Bài viết Kỹ thuật trồng chè hun đất tìm hiểu về quy trình trồng chè theo kiểu bậc thang áp dụng biện pháp hun đất, nhằm hỗ trợ phát triển phương thức tiếp cận nông nghiệp sinh thái nâng cao tính hiệu quả và bền vững của các hệ thống canh tác tại Việt Nam.
Trang 2
UY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG CHÈ THEO TIỂU BẬC THANG
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP HUN ĐẤT
- Tiểu bậc thang giúp hạn chế rửa trôi phân bón và xói mòn đất, nhất là khi cây chè
còn nhỏ, tán bé, nương chè có độ che phủ đất ít
- Hun đất giúp hạn chế cỏ dại, diệt các nguồn sâu bệnh hại trong đất, cải tạo kết
cấu đất, làm đất bớt chai cứng
- Vật liệu hun đất góp phần làm tăng độ mùn, cải tạo dinh dưỡng đất
1 THỜI VỤ TRỒNG CHÈ
- Miền Bắc: tháng 8-10 (tốt nhất), hoặc tháng 2-3
- Vùng khu 4 cũ: tháng 9-10
- Tuy nhiên, cụ thể thời vụ trồng chè ở mỗi địa phương còn phụ thuộc vào mùa mưa, sự bắt
đầu và kết thúc mùa mưa Cần trồng chè khi đất đủ ẩm, sau khi mưa, trời râm mát
- Đất trước khi trồng chè được dọn sạch
Gốc cây, cỏ dại được thu gom lại để làm
vật liệu che phủ đất Nếu đất chai, cứng có
thể làm đất sâu
- Thời vụ làm đất: làm vào thời gian ít mưa
(dưới 150 mm/tháng) để tránh cho đất
không bị xói mòn, rửa trôi
- Đối với loại đất mới, nhiều mùn: làm đất
vào tháng 7-tháng 9; làm đất xong trồng
- Đối với đất phục hoang, đất xấu: làm đất vào tháng 11 đến tháng 3 Lam đất xong trồng 1
vụ cây xanh để cải tạo đất trước khi trồng chè
- Chuẩn bị nguyên vật liệu để hun đất: vỏ trấu, tế guột, mùn cưa
- Tạo thành băng nhỏ 4 hàng chè/băng
- Đào rạch trồng chè với khoảng cách: hàng cách hàng1,4 m, sâu 40-50 cm, rộng 40-50 cm,
lấp đất mặt xuống dưới
- Tế guột được phơi khô, sau đó rải 1 lớp dày dưới rạch chè rồi đổ trấu lên trên, cứ 5-6m dài
trên rạch chè để 1 lỗ thở “lỗ để mồi lửa”, tiến hành hun đất Sau khi hun xong tàn tro để lại
trên rạch chè trộn tro cùng với phân chuồng tỉ lệ giảm 1⁄2 so với trong qui trình trồng chè thông
thường Công việc này cần được kết thúc trước khi trồng chè 1 tháng
Trang 3
- Giống chè: Lựa chọn trồng các giống đã được khảo nghiệm và xác nhận là thích hợp với điều kiện địa phương
- Cây giống: Nếu trồng bằng cây con từ cành giâm, cây phải có thời gian sinh trưởng trong
vườn ươm từ 8-12 tháng, chiều cao đạt trên 25 cm, đường kính gốc lớn hơn 0,2 cm, có 6-8 lá thật, 2/3 thân cây hóa nâu 2/3, các lá trên cây mở to, không có nụ hoa Cần chuẩn bị đủ
lượng cây giống để trồng và một lượng khoảng 10-15% cây con dự phòng để trồng dặm
3 TRỒNG CHE
- Bổ hố sâu 20-25 cm theo rãnh đã được đào và ủ phân từ trước để trồng bầu cây
- Mật độ, khoảng cách trồng: Nơi đất dốc dưới 159 trồng 1,04-1,33 vạn cây/ha (hàng cách
hàng từ 1,5-1,6 m; cây cách cây từ 0,50-0,6 m) Ở các vùng thấp, mật độ trồng thích hợp là 1,8-2 vạn/ ha (hàng cách hàng 1,4 m; cây cách cây từ 0,40-0,45 m)
- Cách trồng: Đặt bầu vào hố, rạch bỏ túi bầu,
lấp đất đến vết cắt hom, nén chặt đất xung
quang gốc, lấp phủ lớp đất tơi lên, trên vết cắt
hom 1,5-2,5 cm Cần đặt mầm cây theo hướng
xuôi chiều gió chính, tất cả các cây theo cùng
1 hướng để tiện chăm sóc
- Trồng xong có thể tủ gốc bằng các vật liệu
thích hợp, để giữ ẩm, giúp cây phục hồi và phát
triển tốt
4 TRỒNG CÂY CHE BÓNG CHO CHÈ
Để làm cây che bóng cho chè, nên chọn cây thuộc bộ đậu, thân gỗ, tán thưa, rộng, không
tranh chấp nước với cây chè về mùa đông Trồng cây che bóng cùng với hàng hay giữa hai hàng chè, mật độ từ 150-250 cây/ha Trồng bằng cây ươm bầu, đảm bảo che bóng 20-40%
ánh sáng mặt trời Cần cắt tỉa vào tháng 4 và tháng 9 để độ che bóng không quá lớn Phần
thân lá cắt xuống được dùng để tủ cho chè, để cải tạo và giữ độ ẩm đất cho cây chè phát
triển tốt
5 CHAM SOC CHE
Trồng giặm chè
Nương chè phải được giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng, vào những chỗ mất khoảng Trồng giặm chè cũng cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản
(2-3 năm đầu), để đảm bảo nương chè đồng đều về mật độ, không ảnh hưởng đến năng suất
về sau Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi với cây trồng trên nương, đã được chuẩn bị dự
phòng từ trước
Bón thêm 1,0 kg phân hữu cơ vào hỗ trước khi trồng giặm
Thời gian trồng giặm tốt nhất vào vụ xuân sớm, khi có mưa nhỏ, đất vừa ẩm, nhiệt độ ấm dần, thời tiết thuận lợi cho cây cối đâm chồi nảy lộc
Đối với nương chè tuổi lớn bị mất khoảng, cũng cần tiến hành trồng giặm Sử dụng cây con 14-16 tháng tuổi, chiều cao 35-40 cm, bấm ngọn trước khi trồng Kích thước bầu lớn 25x12
cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất và 1 phần phân hữu cơ hoai mục được ủ với phân
lân Thời vụ giặm từ tháng 7-10, khi có mưa và đất đủ ẩm, và lúc này nương chè bắt đầu vào
thời gian ngủ nghỉ không ảnh hưởng đến cây chè bên cạnh
Trang 4Bón phân cho chè
a) Bón lót trước khi trồng:
Bón lót, trước khi trồng, 10-20 tấn phân hữu cơ và 800 kg supelân Trộn phân đều vào đất
cùng với tro đốt trên rãnh hàng Khi cây chè vào tuổi 2 bón tiếp 10-20 tấn phân hữu cơ Có
thể dùng chất hữu cơ, rác tủ thay thế một phần phân hữu cơ, ngoài ra có thể bổ sung thêm
phân vi sinh
b) Bón phân cho mỗi ha chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản (2-3 năm sau trồng):
Tron déu,
bón sâu 6-8cm,
Tron déu,
15-30 cm, lấp kín
30-40 cm, lấp kín
Trộn đều,
30-40 cm, lấp kín
Đơn vị chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)
Đơn trợ: Cơ quan phát triển Pháp (AFD)
Đơn ỗ trợ kỹ thuật: Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển (CIRAD)
Đơn vị thực hiện: Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI)
Trang 5
c) Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh:
¡ chè ¡ phâ _ Số lần | Thời gian bón Phương pháp Loại chè Loại phân | Lượng phân (k ` Š
kinh doanh
Ure 100-120 3-4 2;4,6;8 Năng suất đọt
dưới 60 tạ/ha P.O; 40-60 1 2
Ure 150-180 3-4 2:4:6;8 Năng suất đọt
K,0 60-100 4 2;4;6;8
Năng suất đọt
từ 80-120 tạ/ha| — P¿0; 100-160 1
Năng suất đọt
từ 120 ta/ha P,0, 160-200 1
K,0 200-300 2-3
Kỹ thuật bón thúc cho mỗi ha chè kinh doanh:
+ Hàng năm bón NPK theo tỷ lệ 3:1:†1 (30-35kg N cho 1 tấn sản phẩm)
d) Bón phân cho mỗi 1 ha chè giống (vườn cây lấy hom để nhân giống)
Số
Phân loại | Lượng phân (kg) | lần | Thời gian bón Phương pháp bón
bón (vào tháng)
Trộn đều với phân lân, bón rạch
Hữucơ | 25.000-30.000 | 1 ae 499 a 12-1 ae sâu 15-20 cm, giữa hàng, lấp kín Tron đều, bón sâu 6-8 cm,
P.0, 300 1 12-1 giữa hàng, lấp kín Bón 60-40% N
Trang 6Phòng trừ sâu bệnh
Phòng trừ sâu bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp, nhằm giúp đạt sản lượng cao nhất, đạt chất lượng chè tốt nhất, với tác hại ít nhất cho môi trường
Phải kiểm tra nương chè thường xuyên, phát hiện sâu bệnh sớm để phòng trừ kịp thời Các
biện pháp phòng trừ cụ thể:
- Biện pháp canh tác: Bón phân hợp lý, chăm sóc cho cây chè khỏe, diệt trừ mầm bệnh,
thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại trử bỏ trứng sâu, mầm bệnh
- Biện pháp sinh học, sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm
bảo độ ẩm trên nương chè Hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học để đảm bảo duy trì
tập đoàn thiên địch có ích, cân bằng sinh thái trên nương chè
- Biện pháp hoá học: Chỉ phun thuốc khi thật sự cần thiết
Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc 4 đúng khi dùng thuốc:
Đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và đúng cách;
Chỉ sử dụng các loại thuốc có trong danh mục thuốc báo vệ thực vật được phép sử dụng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Đảm bảo thời gian cách ly, ít nhất 10-15 ngày, từ khi phun thuốc tới khi thu hái đọt chè
(1) Đúng thuốc: Phải căn cứ vào đối tượng sâu, bệnh hại và cây trồng mà lựa chọn đúng thuốc để sử dụng “Bệnh nào thuốc nấy” Nên chọn sử dụng loại thuốc có hiệu quả cao
với loại dịch hại cần trừ, ít độc hại với người, ít tác động xấu tới môi trường và thiên địch
Tuyệt đối không sử dụng những loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, thuốc không có tên trong danh mục thuốc được phép sử dụng, thuốc đã bị cấm sử dụng Thực hiện đúng các quy định đối với thuốc trong danh mục các thuốc hạn chế sử dụng
(2) Đúng lúc: Dùng thuốc sớm quá, khi sâu bệnh xuất hiện còn ở mật độ thấp, dưới ngưỡng kinh tế, sẽ gây lãng phí Ngược lại, phun muộn quá, khi cây trồng đã bị phá hại nhiều, sâu
bệnh đã qua thời kỳ mẫn cảm với thuốc thì thuốc không còn tác dụng diệt trừ sâu bệnh
nữa Để phun thuốc đúng lúc, cần theo dõi, kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, quan sát thời điểm xuất hiện, chiều hướng phát triển của sâu bệnh, đặc điểm thời tiết, tình hình xuất hiện và phát triển của thiên địch, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng để xác định thời điểm
dùng thuốc Chỉ sử dụng thuốc khi dịch hại phát triển tới ngưỡng gây hại, khi sâu đang còn nhỏ (tuổi 2, 3) Khi thiên địch đang tích lũy và phát triển, cần thận trọng trong việc dùng thuốc Không phun thuốc khi trời đang nắng nóng, khi đang có gió lớn, sắp mưa, khi cây
đang nở hoa thụ phấn
Trang 7(3) Đúng liều lượng và nồng độ: Chỉ khi được sử dụng đúng liều lượng thì thuốc mới có tác dụng “Thuốc có liều” Lượng thuốc cần dùng cho một đơn vị diện tích và độ pha loãng của thuốc cần được thực hiện theo đúng chỉ dẫn Việc tăng, giảm liều lượng và nồng độ không đúng cách sẽ làm cho thuốc không có tác dụng như mong muốn, và còn
là một trong những nguyên nhân gây hiện tượng “kháng thuốc” của dịch hại
(4) Đúng cách: Có loại thuốc dạng bột, có loại dạng sữa, có loại dạng hạt Có loại
dùng để phun, có loại dùng để xông hơi, có loại dùng để rắc trực tiếp vào đất Chỉ khi được sử dụng đúng cách thuốc mới có tác dụng Cần đọc kỹ hướng dẫn để nắm được cách dùng và dùng cho đúng cách Nếu là thuốc phun, cần phun rải đều và chú ý những nơi sâu bệnh tập trung nhiều Dùng thuốc không đúng cách không những
không có tác dụng phòng trừ sâu bệnh, mà còn có hại cho người, vật nuôi, môi
trường và cây trồng
Đốn chè
a) Đốn tạo hình:
Lần1: khi nương chè có 80% số cây có đường kính gốc từ 1-1,5 cm Đốn thân chính cách mặt đất 35-40 cm, đốn cành bên cách mặt đất 45 -50 cm
Lần 2: Đốn phẳng, cách mặt đất 55-60 cm
b) Đốn phót:
Hai năm đầu, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5 cm Sau đó, mỗi năm đốn cao thêm 3 cm Tuy nhiên, khi vết đốn trên cùng cao 70 cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1cm so vết đốn cũ
Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương
Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: 1 năm đốn phớt như trên, 1 năm đốn sửa bằng tán, chỉ cắt phần cành xanh
e) Đốn lửng:
Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn trên cùng cao quá 90 cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì cần được đốn lửng, cách mặt đất 60-65 cm
d) Đốn dau:
Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40-45 cm
e) Đốn cho trẻ lại:
Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10-25 cm
Thời vụ đốn: Từ tháng 12 đến hết tháng 1
- Ở những nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng
- Đốn đau trước, đốn phớt sau
- Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau
Trang 8Cách đốn và dụng cụ đốn:
Có thể dùng máy đốn chè để đốn chè hay dùng dao đốn chè
- Đốn tạo tán có mặt nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành, sây sát vỏ thân chè
- Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao Đốn phớit, đốn tạo hình lần 2 thì dùng kéo hoặc dao Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa
- Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn, sinh trưởng đỉnh đều thì
có thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động
6 THU HOẠCH VÀ BẢO QUAN
Chỉ thu hoạch chè khi đảm bảo thời gian cách ly thuốc BVTV và các hóa chất khác
a) Hái tạo hình chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
- Đối với chè 1 tuổi: Hái bấm ngọn những cây cao 65cm trở lên từ tháng 10
- Đối với chè 2 tu ái đọt trên những cây to khoẻ và cách mặt đất 55 cm trở lên
b) Hái tạo hình sau khi đốn
- Đối với chè đốn †1 lần: Đợt đầu hái cách mặt đất 40-45 cm, tạo thành mặt phẳng
nghiêng theo sườn dốc Đợt 2 hái đọt chùa 2 lá và lá cá
- Đối với chè hái lần 2: Đợt đầu hái cao hơn chè đốn lần 1 từ 25-30 cm, các đợt sau hái chừa bình thường như ở chè đốn lần 1
c) Hái chè kinh doanh (theo tiêu chuẩn TCVN 1053-71-1 054-71)
Hái 1 tôm 2, 3 lá non tuỳ theo mục đích chế biến Chừa lại cách vết đốn 10-15 cm tuỳ theo giống chè Tạo mặt tán bằng, các lần hái sau hái chừa theo qui trình hiện hành
Thời gian hái của một lứa phụ thuộc vào tiêu chuẩn nguyên liệu và yêu cầu của công
nghệ chế biến theo từng loại chè, phụ thuộc vào kỹ thuật hái bằng máy hay hái bằng tay
Thời gian trung bình giữa hai lứa hái tay 10-12 ngày; thời gian trung bình giữa hai lứa
hái máy là 35-42 ngày tuỳ theo sinh trưởng của từng giống
Thời vụ hái và chừa nguyên liệu dùng trong chế biến chè đen Othodox (hái tay):
- Vụ xuân (tháng 3-4): hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng
- Vụ hè thu (tháng 5-10): hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng
- Vụ thu đông (tháng 11-12): tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá
Hái chè nguyên liệu chế biến chè đen CTC ( hái bằng máy):
- Vụ xuân (tháng 3-4): hái chừa cao hơn vết đốn 12-15 cm
- Vụ hè thu (tháng 5-10): hái cao hơn vết hái lần trước 5 cm
- Vụ thu đông (tháng 11-12): hái không để lá chừa, hái sát vết hái trước
d) Hái trên nương chè đốn trẻ lại, đốn đau:
Tiến hành hái như đối với chè kiến thiết cơ bản.