Biết B là thợ sửa chữa máy bay có trách nhiệm kiểm tra kỹ thuật trước mỗi chuyến bay, A (tiếp viên hàng không) thuê B giấu 2 kg vàng (trị giá hơn 2 tỷ đồng Việt Nam) dưới ghế ngồi của A trên máy bay để đưa từ Việt Nam sang Hàn Quốc bán kiếm lời. B được A trả công 5 triệu đồng. Vụ việc sau đó bị phát hiện, A và B bị bắt. Hành vi phạm tội của A cấu thành tội buôn lậu theo Khoản 4 Điều 188 BLHS.
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG 3
1 Tóm tắt tình tiết vụ việc 3
2 Giải quyết yêu cầu của đề bài 3 2.1 Tội buôn lậu mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? 3 2.2 B có bị coi là đồng phạm với A tội buôn lậu trong vụ án nêu trên không? Tại sao? 4 2.3 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A, B trong tình huống nêu trên 7 2.4 Giả sử A là người Hàn Quốc sang Việt Nam công tác, khi về nước đã thực hiện hành vi nêu trên để kiếm lời thì trách nhiệm hình sự của A được giải quyết thế nào? 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 PHỤ LỤC 13
Trang 2NỘI DUNG
1 Tóm tắt tình tiết vụ việc
Biết B là thợ sửa chữa máy bay có trách nhiệm kiểm tra kỹ thuật trước mỗi chuyến bay, A (tiếp viên hàng không) thuê B giấu 2 kg vàng (trị giá hơn 2 tỷ đồng Việt Nam) dưới ghế ngồi của A trên máy bay để đưa từ Việt Nam sang Hàn Quốc bán kiếm lời B được A trả công 5 triệu đồng Vụ việc sau đó bị phát hiện, A và B
bị bắt Hành vi phạm tội của A cấu thành tội buôn lậu theo Khoản 4 Điều 188 BLHS
2 Giải quyết yêu cầu của đề bài
2.1 Tội buôn lậu mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS?
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện và phải chịu hình phạt 1
Về phân loại tội phạm, Điều 9 BLHS quy định như sau:
"Điều 9 Phân loại tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
1 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ
2
Trang 3luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."
Trong vụ việc trên, hành vi phạm tội của A cấu thành tội buôn lậu theo Khoản 4 Điều 188 BLHS:
"Điều 188 Tội buôn lậu
… 4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác."
A đã thực hiện hành vi buôn bán vật phạm pháp (2kg vàng) trị giá hơn 2.000.000.000 đồng qua biên giới, vi phạm Điểm a Khoản 4 Điều 188 BLHS 2015,
do đó, mức phạt cao nhất dành cho A sẽ là 20 năm tù
Theo Khoản 4 Điều 9 BLHS 2015, tội buôn lậu mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
2.2 B có bị coi là đồng phạm với A tội buôn lậu trong vụ án nêu trên không? Tại sao?
Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm2
Trong vụ án nêu trên, B là đồng phạm với A về tội buôn lậu, căn cứ vào những dấu hiệu như sau:
* Những dấu hiệu về mặt khách quan:
Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này phải
có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, đó là có năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu TNHS Trong vụ án này có sự tham gia của hai người là A và B, cả hai đều có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm (có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự)
Thứ hai, những người này phải cùng nhau thực hiện tội phạm một cách cố ý.
Cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là cùng nhau thực hiện một trong bốn hành vi sau:
3
Trang 4- Hành vi thực hiện tội phạm (người thực hành).
- Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (người tổ chức)
- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục)
- Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (người giúp sức)3
Hành vi của những người tham gia phải có sự liên kết thống nhất với nhau mới được coi là đồng phạm, cụ thể là:
- Hành vi của người này phải là tiền đề cho hành vi của người khác
- Hành vi của mỗi người phải có mối quan hệ nhân quả với việc thực hiện tội phạm chung và hậu quả của tội phạm chung đó
Trong vụ án này, A và B đã cùng thực hiện tội buôn lậu với vai trò khác nhau A vừa có hành vi thực hành (mua vàng ở Việt Nam để mang sang Hàn Quốc bán), vừa có hành vi tổ chức (khởi xướng việc buôn lậu; lôi kéo B cùng thực hiện tội phạm bằng cách thuê B với giá 5 triệu đồng; vạch ra phương hướng hành động cho B đó là giấu vàng dưới ghế ngồi của A trên máy bay) Còn B thì có hành vi thực hành (giấu 2kg vàng dưới ghế ngồi của A trên máy bay)
Có thể có quan điểm cho rằng hành vi của B là hành vi giúp sức, tuy nhiên, tôi cho rằng việc xác định B phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức là không đúng Người giúp sức khác người thực hành ở chỗ người giúp sức không thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm4 Theo Điều 188 BLHS
2015, mặt khách quan của "tội buôn lậu" được thể hiện ở hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, các vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa hoặc hàng cấm Hành vi buôn bán trái phép qua
biên giới các mặt hàng kể trên của người phạm tội là hành vi trao đổi các mặt hàng này qua biên giới quốc gia trái với quy định của Nhà nước như không khai báo, khai báo gian dối, dùng giấy tờ giả mạo Người buôn lậu có thể chuyển các loại hàng hóa kể trên qua biên giới bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đường sắt hoặc qua bưu điện quốc tế5 Như vậy, có thể thấy hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới trái phép để buôn bán là dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 9.
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 63.
4
Trang 5khách quan của cấu thành tội buôn lậu Hành vi giấu 2 kg vàng dưới ghế ngồi của
A trên máy bay mà B thực hiện là một phần của hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới trái phép, kết hợp với hành vi buôn bán của A khi đến Hàn Quốc thì sẽ trở thành hành vi buôn lậu được mô tả trong CTTP Thế nên trong vụ án này, B tham gia vụ án với vai trò người thực hành chứ không phải là người giúp sức
* Những dấu hiệu về mặt chủ quan:
Thứ nhất, tất cả những người tham gia thực hiện hành vi phạm tội đều có lỗi
cố ý, được thể hiện như sau:
- Về lí trí: Mỗi người đều biết hành vi của mình có tính gây thiệt hại cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi như vậy cùng với mình Mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả thiệt hại của tội phạm mà họ tham gia thực hiện
- Về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung
và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả thiệt hại xảy ra
Trong vụ án nêu trên, cả hai bị cáo A và B đều thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Về lí trí, A và B nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, biết đối phương cũng có hành vi như vậy, đồng thời, A và B đều thấy trước hậu quả thiệt hại sẽ xảy ra (gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất nội địa, gây thất thu thuế của Nhà nước, gây mất ổn định thị trường ) Về ý chí, A và B cùng mong muốn có hoạt động chung (A là người nảy sinh ý định buôn lậu, A thuê
B với giá 5 triệu đồng, B đã đồng ý); A và B mong muốn hậu quả thiệt hại sẽ xảy ra
Thứ hai, trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích phạm tội là dấu
hiệu được mô tả trong CTTP, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích phạm tội Dấu hiệu này được thể hiện qua việc những người tham gia có chung mục đích được phản ánh trong CTTP hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích của nhau Trong vụ
án nêu trên, dấu hiệu cùng mục đích phạm tội được thể hiện qua việc B biết rõ mục
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 20-21.
5
Trang 6đích của A là bán kiếm lời, nhưng vẫn tiếp nhận mục đích đó và đồng ý thực hiện hành vi giấu vàng thay cho A
2.3 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A, B trong tình huống nêu trên
* Lỗi:
Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi có tính gây thiệt hại cho
xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý6
Có hai loại lỗi là cố ý và vô ý
Lỗi cố ý bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp
+ Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi " nhận thức
rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra" (Khoản 1 Điều 10 BLHS 2015)
+ Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi " nhận thức
rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra"
(Khoản 2 Điều 10 BLHS 2015)
Lỗi vô ý bao gồm lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp " Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được" (Khoản 1 Điều 11 BLHS
2015)
+ Lỗi vô ý vì cẩu thả là lỗi trong trường hợp " Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó" (Khoản 2 Điều 11 BLHS 2015).
Từ định nghĩa trên, có thể kết luận lỗi của A và B trong vụ việc này là lỗi cố
ý trực tiếp
- Đối với A:
+ Về lí trí: A nhận thức được hành vi buôn lậu của mình là trái pháp luật (thể hiện qua việc thuê người giấu vàng), thấy trước được hậu quả của hành vi là gây thiệt hại cho đất nước (gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản
6
Trang 7xuất nội địa, gây thất thu thuế của Nhà nước, gây mất ổn định thị trường )
+ Về ý chí: A mong muốn hậu quả thiệt hại đó phát sinh (A muốn mang
số vàng sang Hàn Quốc một cách trót lọt để bán kiếm lời)
- Đối với B:
+ Về lí trí: B nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội (tiếp tay cho hành vi buôn lậu của A), thấy trước được hậu quả của hành
vi đó (Nếu A thành công mang số vàng trị giá hơn 2.000.000.000 tỷ đồng sang Hàn Quốc bán thì sẽ gây thiệt hại cho đất nước)
+ Về ý chí: B mong muốn hậu quả thiệt hại đó phát sinh (tuy B không tham gia vào hoạt động buôn lậu, không nhận được lợi ích từ hoạt động này, nhưng B sẽ nhận được 5 triệu đồng nếu giấu vàng trót lọt)
* Động cơ phạm tội:
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý 7
Đối với A:
Để tìm hiểu về động cơ phạm tội của hành vi buôn lậu của A, trước hết nên bắt đầu từ đặc điểm siêu lợi nhuận của tội phạm buôn lậu Đây là điều mà không ai
có thể phủ nhận Theo PGS.TS Ngô Trí Long (nguyên Viện trưởng Viện Quản lý giá, Bộ Tài chính), với 3 kg tương đương 80 lượng vàng, nếu buôn lậu trót lọt, các đối tượng sẽ thu về khoảng 104 triệu đồng8 Nhưng giới buôn lậu vàng không chỉ
ăn lãi có thế Các đối tượng có thể gom vàng trôi nổi với giá rẻ, xuất lậu ra nước ngoài, từ đó gia công chế tác lại thành vàng nữ trang, quay về Việt Nam gắn mác vàng nước ngoài để tiếp tục hưởng lãi kép Lợi nhuận cao luôn là động lực thúc đẩy người ta bằng mọi cách có được nó Và như vậy, người ta luôn có động lực ngày càng mạnh mẽ để thực hiện hành vi buôn lậu nói chung và hành vi buôn lậu vàng nói riêng Trong vụ việc nêu trên, động cơ phạm tội của A cũng không nằm ngoài
lý do này, đó là vì vụ lợi, buôn bán kiếm lời bất chính
Đối với B:
7
Trang 8B là thợ sửa chữa máy bay có trách nhiệm kiểm tra kỹ thuật trước mỗi chuyến bay, nên việc giấu vàng dưới ghế ngồi của A trên máy bay không hề khó đối với B Trong khi đó, số tiền công lên đến 5 triệu đồng B thực hiện hành vi giấu vàng cho A để nhận được số tiền nó Như vậy, động cơ phạm tội của B là vì tiền Ngoài ra, động cơ phạm tội của B có thể là vì tình cảm, khi A (tiếp viên hàng không) và B (thợ sửa chữa máy bay) đã quen biết với nhau từ lâu, có mối quan hệ tốt
2.4 Giả sử A là người Hàn Quốc sang Việt Nam công tác, khi về nước đã thực hiện hành vi nêu trên để kiếm lời thì trách nhiệm hình sự của A được giải quyết thế nào?
Trong trường hợp A là người Hàn Quốc sang Việt Nam công tác, khi về nước đã thực hiện hành vi nêu trên, trước khi xác định trách nhiệm hình sự của A được giải quyết thế nào, cần xác định xem A có thuộc phạm vi những người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không bị xử lí theo BLHS Việt Nam hay không
* Trường hợp 1: A thuộc đối tượng miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự
Khoản 2 Điều 5 BLHS 2015 quy định: "Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế
đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao."
Như vậy, nếu A thuộc đối tượng " được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế " thì vấn đề trách
nhiệm hình sự của A sẽ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; nếu điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao
8
Trang 9Ngoài ra, tuy A có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước mà mình mang quốc tịch (Hàn Quốc), thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu Điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao, khi mà Hàn Quốc và Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự của A theo pháp luật Việt Nam
* Trường hợp 2: A không thuộc đối tượng miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự
Khoản 1 Điều 5 BLHS 2015 quy định như sau:
" 1 Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam."
Như vậy, theo Khoản 1 Điều 5 BLHS 2015, người nước ngoài thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà không thuộc đối tượng được quy định tại Khoản 2 Điều 5 BLHS thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự như công dân Việt Nam Trong trường hợp A không thuộc đối tượng miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, vấn đề trách nhiệm hình sự của A sẽ được giải quyết theo các quy định của BLHS,
cụ thể là Điều 5 BLHS 2015, Khoản 4 Điều 188 BLHS 2015
Ngoài ra, Tòa án có thể cân nhắc áp dụng hình phạt trục xuất đối với A, căn
cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà A đã thực hiện, quốc tịch của A, các yêu cầu về chính trị, pháp luật và quan hệ ngoại giao Theo Khoản 1
Điều 1 Nghị định 54/2001/NĐ-CP, trục xuất được định nghĩa là "hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội (người không
có quốc tịch Việt Nam) buộc người đó trong thời hạn nhất định phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam."
9
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản quy phạm pháp luật
1 Bộ luật Hình sự 2015
Sách
2 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Hình sự, Nxb Tư Pháp, Hà
Nội
3 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư Pháp, Hà Nội.
4 Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm
2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb Tư Pháp, Hà Nội.
Luận văn
5 Trần Quang Tiệp (2000), Đồng phạm trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
6 Lê Quỳnh Trang (2016), Tội buôn lậu trong pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội, Hà Nội
7 Lê Thị Hương Giang (2019), Đồng phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Website
ngày truy cập 09/06/2020
09/06/2020
10