả xứng đángvới đồng tiền họ bỏ ra

Trang 19

Phần I: Những vấn đề chung

1 Khái niệm, bản chất:

Trong kinh doanh, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các thương nhân với nhau

là điều kiện quan trọng quyết định thành bại và phát triển xã hội Tuy nhiên cùng với nhucầu tiêu dùng tăng nhanh, số lượng hàng hóa cũng nhiều lên khiến các thương nhân khó

có thể tự mình giao dịch với khách hàng, do đó hoạt động trung gian của bên thứ ba đã hỗtrợ cung ứng dịch vụ thuận tiện và nhanh chóng hơn

Giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch, trong đóngười mua và người bán không trực tiếp giao dịch với nhau mà thông qua một người thứ

ba hoặc quan hệ của họ được thiết lập trên cơ sở hỗ trợ của người thứ ba (trường hợp môigiới) Trong phương thức giao dịch qua trung gian luôn có sự hiện diện của một ngườithứ ba, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bên còn lại trong quan hệ và là người thựchiện dịch vụ theo sự ủy quyền của một trong hai bên vì lợi ích của một trong hai bên đểhưởng thù lao Tóm lại, dịch vụ trung gian thương mại là những dịch vụ được thiết lậptrên thị trường làm cầu nối giữa người bán với người mua, người cung cấp với bên sửdụng

Căn cứ vào luật thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mạitại khoản 11 điều 3 và các điều khoản quy định tại chương V, có thể thấy hoạt động trunggian thương mại có những đặc trưng pháp lý cơ bản như sau: Thứ nhất, hoạt động trunggian thương mại là hoạt động do một chủ thể trung gian thực hiện vì lợi ích của bên thuêdịch vụ để hưởng thù lao Cụ thể, bên trung gian thực hiện việc mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụ với bên thứ ba không vì lợi ích bản thân mà vì lợi ích của bên thuê dịch vụ.Mặt khác, bên được thuê làm dịch vụ là người trung gian nhận sự ủy quyền của bên thuêdịch vụ và thay mặt bên thuê dịch vụ thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ ba.Khi giao dịch với bên thứ 3, thương nhân trung gian có thể nhân danh của mình hoặc bênthuê dịch vụ Thứ hai bên thực hiện dịch vụ trung gian phải là thương nhân và có tư cáchpháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ bên thứ ba Thương nhân trung gian phải thực hiệncác hoạt động thương mại với tư cách pháp lý độc lập và tự do Thương nhân trung gian

ký kết hợp đồng làm dịch vụ cho bên thuê dịch vụ với tư cách là thương nhân độc lập chứkhông phải là người làm công ăn lương của bên thuê dịch vụ hay một bộ phận của bênthuê dịch vụ Thứ ba dịch vụ trung gian thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồngdịch vụ bằng hình thức bằng văn bản hoặc hình thức pháp lý tương đương Các hợp đồngnày đều có tính chất là hợp đồng song vụ, ưng thuận và có tính đền bù

2 Phân biệt các loại trung gian thương mạil:

Trang 20

Đại lý thương mại

+ Bên được môigiới: Thương nhânhoặc không phải làthương nhân

+ Bên nhận ủythác: Thươngnhân kinh doanhmặt hàng phù hợpvới hàng hoáđược uỷ thác

+ Bên ủy thác:

Thương nhânhoặc không phải

là thương nhân

+ Bên đại lý:Thương nhân+ Bên giao đại lý:Thương nhân (giaohàng hóa, tiền, ủyquyền cung ứngdịch vụ)

Bên đại diện

được ủy quyền

cho quyền lợi

của bên giao đại

diện

Bên môi giới đóngvai trò là cầu nối

để người mua vàngười bán gặpnhau, là trung giantrong việc đàmphán, giao kết hợpđồng; không thamgia thực hiện hợpđồng giữa các bên(trừ khi được ủyquyền)

Bên nhận ủy thácthực hiện việcmua bán hànghóa cho bên ủythác theo nhữngđiều kiện đã thỏathuận

Bên đại lý là ngườitrung gian trongviệc mua, bán hànghóa cho bên giaođại lý hoặc cungứng dịch vụ củabên giao đại lý chokhách hàng

Bên nhận ủy thácthực hiện việcmua bán hàng

Bên đại lý sẽ theothỏa thuận, thựchiện bán hàng cho

Trang 21

đại diện; bên đại

vụ giao đại lý chokhách hàng

thương mại với

danh nghĩa của

bên giao đại

diện

Bên môi giới thựchiện hoạt động môigiới với danhnghĩa của chínhmình, không đạidiện cho quyền lợicủa bên nào trongcác bên được môigiới, không thamgia thực hiện hợpđồng giữa các bên(trừ trường hợpđược ủy quyền)

Bên nhận ủy tháchoạt động vớidanh nghĩa củachính mình, đạidiện cho quyềnlợi của bên ủythác

Bên đại lý hoạtđộng với danhnghĩa của chínhmình; đứng tên trênhợp đồng, là chủthể của hợp đồngmua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ

153 LTM)

Bên uỷ thác muabán hàng hoá làthương nhân hoặckhông phải làthương nhân giaocho bên nhận uỷthác thực hiệnmua bán hànghoá theo yêu cầucủa mình và phảitrả thù lao uỷ

Thù lao đại lý đượctrả cho bên đại lýdưới hình thức hoahồng hoặc chênhlệch giá trừ trườnghợp có thỏa thuậnkhác (Điều 171,

176 LTM)

Trang 22

thác.(Điều 157LTM)

Văn bản hoặcbằng hình thứckhác có giá trịpháp lý tươngđương

Văn bản hoặc bằnghình thức khác cógiá trị pháp lýtương đương

Phần II: Thực trạng các quy định pháp luật

1 Vấn đề pháp lý:

Đầu tiên, tính đến năm 2021, Chính phủ đã ban hành 18 Nghị định hướng dẫn thực hiệncác quy định về hoạt động thương mại Ở Việt Nam, hoạt động thương mại qua thươngnhân trung gian đang ngày càng phát triển nhất là trong thời kỳ hội nhập với quốc tế để

mở rộng hợp tác Tuy nhiên, ngoài những quy định tại chương V của Luật thương mại

2005, các quy định về trung gian thương mại nằm rải rác trong các văn bản dưới luật Ví

dụ, Nghị định số 158/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa qua

sở giao dịch hàng hóa, có 3 điều (điều 17,19,20) quy định về thương nhân môi giới với tưcách là thành viên của Sở giao dịch hàng hóa; 2 điều (điều 22,23) quy định quyền vànghĩa vụ trong trường hợp nhận ủy thác; chương 6 quy định về ủy thác mua bán hàng hóaqua sở giao dịch (điều 45 đến điều 49) Hay trong Nghị định 185/2013/NĐ-CP ban hànhngày 15/11/2013 chi tiết về quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; mục 8 chương

2 (điều 51 - 54) quy định hành vi vi phạm hoạt động trung gian thương mại Qua đó, ta cóthể thấy rằng chưa có một Nghị định độc lập hướng dẫn thi hành hoạt động trung gianthương mại, chưa hệ thống hóa được các quy định, gây ra khó khăn khi áp dụng vào thựctiễn Đặc biệt trong hoàn cảnh hội nhập quốc tế, dịch vụ trung gian thương mại đang ngàycàng được ưa dùng bởi các thương nhân không chỉ trong nước mà còn chinh phục cácthương nhân nước ngoài

Thứ hai, quy định về chủ thể, điều kiện và năng lực của chủ thể tham gia hoạt độngtrung gian chưa được quy định rõ ràng trong văn bản pháp luật Căn cứ vào điều 3,khoản 11 LTM 2005, khi tham gia quan hệ trung gian thương mại, cả bên trung gian vàbên thuê trung gian đều phải đáp ứng điều kiện là thương nhân Tuy nhiên tại các quyđịnh riêng về các loại hình trung gian thương mại thì chưa thể hiện rõ được quy định đó,điển hình như môi giới thương mại và ủy thác mua bán hàng hóa, một bên chủ thể có thể

Trang 23

không cần phải là thương nhân Ngoài ra, việc xác định điều kiện, năng lực chủ thể cũnggóp phần cấu thành nên tính hợp pháp của hợp đồng khi tham gia hoạt động trung gianthương mại.1 Như ở trên đã nhắc đến, điều kiện để thực hiện trung gian thương mại thì cảhai bên chủ thể đều phải là thương nhân Theo điều 6 LTM 2005, thương nhân bao gồm

tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Song trong luật thương mại chưa chỉ ranhững thương nhân này có bắt buộc phải đăng ký kinh doanh hoạt động dịch vụ thươngmại thì mới đủ điều kiện để tham gia giao dịch hay không Ngoài ra, trong một số trườnghợp đặc thù, pháp luật còn quy định những điều kiện cụ thể về chủ thể tham gia quan hệnày Có thể lấy ví dụ đối với các hợp đồng cung ứng dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặckinh doanh có điều kiện như mua bán thuốc lá, rượu, dịch vụ kết nối Internet, thì cácbên tham gia hoạt động cung ứng này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo pháp luật(Điều 76 khoản 2 LTM) Song trong Văn bản hợp nhất 19/VBHN-BCT banh hành năm

2014 (Điều 6,7), bên đại lý phải là thương nhân kinh doanh có Giấy phép kinh doanhhàng hóa, dịch vụ do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật Việc chồngchéo các quy định, không thống nhất với nhau, gây khó khăn trong thực tiễn

Thứ ba, quy định về quyền hướng thù lao và nghĩa vụ trả thù lao cho bên trung gianthương mại còn sơ sài, chưa được cụ thể Tiền thù lao mà bên thuê dịch vụ phải trả chobên thực hiện dịch vụ được nhận sau khi đã hoàn thành công việc Tuy nhiên khoản thùlao này lại phụ thuộc vào giá trị của các giao dịch thương mại được thiết lập với sự giúp

đỡ của bên trung gian Hiện tại pháp luật trao quyền cho cả hai bên tự do thỏa thuậnnhững vấn đề liên quan đến thù lao như điều kiện hưởng thụ thù lao; thời điểm phát sinhquyền hướng thù lao; trường hợp không được nhận thù lao Quả thật những quy định này

đã đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể khi giao kết hợp đồng Song, dịch vụ trung gianthương mại ở Việt Nam là hoạt động tương đối mới mẻ nên những quy định “mở” này sẽgây khó khăn khi xảy ra tranh chấp giữa các bên Chẳng hạn, trong hoạt động nhận ủythác, khoản 2 điều 164 LTM có đề cập đến quyền nhận thù lao ủy thác và các chi phí hợp

lý khác Ở đây luật chưa làm minh bạch, rõ ràng rằng những chi phí hợp lý bao gồmnhững chi phí gì khi trả cùng thù lao Liệu bên nhận ủy thác có được trả những chi phí đókhi chúng phát sinh trong khi giao dịch hay không?

Trang 24

trung gian thương mại Nếu nhìn một cách chi tiết hơn về từng loại hình hoạt động củatrung gian thương mại, ta cũng có thể nhận ra một số vấn đề phát sinh như sau:

a Đại diện thương mại:

Vấn đề đầu tiên khi thực thi quy định về đại diện thương mại đó là sự mâu thuẫn giữanghĩa vụ của bên đại diện với thời hạn đại diện cho thương nhân Theo khoản 3 điều 145Luật thương mại 2005, bên đại diện có nghĩa vụ tuân thủ chỉ dẫn của bên giao đại diệnnếu chỉ dẫn đó không vi phạm quy định của pháp luật Nếu chỉ dẫn vi phạm điều khoảncủa hợp đồng thì bên giao đại diện phải bồi thường cho bên đại diện, nhưng trước hết,bèn đại diện phải thực hiện những chỉ dẫn của bên giao đại diện đưa ra Tuy nhiên mộtvướng mắc ở đây đó chính là nếu bên giao đại diện đưa ra chỉ dẫn mà chỉ dẫn dẫn đếnchấm dứt hợp đồng đại diện thì nên xử lý như thế nào? Chẳng hạn, hai bên ký với nhauhợp đồng, theo đó, bên đại diện có nghĩa vụ nhập khẩu hàng hóa cho bên giao đại diệnvới thời hạn là hai năm Nhưng sau một năm, bên giao đại diện không có nhu cầu về hànghóa đó nữa và ra chỉ dẫn yêu cầu bên đại diện không cần tiếp tục nhập mặt hàng đó về.Tuy nhiên, thời hạn của hợp đồng lại chưa hết Theo quy định tại Điều 144 khoản 2 Luậtthương mại năm 2005, các bên chỉ được phép đơn phương chầm dứt hợp đồng đại diệntrong trường hợp hợp đồng đại diện cho thương nhân không quy định thời hạn Do vậy,trong trường hợp này, bên giao đại diện sẽ bối rối khi vừa không thể chấm dứt hợp đồngđại diện, vừa băn khoăn nếu vẫn tiếp tục nhập hàng thì lại vi phạm nghĩa vụ tuân chỉ hợpđồng Kéo theo một bất cập khác của Luật thương mại 2005 là chưa đề cập đến quy định

về thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng đại diện Theo luật, khi một bên đơn phươngchấm dứt hợp đồng đại diện thì phải thông báo cho bên kia nhưng lại không quy định thờihạn thông báo là bao lâu

b Ủy thác thương mại:

Trong hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tồn tại song song hai quan hệ: bên ủy thácvới bên nhận ủy thác; bên nhận ủy thác với bên thứ ba nhưng Luật lại chưa làm rõ vềquyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên khi tham gia hoạt động thương mại Đặc biệt

là mối quan hệ giữa bên ủy thác và bên thứ ba sẽ như thế nào? Giả dụ nếu như bên nhận

ủy thác không đủ khả năng thanh toán cho bên thứ ba thì bên thứ ba có quyền trực tiếpđòi bên ủy thác hay không? Hay trường hợp bên thứ ba vi phạm hợp đồng với bên nhận

ủy thác thì liệu bên ủy thác hay bên nhận ủy thác có quyền đứng ra yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp, và chi trả những chi phí khiếu kiện liên quan? Do đómột khúc mắc khác đặt ra là nghĩa vụ của bên nhận ủy thác chưa được quy định cụ thể.Bởi vì trong quan hệ thương mại, bên nhận ủy thác chỉ là người trung chuyển, chuyểnquyền sở hữu từ bên ủy thác sang bên thứ ba, do đó họ không có quyền sở hữu cũng nhưchịu rủi ro về hàng hóa Mà theo khoản 4 điều 165, bên nhận ủy thác có nghĩa vụ bảo

Trang 25

quản tài sản được giao nhưng lại gây bối rối như bảo quản ra sao, có khả năng định đoạttrong trường hợp bị hư hỏng vào thời điểm được giao không Bên cạnh đó, tại khoản 1điều 165, bên nhận ủy thác thực hiện nghĩa vụ mua bán hàng hóa theo thỏa thuận nhưngliệu họ có được mua được hàng hóa với giá thấp hơn, hay bán hàng hóa với giá cao hơn

so với các điều kiện bên ủy thác đặt ra thì bên nhận ủy thác có quyền giữ lại phần chênhlệch đó không, việc làm đó có vi phạm pháp luật không thì luật định chưa trả lời đượccâu hỏi đó

c Môi giới thương mại:

Nói đến vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng quy định với môi giới thương mại thì quyđịnh về hình thức hợp đồng của môi giới chưa rõ ràng là ví dụ điển hình So với các loạihình trung gian khác, môi giới không bị gò bó trong một loại hợp đồng cụ thể khiến choviệc giao kết hợp đồng giữa các bên trở nên nhanh chóng, tiện lợi hơn Nhưng chính việc

ký kết bằng hình thức phi văn bản này đã làm phát sinh những rủi ro tiềm ẩn khi xảy ratranh chấp Trên thực tế có những hợp đồng môi giới được giao kết với giá trị lớn nhưmôi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới đưa người lao động ra nước ngoàilàm việc,… việc không quy định về hình thức của hợp đồng rất dễ gây rủi ro cho các bênđặc biệt là những hợp đồng có giá trị lớn Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp sẽ không cóchứng cứ phân định trách nhiệm của các bên cũng như gây khó khăn trong quá trình kinhdoanh thực tế Một vướng mắc khác mà hoạt động môi giới thương mại trong thực tế gặpphải, đó là quy định bên được môi giới phải là thương nhân chưa bắt kịp thời đại Lý do

vì sao thì theo điều 150 Luật thương mại, bên môi giới bắt buộc phải là thương nhânnhưng hiện nay, các hoạt động môi giới đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết từ môigiới nhà đất đến môi giới chứng khoán, giao dịch cổ phiếu, vàng bạc,… mà bên được môigiới nhiều khi không phải là thương nhân Bên được môi giới có thể là người dân bìnhthường có mong muốn tham gia và các giao dịch và có mong muốn tìm đến các bên môigiới nhờ trợ giúp do đó giao dịch này sẽ không chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại

mà chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2015 Cho nên quy định hiện tại về bên đượcmôi giới là thương nhân còn khá cứng nhắc và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu hiệntại của đời sống xã hội

d Đại lý thương mại:

Trong khi đại lý thương mại ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh và dịch vụ, vẫn còn đâu đấy một số vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng luật.Trước hết phải nói đến vấn đề xác định tư cách chủ thể của các bên trong hợp đồng đại lýcòn chưa thực sự rõ ràng, còn lỏng lẻo Về nguyên tắc, tranh chấp giữa các bên trong hợpđồng đại lý là tranh chấp kinh doanh thương mại vì cả hai bên đều là thương nhân Tuynhiên, căn cứ theo Điều 84, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, người làm đại lý bảo

Ngày đăng: 13/11/2021, 11:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức hợp đồng - Tiểu luận pháp luật về trung gian thương mại 2
Hình th ức hợp đồng (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w