Bài luận này đưa ra các luận điểm để chứng minh sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được ghi nhận trong Công ước quốc tế ICESCR.. K
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
————————
Tiểu luận giữa kỳ Học phần: Lý luận pháp luật về quyền con người
Giảng viên: TS Ngô Minh Hương
Đề bài
Phân tích sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với một quyền trong công ước ICESCR - Quyền bình đẳng giữa nam
và nữ.
Sinh viên thực hiện:
Họ và tên: MSSV: 1 Lớp: VB – Luật học
Trang 2I Phần mở đầu
Bảo vệ quyền con người luôn là mục tiêu cơ bản của nhân loại tiến bộ Một trong
những quyền cơ bản nhất của con người là quyền bình đẳng giữa nam và nữ
Quyền bình đẳng cần được bảo vệ và thúc đẩy bằng nhiều hình thức, điều kiện
khác khau, trong đó có pháp luật Cơ sở pháp lý về quyền con người nói chung hay
quyền bình đẳng nói riêng bao gồm hai thành phần chính là pháp luật quốc tế về
quyền con người và pháp luật quốc gia về quyền con người Giữa hai hệ thống luật
này luôn tồn tại sự tương thích và bổ sung cho nhau Bài luận này đưa ra các luận
điểm để chứng minh sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn của Việt Nam với
Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được ghi nhận trong Công ước quốc tế ICESCR
II Nội dung
1 Khái quát chung
1.1 Giải thích khái niệm
1.1.1 Sự tương thích
Theo từ điển tiếng Việt 2004, “tương thích” có nghĩa là phù hợp, thích hợp, tương
ứng (trang 1081)
1.1.2 Quyền bình đẳng
Quyền bình đẳng là một quyền cơ bản của con người Đó là quyền được xác lập tư
cách con người trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt đối xử, có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau
Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một phạm trù thuộc quyền bình đẳng
Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và đàn ông được hưởng
những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng
góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung
Trang 3Điều 5 Luật Bình đẳng giới nêu bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát
triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát
triển đó
1.2 Công ước ICESCR
ICESCR là tên viết tắt của International Covenant on Economic, Social and
Cultural Rights dịch ra tiếng Việt là Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã
hội và Văn hóa Đây là một công ước quốc tế được Đại hội đồng liên hợp quốc
thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 03 tháng 01 năm 1976
Các quốc gia tham gia Công ước phải cam kết trao các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa cho các cá nhân, bao gồm quyền công đoàn và quyền chăm sóc sức khoẻ,
quyền giáo dục và quyền được đảm bảo mức sống phù hợp Tính tới ngày 15 tháng
12 năm 2008, đã có 160 quốc gia tham gia và 69 nước đã ký, trong đó có Việt
Nam
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa là một phần của Bộ
Luật Nhân quyền Quốc tế, cùng với Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR
1948) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966)
1.3 Mối liên hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
Có ý kiến cho rằng luật quốc tế và luật quốc gia hợp thành một hệ thống pháp luật
chung, trong đó luật quốc tế có vị trí ưu thế so với pháp luật trong nước Hệ thống
pháp luật trong nước phải phù hợp, không được trái với pháp luật quốc tế Tính ưu
thế này luôn được đảm bảo, dù luật quốc tế có được chuyển đổi/ nội luật trong hệ
thống pháp luật trong nước hay không Điều này cũng có nghĩa, pháp luật quốc tế
được áp dụng trực tiếp mà không cần phải nội luật hóa
Trang 4Trái lại, ý kiến khác lại cho rằng luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp
luật riêng biệt Pháp luật quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các quốc gia, nhưng để
áp dụng đối với các chủ thể trong mỗi quốc gia thì cần phải có sự chuyển đổi/ nội
luật hóa vào hệ thống pháp luật trong nước Khi không có sự chuyển hóa, có thể
xảy ra trường hợp một hành vi được coi là phù hợp với quy định của pháp luật
trong nước, nhưng lại trái với pháp luật quốc tế
2 Quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong Công ước ICESCR
Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng
và tuân thủ chung các quyền và tự do của con người Một trong các quyền tự do ấy
là quyền được công nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ
Khoản 2 Điều 2 Công ước ICESCR yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết: Bảo
đảm rằng, các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,
quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài
sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác
Điều 3 Công ước ICESCR 1966 yêu cầu quốc gia thành viên cam kết đảm bảo
quyền bình đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà
Công ước này quy định
Công ước ICESCR đã khẳng định các quyền được nêu trong công ước bắt nguồn
từ phẩm giá vốn có của con người
3 Quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam
3.1 Quyền bình đẳng được quy định trong Hiến pháp
Trang 5Bình đẳng giới là vấn đề quan trọng trong thực hiện quyền bình đẳng Hiến pháp
năm 2013 quy định quyền bình đẳng của công dân trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó bình đẳng giới là vấn đề luôn được ưu tiên đặc biệt
Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt
Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới Nhà nước, xã hội
và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”
Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội.” Theo đó, mọi công dân, nam, nữ thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo,
thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối
xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định
của pháp luật
3.2 Quyền bình đẳng được quy định trong các điều luật
Luật Bình đẳng giới
Luật Bình đẳng giới ra đời và từng bước được triển khai đã góp phần thúc đẩy việc
thực hiện công tác bình đẳng giới; bước đầu có kết quả tích cực, tạo được sự bình
đẳng thực chất của nam, nữ trong các lĩnh vục của xã hội và cũng như đóng góp
vào sự phát triển của đất nước
Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng
lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau
về thành quả của sự phát triển đó.”
Trang 6Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 về các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới quy định
nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình và không bị
phân biệt đối xử về giới
Bộ luật dân sự: Khoản 1 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Mọi cá nhân,
pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử;
được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.”
Bộ luật hình sự: Điểm b Khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân
tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định về đảm
bảo tỷ lệ tối thiểu 35% ứng cử viên là nữ, để lượng ứng cử nam và nữ không bị
chênh lệch quá nhiều
Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017
có quy định nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước phải đảm bảo ưu tiên bổ trí
ngân sách để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và quy định đảm bảo bình đẳng
giới là một trong các căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm
Luật hôn nhân và Gia đình 2014, tại Điều 19 Luật này quy định: "Vợ chồng bình
đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình"
4 Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và Công ước ICESCR về quyền
bình đẳng giữa nam và nữ.
Nguyên tắc về quyền bình đẳng giới trong Công ước ICESCR đòi hỏi các quốc gia
thành viên phải có nghĩa vụ ngay lập tức thực thi các biện pháp hạn chế và xóa bỏ
sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử, bao gồm các biện pháp về thể chế (ban hành
các quy định pháp luật và có một cơ chế khắc phục bao gồm việc giải quyết khiếu
Trang 7nại), các biện pháp can thiệp (bằng chính sách và các chương trình xã hội) cũng
như các biện pháp theo dõi và giám sát tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối
xử Hai nguyên tắc này cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải thực thi “các
biện pháp đặc biệt tạm thời” để bù đắp cho các nhóm thiệt thòi, tạo ra sự bình đẳng
về cơ hội cho những nhóm này cho đến khi đạt được sự bình đẳng trên thực tế
4.1 Sự tương thích về mặt pháp lý
Các quy định về quyền con người trong Hiến pháp các nước ngày càng có sự tương
thích với các văn kiện quốc tế về quyền con người, trong đó có Việt Nam Nói
cách khác, các Hiến pháp đã được xây dựng, bổ sung để phù hợp với các quy tắc
quốc tế về quyền con người Hầu hết các quyền con người theo luật nhân quyền
quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới với những
mức độ khác nhau Trong các bản Hiến pháp đã được các quốc gia thông qua trên
thế giới từ năm 1980 đến nay, các quyền con người được các Hiến pháp ghi nhận
đã tăng liên tục để phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà các
nước tham gia Hiến pháp đóng vai trò là công cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa
các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia
Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được quy định rõ ràng trong Hiến pháp nước
CHXHCN Việt Nam và được cụ thể hóa trong rất nhiều các văn bản pháp luật như:
Luật Bình đẳng giới, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn
nhân và gia đình, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân,…
Hầu hết trong mọi văn bản pháp luật trong hệ thống luật Việt Nam đều thừa nhận
quyền bình đẳng giữa nam và nữ Điều này hoàn toàn tương thích với yêu cầu
được nêu trong Điều 3 Công ước ICESCR 1966 về cam kết đảm bảo quyền bình
đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Công ước
này quy định
Trang 8Hệ thống luật Việt Nam đã quy định việc bảo đảm bình đẳng giới trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình, bao gồm: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ, lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y
tế, gia đình Đây cơ sở sở để xây dựng các quy định, chính sách, cũng như tạo điều
kiện cho nam, nữ có cơ hội ngang nhau được tham gia, phát huy năng lực, thụ
hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển trong các lĩnh vực
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng
giới đồng thời đưa ra có quy định mang tính chất nguyên tắc về việc bảo đảm lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, quy định
này sẽ giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới cũng như nâng cao
được nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan về công tác bình đẳng giới Từ đó,
vấn đề bình đẳng giới được quan tâm và được lồng ghép trong các văn bản quy
phạm pháp luật, các chính sách, chương trình…
Bên cạnh việc ban hành, sửa đổi các quy định của luật, Chính phủ đã ban hành các
nghị định, thông tư, Chiến lược quốc gia để thực hiện công tác bình đẳng giới Cụ
thể như:
– Sau khi kết thúc Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 với mục tiêu tổng quát là tiếp
tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ, nam giới tham gia,
thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống, xã hội, góp phần vào phát
triển bền vững của đất nước
– Nghị Định 70/2008/NĐ-CP ngày 4-6-2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật bình đẳng giới
Trang 9– Nghị định 48/2009/NĐ-CP ngày 19-5-2009 của Chính phủ quy định về các biện
pháp bảo đảm bình đẳng giới
– Nghị định 55/2009/ NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính về bình đẳng giới
– Thông tư số 17/2014/TT-BTP của Bộ Tư pháp: Quy định về lòng ghép vấn đề về
bình đẳng giới trong xây dựng văn bản vi phạm pháp luật
– Thông tư số 78/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính: Hướng dẫn thi hành Luật thuế
TNDN góp phần cụ thể hóa chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao
động nữ
4.2 Sự tương thích trong hoạt động pháp luật thực tiễn
Việc thực thi ICESCR phải chú trọng đến việc đảm bảo các quyền trong Công ước
với các nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương trong xã hội trong đó có đối tượng phụ
nữ Nguyên tắc này được thể hiện rõ ràng trong các Bình luận chung và Hướng dẫn
báo cáo của CESCR với cơ sở là để đảm bảo bình đẳng trong việc thụ hưởng các
quyền trong Công ước giữa các nhóm yếu thế và phần còn lại của xã hội thường có
ưu thế hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng các quyền này
Sự tương thích được thể hiện qua việc Việt Nam cam kết tuân thủ các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trong công tác xây dựng pháp luật, việc xây
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc
thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trong trường hợp văn bản
quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó, trừ Hiến pháp (Điều 6 Luật Điều ước quốc tế)
Trang 10Tính từ những năm 1980 đến hết năm 2017, Việt Nam đã ban hành và sửa đổi
khoảng 13.000 văn bản luật và dưới luật, trong đó quyền con người ngày càng
được cụ thể hóa Các điều ước quốc tế về quyền con người Việt Nam tham gia đã
được nội luật hóa mạnh mẽ trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật
của Việt Nam, trong đó có các văn bản pháp luật về bình đẳng giới
Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011- 2020 và nhiều
chương trình, đề án về bình đẳng giới trên các lĩnh vực như:
- Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, bạo lực gia đình
- Thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục, bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán
bộ, công chức, viên chức, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp
- Chương trình mục tiêu phát triển hệ thống trợ giúp xã hội ở Việt Nam giai đoạn
2016-2020
- Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số
- Kế hoạch triển khai thực hiện Khuyến nghị của Ủy ban xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử đối với phụ nữ của Liên hợp quốc
Với khung pháp lý về bình đẳng giới nói trên cộng với nỗ lực của cả hệ thống
chính trị, Việt Nam được đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất
trong 20 năm qua và được xếp ở nhóm các quốc gia có bình đẳng giới tốt nhất trên
thế giới năm 2016 Tuy nhiên, chênh lệch giữa nam và nữ trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị - xã hội, gia đình theo xu hướng nữ giới là nhóm yếu thế vẫn tồn tại
khá phổ biến
III, Kết luận
Hệ thống pháp luật Việt Nam không nằm ngoài các nguyên tắc được quy định
Trang 11quyền bình đẳng giữa nam và nữ, Việt Nam đang ngày một hoàn thiện hệ thống
pháp luật để toàn diện hơn trong việc đảm bảo các quyền của con người, hướng tới
xã hội phát triển văn minh về mọi mặt, con người được hưởng trọn vẹn các quyền
xứng đáng được nhận
Tài liệu tham khảo:
[1] ThS Nguyễn Phúc Đạt, Cơ sở pháp lý về quyền sống của con người hiện nay,
đăng trên tạp chí ngày 01/08/2018
[2] TS Đặng Minh Tuấn, Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc
gia: nhìn từ góc độ hiến pháp trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 01/05/2013
[3] TS Nguyễn Thị Thu Hà - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Vận dụng
luật pháp quốc tế về bình đẳng giới ở Việt Nam, 19/3/2020.
[4] Giới Thiệu Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội Và Văn Hóa
(Icescr, 1966), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà
Nội, 2012
[5] Nguyễn Thanh Phương – Ban TGCSLP trích dẫn Nguồn Cổng thông tin điện tử
Hội LHPN Việt Nam và Luật Việt Nam, Quyền của Phụ nữ trong hệ thống Pháp
luật Việt Nam, 20/03/2020
https://phunu.soctrang.gov.vn/-/quyen-cua-phu-nu-trong-he-thong-phap-luat-viet-nam
[6] Các trang thông tin điện tử
http://decuongtuyentruyen.com/tim-hieu-luat/tong-hop-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-binh-dang-gioi-o-viet-nam/