1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 2

29 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 443,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong vận tải quốc tế, có thể khẳng định rằng vận tải hàng hoá bằng đường biển đóng vai trò quan trọng và chiếm phần lớn khối lượng hàng hoá được vận chuyển trên thị trư

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -/ -

Tiểu Luận Cuối Kì

Học phần: Luật Hàng Hải Quốc tế

Họ và tên: Đỗ Hải Nam

Mã sinh viên: 18032272

Giáo viên giảng dạy: TS Mai Đăng Hải

~Hà Nội, 01/2022~

Trang 2

2

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 3 PHẦN NỘI DUNG 5 Chương 1 Khái quát chung về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển 5

1.1 Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển 5 1.2 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển 6

1.3 Cơ sở pháp lý của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển và nguồn pháp luật 11 Chương 2 Quy định của pháp luật quốc tế về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế 13 Chương 3 Thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận

chuyển hàng hóa quốc tế và kiến nghị giải pháp 16

3.1 Nguồn pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển được áp dụng tại Việt Nam 16 3.2 Một số kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay 24

PHẦN KẾT LUẬN 28 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

3

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong lịch sử giao thương thế giới, việc buôn bán của các thương nhân giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa các vùng lãnh thổ bị chia cắt bởi đại dương được tiến hành qua đường hàng hải Lịch sử phát triển của thương mại quốc tế gắn liền với sự hàng hải Cùng với đó vận tải là yếu tố không thể tách rời trong buôn bán quốc tế, hay nói cách khác là nói đến buôn bán quốc tế là mọi người sẽ nghĩ ngay đến vận tải Trong vận tải quốc tế, có thể khẳng định rằng vận tải hàng hoá bằng đường biển đóng vai trò quan trọng và chiếm phần lớn khối lượng hàng hoá được vận chuyển trên thị trường thế giới Tuy nhiên, vận tải hàng hoá bằng đường biển là một trong những vấn lĩnh vực phức tạp vì chịu nhiều sự tác động

và ràng buộc của nhiều tác động cũng như các yếu tố khách quan khác Từ đó, để cho hoạt động vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được diễn ra hiệu quả và đảm bảo quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên tham gia, cũng như các yếu tố phát sinh khác thì cần phải có căn cứ, cơ sở pháp lý Đó là hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển

Việc vận chuyển đường biển không chỉ là vấn đề của mỗi quốc gia, mà còn liên quan đến chủ quyền trên biển, đảo và lợi ích của các quốc gia khác Với tầm quan trọng như vậy, cộng thêm với chính tính chất riêng biệt của hoạt động hàng hải do đó các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực vận chuyển hàng hải

có những đặc thù riêng cần tìm hiểu

Mặc dù pháp luật về hàng hải của Việt Nam hiện nay đã tương đối phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên vẫn còn có những điểm chưa thật sự phù hợp và chưa thúc đẩy mạnh cho phát triển thương mại Mặt khác các thương nhân trong thực tiễn kinh doanh ngoại thương chưa tìm hiểu sâu một cách có lợi các qui định của pháp luật quốc gia và quốc tế liên quan để khi xảy ra các tranh chấp có nhiều lúng túng Hiện nay Việt Nam có một khối lượng vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng phương thức vận tải đường biển chiếm tới 90% tổng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu quốc gia Như vậy có nghĩa rằng, trong vận chuyển hàng hóa quốc tế, thì vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường

Trang 4

4

biển đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả các phương thức vận tải Do đó việc tìm hiểu sâu các qui tắc về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là vô cùng hữu ích cho sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

Việc nghiên cứu về hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển là một trong những vấn đề cần thiết trong Pháp luật hàng quốc tế Sự cần thiết đó thể hiện ở chỗ:

- Đối với luật hàng hải: tạo cơ sở lý luận cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế về hàng hải, giúp cho luật hàng hải Việt Nam phù hợp với luật hàng hải quốc tế

- Đối với các doanh nghiệp Việt Nam: là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền

và lợi ích của các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động vận chuyển hàng hải quốc tế

Nhận thấy được sự cần thiết này, em xin được chọn đề tài “Pháp luật về

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển” để hoàn thành tiểu

luận cuối kì môn Luật hàng hải quốc tế

Trang 5

5

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Khái quát chung về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng

đường biển

1.1 Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển

Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là quá trình sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường cố định hoặc không cố định từ nước này tới nước khác Theo nghĩa rộng vận chuyển hóa hóa quốc tế là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác, chuyên chở bằng tàu biển một cách có hiệu quả hàng hóa xuất nhập khẩu trong thương mại quốc tế Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển được tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức chuyên ngành thực hiện

Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là một ngành dịch vụ Do vậy nó

có những sự khác biệt so với những ngành sản xuất vật chất khác Có thể liệt kê một số khác biệt như sau:

− Thứ nhất, việc sản xuất của ngành vận chuyển không tạo ra sản

phẩm có hình thái vật chất cụ thể;

− Thứ hai, thông qua hoạt động vận chuyển người và hàng hóa, vận

tải biển đảm bảo cho các mối liên hệ trên không gian, phục vụ sản xuất và sinh hoạt, mối giao lưu kinh tế - xã hội giữa các vùng và giữa các nước;

− Thứ ba, các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng chủ yếu tới các vấn đề kỹ

thuật của sự phân bố và khai thác của mạng lưới các tuyến vận tải biển;

− Thứ tư, đối tượng của dịch vụ là hàng hóa của những chủ sở hữu

khác chủ tàu

Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là một phương thức vận chuyển đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển mà cụ thể ở đây là hàng hóa xuất nhập khẩu Qua đó ta có thể xác định vận chuyển hàng hóa

Trang 6

Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như thời tiết hay địa lý của các vùng biển Không những thế, hoạt động vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc vào tình hình thương mại quốc tế Tốc độ của tàu biển thấp dẫn đến vận chuyển hàng hóa lâu Và những chứng từ và thủ tục liên quan tới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển rất phức tạp Vận chuyển bằng đường biển chứa nhiều rủi ro như: rủi ro liên quan tới yếu tố tự nhiên (các hiện tượng khí tượng), rủi ro bị cướp biển, rủi ro tàu bị bắt giữ

1.2 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển

1.2.1 Khái niệm

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về vận chuyển hàng hóa bằng đường

biển: “Hợp đồng vận chuyển bằng đường biển là bất kỳ hợp đồng nào mà theo đó người vận chuyển đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển từ một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước”

Theo quy tắc Hague – Visby năm 1968, Hợp đồng vận chuyển “được điều chỉnh bởi một vận đơn hoặc bất kỳ một chứng từ tương tự nào về quyền sở hữu liên quan tới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, kể cả bất kỳ vận đơn hoặc chứng từ nào nói trên đây được ký phát theo một hợp đồng thuê tàu, kể từ khi vận

Trang 7

Theo điều 145, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 thì:

“ 1 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển

Trang 8

8

1.2.2 Đặc điểm

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển có những đặc điểm riêng sau đây:

− Đầu tiên, hợp đồng có đối tượng là hàng hóa xuất nhập khẩu và vận

chuyển qua vùng biển quốc tế nên có yếu tố quốc tế, có sự xung đột pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng

− Thứ hai, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa trong ngoại thương

− Thứ ba, hàng hóa được vận chuyển từ lãnh thổ của quốc gia này tới

lãnh thổ của quốc gia khác, do vậy có thể phải đi qua vùng biển của một hoặc một số quốc gia khác, vì vậy bị ảnh hưởng bởi pháp luật những quốc gia đó

− Thứ tư, hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển bị

ảnh hưởng tương đối nhiều bởi tập quán hàng hải quốc tế bởi giao lưu hàng hải là một phần quan trọng của công pháp quốc tế mà thực chất công pháp quốc tế hầu hất là các qui tắc tập quán quốc tế

Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 phân biệt vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển thành hai loại: hợp đồng vận chuyển theo chứng từ và hợp đồng vận chuyển theo chuyến Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập quy chế pháp lý riêng cho hai loại hợp đồng này do chính sự khác biệt của chúng đòi hỏi

Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hoá để vận chuyển

Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể để vận chuyển hàng hoá theo chuyến (Điều 146, khoản 2, Bộ Luật hàng hải 2015)

Trang 9

Bởi tàu biển là phương tiện vận chuyển hàng hóa, có nghĩa là điều kiện kỹ thuật quan trọng để bảo đảm mục đích của hợp đồng giữa các bên, do vậy điều khoản hợp đồng liên quan tới tàu biển là một điều khoản quan trọng

Để tàu khởi hành đúng lịch trình đã thỏa thuận, tàu phải đến cảng xếp hàng hóa để nhận hàng hóa chuyên chở vào thời gian phù hợp và trong tư thế sẵn sàng nhận xếp hàng hóa Thời gian được quy định có thể là ngày giờ cụ thể, là khoảng thời gian được xác định hoặc khoảng thời gian sau khi ký hợp đồng Trước thời hạn đó, người thuê vận chuyển không nhất thiết phải giao hàng

• Về điều kiện hàng hóa để vận chuyển

Trong hợp đồng cần đưa ra mô tả chi tiết về hàng hóa: khối lượng, thể tích, tên hàng (tên thương mại, tên khoa học, tên theo tập quán), loại bao bì cũng như các đặc điểm của hàng hóa Người thuê vận chuyển hoặc người gửi hàng có nghĩa

vụ phải thông báo cho người vận chuyển trong trường hợp hàng dễ cháy, nổ hoặc có các đặc tính nguy hiểm khác

• Về điều kiện cảng bốc dỡ

Cảng bốc hàng hóa do người thuê vận chuyển chỉ định Cảng bốc dỡ hàng hóa phải bảo đảm an toàn cho tàu ra vào và lưu lại cảng cùng với hàng hóa, có nghĩa là cảng phải đủ độ sâu, mớn nước thích hợp sao cho tàu luôn luôn nổi hoặc

Trang 10

10

an toàn, cũng như an toàn về mặt chính trị xã hội như không có bạo động, đình công, hoặc xung đột vũ trang Nếu các bên chưa xác định chính xác cảng bốc dỡ, thì hợp đồng có thể quy định theo sự lựa chọn của bên thuê vận chuyển hoặc có thể quy định chung chung một hoặc một vài cảng xếp hàng hóa,

• Về điều kiện cước phí vận chuyển

Cước phí vận chuyển là khoản tiền mà bên thuê vận chuyển phải trả cho bên vận chuyển về việc vận chuyển hàng hóa và chi phí cho những dịch vụ có liên quan Khoản tiền này được các bên thỏa thuận thanh toán bằng đồng tiền nhất định, với tỷ giá đồng tiền xác định, địa điểm, phương thức và mức cước phí ứng trước

• Về điều kiện chi phí bốc dỡ

Chi phí bốc dỡ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng Thường trong hợp đồng vận chuyển theo chứng từ, bên vận chuyển sẽ chịu toàn bộ chi phí xếp dỡ, lắp đặt, san cào hàng trong hầm tàu Còn trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến, các bên thỏa thuận bên nào sẽ phải chịu chi phí này

• Về điều kiện thời gian bốc dỡ

Thời gian xếp dỡ hay còn gọi là thời gian làm hàng (laytime hay laydays)

là thời gian thỏa thuận mà người vận chuyển cho phép người thuê vận chuyển hoặc người giữ vận đơn bốc/dỡ hàng Thời gian xếp dỡ được tính theo đơn vị ngày, giờ hoặc theo khối lượng hàng nhất định trên mỗi ngày Thường thời gian xếp dỡ sẽ là một số giờ sau khi có thông báo sẵn sàng

• Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, không kể hợp đồng vận chuyển theo chuyến hoặc hợp đồng vận chuyển theo chứng từ, đều phải quy định rất rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Các qui định này rất quan trọng, không chỉ nhằm ràng buộc trách nhiệm của các bên, mà còn giúp các bên hiểu rõ quyền hạn và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng khiến cho hợp đồng đạt được mục đích đề ra

Trang 11

11

1.3 Cơ sở pháp lý của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển và nguồn pháp luật

1.3.1 Pháp luật quốc tế

− Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc về vận hành đơn đường biển, ký hiệu tại Brussels ngày 25-08-1924 được gọi tắt là Công ước Brussels 1924 Công ước này được gọi là Quy tắc La Hay (Hague

Rules) đã có hiệu lực từ năm 1931

− Nghị định thư Visby 1968, sửa đổi Công ước Brussels (Hague Visby Rules), có hiệu lực từ ngày 23-06-1977, cùng với Quy tắc Hague tạo thành Quy tắc Hague-Visby (Quy tắc Hague-Visby)

− Công ước của Liên Hợp Quốc về Vận chuyển Hàng hóa bằng đường biển, năm 1978 được gọi là Công ước Hamburg hay quy tắc Hamburg (Hamburg Rules)

1.3.2 Pháp luật quốc gia

Trong trường hợp tuy đã có điều ước quốc tế điều chỉnh nhưng các quốc gia không tham gia hoặc có nhưng các điều ước quốc tế không đề cập hoặc đề cập không đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế, thì các chủ thể tham gia hợp đồng có thể dựa vào pháp luật hàng hải chuyên ngành hoặc các ngành luật khác như Luật Thương mại, Luật Kinh doanh… của quốc gia để quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý và để giải quyết các vấn đề có liên quan đến hợp đồng

1.3.3 Tập quán hàng hải quốc tế

Tập quán hàng hải chỉ được áp dụng vào hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế trong các trường hợp như:

− Do chính hợp đồng vận chuyển qui định;

− Khi các điều ước quốc tế liên quan qui định;

− Khi hợp đồng hoặc luật áp dụng hợp đồng do các bên lựa chọn không

có hoặc có nhưng không đầy đủ

Trang 12

12

Tập quán hàng hải phần lớn được hình thành từ các cảng biển, từ thực tiễn làm hàng cũng như các thao tác bốc xếp và sử dụng cần cẩu riêng của cảng Do vậy có thể nảy sinh vấn đề trả tiền dịch vụ cho họ Các tập quán này có thể thay đổi theo từng cảng

Trang 13

13

Chương 2 Quy định của pháp luật quốc tế về hợp đồng vận chuyển hàng

hóa quốc tế

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, trước hết được hiểu là một loại hợp đồng dân sự, bởi ở đó thể hiện sự bình đẳng trong việc thương lượng và tự quyết định các nội dung thuộc lĩnh vực quan hệ dân sự Điểm khác biệt quan trọng nằm ở tính quốc tế của hợp đồng Trong thực tiễn, để xác định tính chất quốc tế của một hợp đồng có nhiều cách đánh giá, tiếp cận khác nhau Theo các quan điểm phổ biến hiện nay, hợp đồng được coi là có tính chất quốc tế khi có các dấu hiệu sau: có liên quan đến hai hay nhiều quốc gia; thuộc phạm vi điều chỉnh của một điều ước quốc tế; hàng hóa có sự chuyển dịch qua biên giới; hoặc hợp đồng tạo ra các giá trị, lợi ích trong thương mại quốc tế

Trong thực tiễn, cách tiếp cận của luật pháp quốc tế về xác định tính chất quốc tế của một hợp đồng thường được thể hiện thông qua dấu hiệu các chủ thể

liên quan có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau Theo Điều 1 của Công ước LaHay (1964) về mua bán quốc tế những động sản hữu hình, một hợp đồng mua

bán được coi là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các bên chủ thể có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa trong hợp đồng được chuyển

dịch qua biên giới và được xác lập ở các nước đó Còn theo Điều 1 Công ước Viên của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì yếu tố nước ngoài

của hợp đồng là yếu tố chủ thể: chủ thể của hợp đồng là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau

Ngoài ra, có thể tìm thấy yếu tố này trong nhiều điều ước quốc tế về hợp

đồng như Công ước La Hay (1986) về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán quốc tế, Công ước Geneve (1983) về đại diện trong mua bán quốc tế hoặc trong

bộ Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế PICC của UNIDROIT (Điều 1)… đều dựa trên tiêu chí các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau để xác

định tính chất quốc tế của hợp đồng

Đã có khá nhiều công ước quốc tế về hàng hải và vận tải biển, tuy nhiên chỉ có hai công ước quốc tế có đề cập trực tiếp tới quan niệm về hợp đồng vận

Trang 14

Theo Mục 6, Điều 1, Công ước Hamburg (1978) - Công ước của Liên hợp

quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, khái niệm hợp đồng vận chuyển

hàng hóa bằng đường biển quốc tế được hiểu “là bất kỳ hợp đồng nào mà theo đó người chuyên chở đảm nhận chuyên chở hàng hóa bằng đường biển từ một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước Tuy nhiên, một hợp đồng bao gồm chuyên chở bằng đường biển và cả phương tiện khác thì hợp đồng đó chỉ được coi là hợp đồng chuyên chở bằng đường biển theo nghĩa trong Công ước này, nếu nó liên quan đến vận tải đường biển”

Các quy định trên cho thấy, Công ước Brussels (1924) chỉ điều chỉnh hợp

đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển dưới dạng vận đơn hay chứng từ

tương tự như vận đơn, còn Công ước Hamburg (1978) thì áp dụng cho tất cả các

loại hợp đồng vận chuyển bằng đường biển, kể cả vận đơn

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được điều chỉnh không chỉ bởi pháp luật quốc gia mà còn cả các điều ước quốc tế và tập quán hàng hải trong các lĩnh vực liên quan Hiện nay Việt Nam mới chỉ tham gia những công ước chung nhất về hoạt động hàng hải Những Công ước trong phạm vi quốc tế điều chỉnh hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển tiêu biểu nhất là: Công ước Hamburg, Quy tắc Hague, Hague – Visby, Quy tắc Work – Anwtep, Công ước Brussel 1924… Thì Việt Nam vẫn chưa tham gia Chính vì vậy, nội dung của những Công ước đó không được áp dụng trực tiếp vào hoạt động vận

Ngày đăng: 23/01/2022, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w