1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bbook Bí quyết thành công – Kỹ thuật trồng chè xanh hiệu quả: Phần 2

59 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 12,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 cuốn sách “Bí quyết thành công – Kỹ thuật trồng chè xanh hiệu quả” cung cấp cho người đọc các kiến thức: Phòng trừ sâu và bệnh hại, thu hoạch, chế biến và bảo quản chè xanh, phụ lục bài đọc tham khảo. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 2

I SÂU HẠI

Chè là cây trồng được thu hái quanh năm nên có thành phần sâu bệnh rất phong phú Để bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên trong sinh quần cây chè, nên để cho các loài gây hại tồn tại ở mật độ thấp dưới mức gây hại kinh tế, không gây ảnh hưởng tới năng suất chè Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho cây chè sinh trưởng phát triển, làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây chè, tạo điều kiện thuận lợi cho thiện địch đến cư trú, góp phần giảm nhu cầu phải dùng thuốc hóc học, giúp diệt sâu hại chè hiệu quả, an toàn Trồng các cây trồng xen tạo điều kiện cho thiên địch có thành phần loài phong phú hcm Duy trì những loại cây hoa có mật (đặc biệt là cây hoa cứt lợn) xung quanh nương chè để hấp dẫn thiên địch đến cư trú và phát triển

Sử dụng các chế phẩm sinh học và thảo mộc để trừ rầy xanh, bọ xít muỗi, chế phẩm Bt để trừ sâu cuốn lá chè, bọ nẹt chè, sâu chùm hoặc Bitadin để trừ nhện đỏ, rầy xanh, chế phẩm thảo mộc và có nguồn gốc sinh học (như Sukopi, SHOl, Sông Lam 333, Deris, Rotox ) và dầu khoáng BVTV để trừ dịch hại chính trên cây chè, chế phẩm sinh học từ nấm đối kháng Trichoderma spp để trừ một số vi sinh vật trong đất gây bệnh cho cây chè

Áp dụng các biện pháp thủ công như thu bắt sâu chùm, sâu non tuổi I -2 của sâu róm chè, bọ xít non của bọ xít hoa khi chúng còn sống tập trung Hái bỏ những lá chè, búp chè bị sâu cuốn lá non, sâu cuốn tổ, sâu xếp lá, sâu kèn cắt tia cành chè bị sâu đục thân mình đỏ, rệp sáp, bệnh loét, sùi cành Đào bỏ cây chè bị bệnh chết loang Phát cỏ dại trong nương chè Đặt bẫy dự báo sự xuất hiện của sâu hại và để thu diệt chúng Dùng bẫy đèn thu bắt các loài rầy; trưởng thành một số loài cánh vảy hại chè bẫy hô đê thu bắt các loài côn trùng hại hoạt động ban đêm khi bò trên mặt đất; bẫy dính màu vàng để bẫy trưởng thành của ệp muội, bọ phấn, bọ cánh tỏ

Trang 3

Không dùng thuốc hóa học bừa bãi và chỉ dùng khi cần thiết, dùng thuốc đặc hiệu hoặc có phổ tác động hẹp, ít độc với thiên địch mà có hiệu quà cao với sâu hại, chi phun vào nơi có mật độ sâu và mức độ bệnh cao hơn ngưỡng gây hại kinh tế, như vậy mới diệt sâu hại chè hiệu quả, đảnỊ bào được chất lượng sản phẩm chè, không gây độc hại cho người dùng^ Các loại sâu hại thường gặp trên cây chè gồm có rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ và nhện đỏ.

1 Rầy xanh

Có tên khoa học là Empoasca Plavescens, con trưởng thành có thân dài

từ 2.5 - 4 mm, màu xanh lá cây hay xanh lá mạ, đầu hình tam giác, chínhị giữa đĩnh đầu có đường vân trắng, hai cánh trước màu xanh trong suốt xếp

úp hình mái nhà

Rầy xanh thường đẻ trứng ở các mô mềm của búp chè, nhưng tập trung ở các đốt nối, một con rầy cái trưởng thành có thể đẻ trung binh khoảng 30 trứng và chúng có thể đè tối đa tới 150 trứng Trứng có hình dạng hơi cong như hình quá chuối, dài khoảng 0.8 mm, trứng mới đẻ màu trắng sữa, trứng sắp nở có màu lục nhạt

Rầy non có 5 tuổi, hình dáng gần giống rầy trưởng thành nhưng không CÓỊ cánh, rầy mới nở màu trắng trong suốt, nhò như hạt cám, càng lón chuyểnỊ dần sang màu xanh, cuối tuổi 5 cơ thể dài 2 mm Rầy xanh có vòng đời tùỊ 12- 30 ngày (tùy nhiệt độ môi trường), mồi năm rầy có thề phát sinh| khoang 10-14 lứa

s

>

£o

o

1

Trang 4

Vườn chè bị gây hại Rầy xanh gây hại

+ Đặc điếm gãy hại: Rầy xanh là loại côn trùng gây hại lớn cho cây

chè, cả rầy trưởng thành lẫn rầy non đều không thích ánh sáng mặt trời nên ban ngày thường ẩn ở mặt dưới của lá chè, rầy di chuyển ngang, thấy động thì nhảy khỏi nơi đậu Rầy xanh gây hại quanh năm trên nương chè, nhưng nặng nhất là vào tháng 3-5 và tháng 8-10 Cả rầy trưởng thành lẫn rầy non đều tập trung ở phần búp lá non hút nhựa dọc gân lá khiến lá biến dạng cong queo, trên có các đốm nhỏ vàng ít nghiêm trọng hơn thì lá chè có màu tía Neu nặng lá ngắn hơn và khô nhất là trong điều kiện nắng nóng lá

bị khô từ đầu đến tận nách lá Thiệt hại do rầy không chỉ bởi hút hết nhựa cây mà còn gây tốn thương tế bào khiến cây chậm lớn, còi cọc, giảm năng suất và chất lượng chè Neu bị hại nặng, chóp lá bị khô có màu thâm đen

và lan dần xuốnghai bên mép lá gọi là ”cháy rầy”

+ Biện pháp phòng trừ: Áp dụng các biện pháp canh tác cần thiết cho

cây chè như chăm sóc cây khỏe (trồng mật độ vừa phải, bón phân cân đối), phát cỏ dại trong nương chè giữ ruộng sạch cỏ, tránh trồng xen hoặc xung quanh ruộng các cây ký chủ của rầy xanh Đốn, hái chè đúng kỹ thuật, đúng thời điểm, tránh búp chè ra đúng thời điểm rầy rộ Thu hái búp chè khi rầy rộ để hạn chế trứng rầy

Trang 5

Sừ dụng một trong các loại thuốc sau; Dinoteíuran (Oshin lOOSL), Thiamethoxam (Actara 25WG), Azadirachtin (Vineem 1500EC; A-Z annong 0.03EC), Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Proclaim 1.9 EC) Abamectin + Alpha-cypermethrin (Shepatin 18EC), Abamectin + Chlorfluazuron (ConEitin 18EC, 36EC, 50EC).

2 Bọ xít muỗi

Có tên khoa học là Helopetis Theivora, con trưởng thành cơ thể dài từ 5

- 10 mm, râu màu nâu, mảnh dài quá thân Bọ xít muỗi đực nhỏ hơn con cái khoang 4 mm, toàn thân có màu nâu xanh, lung nâu vàng, đầu có màu nâu,

có các vệt vàng rộng, phía trên có vệt nhó hơn, mắt có màu nâu đen Hình dạng cua cả con đực và con cái trông giống như muỗi nên gọi là bọ xít muỗi Khoảng 2- 6 ngày sau vũ hóa bọ xít muỗi có thê giao phối và 1 - 3 ngày sau

đẻ trứng Bọ xít muỗi cái có thế đẻ từ 12- 72 trứng (trung bình 50-60 trứng), trứng được đẻ thành từng quả hay thành cụm 2- 3 trứng vào mô lá, cành non cua cày chè, trứng có hình ô van màu trắng trong Áu trùng có 5 tuồi, màu sẳc chuyến dần từ màu đồng, da cam tới xanh vàng, tự vệ bang rời khởi cây khi thấy động Vòng đời cùa bọ xít muỗi kéo dài từ 34 - 40 ngày

Đặc diêm ỊỊÔy hại:

Bọ xít muỗi dùng vòi chích hút nhựa búp chè, tạo nên vết màu nâu đậm Con trưởng thành gây nên vết chích lớn và thưa, ngược lại ấu trùng gây nên vết chích nhỏ và dày hơn Búp và lá chè non bị mất nhựa và biến dạng cong queo, khô và đen, cây sinh trưởng chậm, còi cọc làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất trà

4 -1

1

Trang 6

Bọ xít muỗi trưởng thành Búp chè bị hại

Tại Lâm Đồng, bọ xít muồi có quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5-11 khi trời mát, ẩm độ cao và nhất là khi chè ra các búp non

+ Biện pháp phòng trừ:

Trồng giống chè kháng hay ít nhiễm bọ xít muỗi (như LD 97), mật

độ ữồng vừa phải, tỉa hình tạo tán chè theo tiêu chuấn kỹ thuật Làm sạch

cỏ dại trên luống chè và bờ lô, bụi rậm quanh nương nhằm hạn chế nơi cư trú của bọ xít muỗi Thiên địch của bọ xít muỗi gồm các loại nhện ăn thịt, chuồn chuồn kim, bọ rùa, ong ký sinh và kiến (có thế ăn cả con trưởng thành và ấu trùng) Loại bở các búp chè bị hại (chứa trứng và ấu trùng) nhằm hạn chế sự phát triển của bọ xít muỗi Thưòng xuyên quan sát và theo dõi nương chè để phát hiện sớm và xử lý kịp thời tránh lây lan ra diện rộng

Trang 7

Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Abamectin (iavitin 36EC, Acimetin 5EC); Dinoteíuran (Oshin lOOSL); Oxymatrine (Vimatrine 0.6 SL); Azadirachtin (Vineem 1500EC); Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Map Winner 5WG, Mikmire 2.0EC); Thiamethoxam (Actara 25WG); Citrus oil (MAP Green SSL, 6SL, lOSL); Emamectin benzoate + Petroleum spray Oil (Comda 250EC).

ra phía sau và có hai mầm cánh nhỏ Tiền nhộng rơi xuống đất lột xác thành nhộng Bọ trĩ thưởng thành và ấu trùng thường lẩn trốn ánh sáng, tập trung trong búp chè, trong hoa hoặc ẩn ở mặt dưới lá non của cây chè Vòng đời của bọ trĩ khoảng 21-42 ngày

+ Đặc điêm gây hại;

Cả ấu trùng và bọ tiĩ trưởng thành đều hại ữên búp chè Chúng dừig hàm dưới giũa vào biểu bì sau đó mới cắm vòi hút chất dinh dưỡng ở lá non, tôm chè, cuống búp chè Những vết rách do giũa và vết chích khi lành thành sẹo, tạo nên vết sần sùi màu nâu với những kẽ nứt ngang Neu tôm của búp chè bị hại, khi lá non mở ra thi mặt dưới lá có hai vệt sần sùi màu nâu, song song với gân chính của lá chè Bọ tri hại làm cho búp chè cứng giòn, lá biến dạng, hai bên mép lá và chóp lá sần sùi, cong queo, thường gọi là “chè ghẻ”

> ẻ Õ

o

0 Õ

1

Trang 8

ớ những lá chè đã mở, bọ tri hút nhựa để lại các vệt chích màu xám nhạt, lá bị hại có nhiều chấm nhỏ lợt, thường gọi là “bạc lá” Lá cây bị hại trở nên dày cứng hcm bình thưòng, có màu xanh đục tối và quăn queo Ngoài ra bọ tri cũng hại ở cành non nhưng chỉ gần chồi, gây vết nhám ưên bề mặt cành.

+ Biện pháp phòng trừ:

Chăm sóc cây khỏe, trừ cỏ dại đúng yêu cầu kỹ thuật Thu hái đúng lúc, ngắt bở trứng và bọ trĩ Sử dụng cây che mát, tưới phun mưa trực tiếp vào búp chè khi bọ trĩ rộ Hàng năm cần xới xáo, thu gom tàn dư và vun kín gốc chè để diệt nhộng Bảo vệ thiên địch (bọ rùa đen nhỏ, kiến, nhện ịlưới), chỉ sử dụng thuốc khi thật cần thiết

ị Có thể sử dụng một trong các loại thuốc: Abamectin; Emamectin Benzoate (Emalusa 35EC); Azadirachtin (Vineem 1500EC); Matrine

Trang 9

(Sokupi 0.5SL); Spinetoram (Radiant 60SC); Thiamethoxam (Actara 25WG, Vithoxam 350SC); Dinotefuran (Oshin lOOSL); Beta - Cyíluthrin (Bulldock 025EC); Bacillus thuringiensis (TP - Thần tốc 16.000 IU); Spirotetramat (Movento 150 OD).

4 Bọ hung nâu

Có tên khoa học là Maladera Orientalis, là loại côn trùng cánh cứng, có hình bán cầu thân dài từ 3- 5 mm, rộng từ 2.5- 3.5 mm, có màu xám cánh gián, vòng đời khoảng 1 năm Trứng và ấu trùng đều nằm trong đất, chỉ có

bọ trưóng thành là trực tiếp gây hại cho cây

r

> ẻ o

Bọ hung hại chè

+ Đặc điếm gây hại:

Bọ hung nâu gây hại trên lá non và búp chè, chúng chỉ ăn phần lá chừa lại đường gân làm cho lá chè bị khô quăn sau đó rụng đi Những lá ra sau tiếp tục bị hại và không phát triển được Bọ hung nâu thường gây hại trên chè kiến thiết cơ bản, chè mới đốn Chúng thưòng gây hại vào đầu mùa mưa, chủ yếu tháng 4-6 Ban ngày chúng chui xuống đất nằm quanh tán chè, ban đêm mới leo lên cây và gây hại cho chè trong khoảng từ 6 đến 9 giờ tối Khi bị hại nặng cây chè trở nên còi cọc, kém phát triến và ngừng sinh trướng

Trang 10

+ Biện pháp phòng trừ: Do bọ hung nâu nằm dưới đất nên việc phòng

trừ khá phức tạp, áp dụng biện pháp trồng cây phân xanh giữa hai hàng chè đối với chè kiến thiết cơ bản; xác định thời kỳ đốn chè thích hợp để hạn chế bọ hung nâu ăn lá

5 Bọ cánh tơ

Có tên khoa học là Scirtothrips Dorsalis Hood, thuộc họ Thripidae Bọ trưởng thành có thân dài 0.8 - 1 mm, trên minh có lông thưa Cơ thể màu vàng, lưng và cánh màu xám nhạt, hai mắt kép màu nâu đen, có 3 mắt đơn màu dở xếp chụm vào nhau theo hình tam giác Bụng có 10 đốt, râu đầu 6 đốt, trên râu có lông thưa, ngắn và cứng

Trứng dài 0.15 mm, rộng 0.11 mm, có hình hạt đậu, lúc mới đe có màu trắng, đẻ ớ trong mô lá non và mầm non Bọ non (ấu trùng) có 2 tuối, hình dáng giống như bọ trưởng thành nhưng không có mắt đơn và không có cánh,

cơ thể nhẵn bóng, chỉ ở đốt cuối bụng có lông thưa (Tuổi 1: dài 0.3 - 0.5

mm, lúc mới nở màu trắng trong, sau chuyến dần thành màu nâu đò, bụng thuôn Tuồi 2: cơ thể dài 0.5 - 0.65 mm, có màu vàng, bụng phình to hơn tuổi 1) Bọ ở giai đoạn tiền nhộng có kích thước 0.6 - 0.7 mm, nhận biết được nhờ hai mầm cánh, đôi cánh trước kéo dài đến giữa đốt bụng thứ 3 toàn thân có lông trắng thưa, hai mắt kép màu nâu đỏ Bọ ở giai đoạn nhộng dài 0.7 - 0.8 mm, hai mắt kép to và nhò Phân biệt với tiền nhộng nhờ đôi mầm cánh trước kéo dài đến đốt bụng thứ 8 và râu đầu quặp chặt

về phía sau, các lông cứng trên cơ thể dài hơn ở giai đoạn tiền nhộng

Trang 11

Trửns Tvẩỉ 1

T nẳil

Tiỉa nhộng Nhộng

s

>

>

VỏnỊđời củã^ícahfr^

+ Dặc diêm gãy hại:

Bọ cánh tơ thường ít di động, sống chủ yếu ớ măt sau lá non và ở khe 8

hở của tôm chè Trứng cùa chúng đé từng quả vào mô lá gân gân lá Bg ^ cánh tơ có kiểu miệng giũa hút, cả sâu non và trường thành bám ớ mặt dưới lá non, tôm chè và trên cọng búp để gây hại, làm cho mặt dưới lá và trên cọng búp nổi lên hai đường sần sùi màu nâu xám song song với gânị chính, ngoài ra chúng còn gây hại trên cành non đoạn gần chồi gây vết nhám trên bề mặt cành

Búp chè bị hại có biếu hiện khô giòn dễ vỡ, lá dày màu xanh sẫm, bị quăn queo hoặc biến dạng, sau khi chế biến chè có vị đắng, nước chè vàng hơn và không có màu xanh đặc trưng Khi bị bọ cánh tơ hại nặng, lá và tôm chè sẽ rụng sớm, lá non biến dạng, các mầm non héo thâm và ánh hương đến năng suất búp chè lứa tiếp theo

Một đặc tính đáng chú ý đối với bọ cánh tơ là chúng thường bay lên cao khỏi mặt ruộng vào lúc sấm tối (gọi là "bốc bay"), vì vậy chúng có thế phát tán khá xa trên đồng ruộng nhờ gió Bọ cánh tơ thường phát triển

Trang 12

mạnh trong thời tiết khô, nóng, mồi năm bọ gây hại hai đợt chính Đợt đầu

từ tháng 4 đến tháng 8, đợt này chè đang ra lá mới nên bọ cánh tơ gây hại nặng Đợt 2 khoảng từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 11, đợt này gây hại ít

và thường trên diện hẹp

+ Biện pháp phòng trừ:

Chăm sóc cây chè khỏe mạnh để có thê chống chịu được dịch bệnh, cày ái đất hàng năm để diệt nguồn bọ cánh tơ cư trú trong đất Tưới nước giữ âm cho nương chè, dùng vật liệu phú kín đât quanh gốc chè không đẻ

rễ chè lộ lên trên mặt đất Bón phân đầy đú cân đoi giữa đạm, lân, kali đê

cây chè sinh trưởng và phát triến tốt, không đế cây chè bị thiếu dinh dưỡng, còi cọc Kiếm tra nương chè thưòng xuyên đê phát hiện triệu chứng bệnh kịp thời

Bảo vệ các loại thiên địch frên nương chè, trồng cây che bóng đế thiên địch có chỗ cư trú Chi dùng thuốc hóa học khi thật sự cần thiết và nên sứ dụng các thuốc có phố tác động hẹp, ít ánh hướng đến thiên địch Có thẻ sư dụng một trong các loại sau: Abamectin; Emamectin; Matrine; Dinoteíuran; Acetamiprid; Imidacloprid; Pymetrozine

6 Nhện hại chè

Trên chè có nhiều loại nhện gây hại, chúng hút nhựa lá khiến lá đổi màu, biến dạng và khô, nhện thường tập trung ở mặt dưới lá chè, trong đó chủ yếu là nhện đỏ nâu và nhện vàng Chúng có tên khoa học là Oiigonychus Coffeae và Brevipalpus Caliíomicus

Điều kiện thích họp cho nhện phát triển là ở nhiệt độ 20 - 30°c và ẩm

độ tương đối 49 - 94% Với điều kiện này nhện sinh sản 22 lứa/năm Hầu hết trứng chết ở nhiệt độ 37"c và ẩm độ 72 - 77% hoặc 90 - 94% trong vòng 6 giờ Trứng không nở ở nhiệt độ 34°c và ẩm độ 17% Nhện thích hợp với thời tiết khô hạn nên phát sinh mạnh trong các tháng mùa khô từ tháng 1-4, gây hại nặng ở tháng 2-3 Mùa mưa mật độ nhện thường thấp và

ít gây hại Thiên địch của nhện đỏ là nhện ăn thịt và bọ rùa đen nhỏ

Trang 13

Đặc điếm gãy hại: Nhện đó là loại xâm hại nguy hiếm nhất cho cây

chè, nó tấn công vào lá già và lá bánh té của cây, khi bị hại nặng thì lá chè chuyên sang màu đồng, phô biến ớ những nương chè có độ chiếu sáng cao, thời tiết khô hạn nắng gắt

Nương chè bị hại Nhện vàng và nhện d ị

Nhện hút nhựa và chất dinh dưỡng trong lá chè dẫn đến rụng lá, ảnh hưòng đến quá trinh quang hợp của cây, làm giảm năng suất chè Nhện vàng thường tấn công trực tiếp vào các chồi non mới nhú, ảnh hưởng đến sinh trương và năng suất của chè

+ Biện pháp phòng trừ:

Chãm sóc cây khỏe, trồng cây che bong mát họ đậu trên nương chè vừa có tác dụng cải tạo đất, vừa tác dụng hạn chế nhện đỏ Tủ gốc cho cây chè, tưới phun trong mùa khô và phun nước trực tiếp lên tán chè Cành lá nhiễm nhện sau khi đốn phải thu gom và đem đi tiêu hủy Trong khi thu hái chè cần chú ý không để nhện lây lan từ nơi này sang nơi khác Bảo vệ thiên địch của nhện như bọ rùa đen, bọ cánh ngắn, nhện trắng và chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết

Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Abamectin (Silsau 10WP, Abatox 1.8EC, Shertin 3.6EC); Emamectin benzoate (Proclaim 1.9 EC);

r

?•Éo

1

Trang 14

Maừine (Kobisuper ISL, Sokupi 0.36SL); Petroleum Spray Oil (SK Enspray 99 EC); Azadirachtin; Matrine (Golmec 9EC, 20EC).

+ Đặc điếm gây hại:

Mọt đục lỗ để chui vào cành chè sinh sống, mọt trưỏng thành đục ngoằn ngoèo trong cành chè và thải mạt cưa ra ngoài Những cành bị mọt hại khô héo dần dễ gẫy Cây chè bị mọt xâm hại, mạch dẫn bị cắt đứt từng đoạn, cây sinh trưởng chậm Mọt gây hại quanh năm, chủ yếu trong mùa khô, trên các giống chè cành, trong đó giống PHI, TB 14 mọt hại mạnh hơn Đối với chè cành năm thứ nhất đến năm thứ 2 mọt đục lỗ gây hại từ gốc lên cành cấp 1, cấp 2

Canh chè bị WỊặt xạm hỊỊiị

Trang 15

Biện pháp phòng trừ: Khi mọt mới gây hại có thế căt bó cành bị

đục, kết hợp bón phân, chăm sóc đê chè tiếp tục phát triên Thu gom những cành cây bị mọt đục đem đi tiêu húy

8 Sâu cuốn lá

Có tên khoa học là Gracillaria Theivora, sâu trưởng thành cánh nhỏ! giống hình chữ nhật, rìa cánh có lông dài, cánh trước màu nâu có một vùng hình tam giác màu vàng Thân dài từ 5- 7 mm, cánh dài 10-12 mm Vòng đời của sâu từ 33 - 40 ngày, sâu phát triển mạnh từ tháng 3-5, mồi năm có

Sáu cuốn lá hậi chè

+ Đặc điểm gây hại: Bướm đẻ trứng ở mặt dưới của lá hay bìa lá, sâu

non nở ra chui vào lớp biểu bì lá Sau 5- 6 ngày, sâu di chuyến đến gầụ mép lá và cuốn thành tổ nhỏ đế ẩn nấp, gặm phần chất xanh hoặc ăn khuyết lá chè Sâu phá hại trên lá và búp non của cây chè, lá bị hại phát triển chậm, phẩm chất chè kém

+ Biện pháp phòng trừ: Hái chè đúng lứa, hái sạch búp bị sâu cuốn

Làm cỏ bón phân kịp thời, hợp lý, thường xuyên tạo cho vườn chè thông thoáng Có thể dùng một trong các loại thuốc sau: Azadirachtin (VS>Í

Trang 16

lOSL); Bacillus thuringiensis var.kurstaki (Dipel 6.4WG); Citrus oil (MAP GreenSSL, 6SL, lOSL).

Những cây bị bệnh nặng cần nhố đốt tiêu húy, xừ lý hố bằng thuốc trừ tuyến trùng nêu trên trước khi trồng lại Xua đuổi tuyến trùng bằng cách trồng cúc vạn thọ xen trong vưòn chè

Trang 17

2 Bệnh phồng lá

Bệnh do nấm Exsobasidium Vexans gây ra, bệnh thường phát sinh ở các bộ phận như lá non, lá bánh tẻ, đôi khi xuất hiện ở cành non và quả non của cây chè Ban đầu vết bệnh là các đốm nhỏ màu vàng nhạt, vùng xung quanh vết bệnh bóng lên bất thường, sau đó vết bệnh lớn dần, mặt trên lõm xuống mặt dưới phồng lên, trên vết bệnh phủ một lớp phấn màu trắng, cuối cùng vết bệnh chuyển sang màu nâu, vết phồng khô xẹp xuống Khi vết bệnh vỡ sẽ phóng thích bào tử, bào tử bệnh nhờ gió, mưa lan truyền đi nơi khác

c

?•

E ộ

+ Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên làm cỏ và vệ sinh vưòn chè,

không đốn tía quá sớm vì cành non rất dễ nhiễm bệnh Thiết kế vườn với mật độ cây hợp lý giúp vườn chè thông thoáng và hạn chế ấm độ trong vườn Nên trồng các giống chè Shan kháng bệnh, bón phân cân đối NPK theo đúng quy trinh Khi bệnh xuất hiện tiến hành tỉa các lá và búp chè bị

Trang 18

Bệnh do nấm gây ra, rất nguy hiểm vì có thể lây lan và làm cho cây chè

bị chết Bệnh gây hại ở lá bánh tẻ và lá già của chè trưởng thành Đầu tiên vết bệnh xuất hiện bàng đầu kim màu lục nhạt, ranh giới vết bệnh không rõ ràng, sau đó vết bệnh lớn dần, có lúc lan ra toàn bộ lá Lá bị bệnh dày lên, màu nhạt dần đi, biến thành nâu sẫm, đồng thời phía dưới mặt lá xuất hiện các vết lồi lên có hình dạng mắt lưới, trên mặt vết bệnh hình thành các vết phấn màu trắng

Thời kỳ từ khi vết bệnh có màu nâu tía đến màu đen tía thường khô vàng, lá chết dần và rụng, bệnh có lúc làm lá cuộn lên phía trên Đó là đặc điểm để phân biệt với bệnh phồng lá Cây nhiễm bệnh bị khô và xoăn ngọn, nhiều cây bị rụt ngọn không phát triển được, lá chè bị rộp và đen trên mặt lá như bị cháy nắng

Giống như bệnh phồng lá, bệnh này phát triển mạnh khi ẩm độ cao, ôn

độ thấp có nhiều sương, không thoáng gió Mùa xuân và mùa thu là then kỳ bệnh phát sinh mạnh nhất Nấm bệnh ủ qua đông, hàng năm phát sinh vào tháng 4, 6 và tháng 9,10

+ Biện pháp phòng trừ:

Thực hiện chăm sóc chè tốt, đốn tia thoáng cây che bóng Thu gom tàn dư cây bệnh đem đi tiêu hủy để triệt tiêu mầm bệnh Bón bố sung phân Kali đê tăng sức đề kháng cho chè Có thê sử dụng các loại thuốc có gốc đồng để điều trị như Mange 5WP với lượng 1.5- 2.5 líưha pha với 400 lít nước; phun ngay sau khi hái, phun kép hai lần cách nhau 7-10 ngày Nếu trời nắng liên tục 10 ngày thi không cần phun thuốc

4 Bệnh thối búp

Bệnh do nấm Colletotrichum Thaee Sinensis gây ra, bệnh gây hại chủ yếu trên lá, cuống lá, búp non và cành non của cây chè vết bệnh ban đầu

Trang 19

chi là các châm nhó màu đen, về sau phát triến nhanh và rộng (có thể rộng

2 cm) khiến các lá non, cành non và búp chè chuyển thành màu đen và rụng Bệnh nặng có thể làm cho cây chè bị khô lá, rụng hết lá và búp không thể thu hoạch được

ẸỆnh thôi búp ở cây cA|

Bệnh phát triên mạnh ở điều kiện nhiệt độ 20-27°C, ấm độ cao Bệnh lan truyền nhờ gió, mưa, tàn dư cây bệnh Bệnh thường gây hại nhiều trong; các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, ít gây hại trong mùa khô

+ Biện pháp phòng trừ:

Vệ sinh đồng ruộng, thu gom đốt để tiêu hủy tàn dư của cây bệnh, láị

già rụng trong vưòm chè Trong vườn ưcrm, khi bệnh chớm xuất hiện có thd

dùng kéo cắt và gom đốt những cành bệnh để hạn chế sự lây lan Có thể sủf dụng thuốc sinh học CNX-CN phun ngay khi bệnh chớm xuất hiện ở đầủ

Trang 20

vết bệnh và mô khỏe là một viền nâu đậm Bệnh nặng làm cho lá bị rụng, cây phát triến còi cọc.

Bệnh tập trung vào mùa mưa, nhiệt độ thích hợp cho nấm phát trièn là

•20-25"C, trong năm bệnh hại nặng từ tháng 5- tháng 10

+ Biện pháp phòng trừ: Bệnh mới xuất hiện có thể thu gom lá bệnh xừ

ilý triệt để Đốn chè tập trung trong thời gian ngắn nhất Dùng một trong các loại thuốc như Cucuminoid + Gingerol (Stifano 5.SSL); piigosaccharins (Tutola 2.0SL); Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP) đê Ịphòng trừ

6 Bệnh chết loang

Bệnh do nấm Rosellinia Necatrix Berl Pestalozzia Theae gây ra Nấm bệnh tấn công vào rễ cây làm cây không hút được chất dinh dưỡng nuôi cây, cây héo rũ rồi chết, dần dần lan thành từng đám Phần rễ dưới đất bị mục nát, phần ngoài rễ có lớp tơ trắng mịn, giữa vỏ và rễ cây có sợi nấm màu nâu xám, hơi đen

Trang 21

Bệnh gây chết chủ yếu ở cây chè già với tốc độ lây lan nhanh (gọi là chết loang), thời gian từ khi cây nhiễm bệnh đến chết từ 10-15 tháng Hiện tượng chè chết hàng loạt thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11.

+ Biện pháp phòng trừ:

Tăng cường bón phân chuồng hoai mục, ở những vùng chè bị bệnhị

có thể bón phân chuồng cộng với chế phẩm Trichoderma Cây bị hại nhẹi

có thể sử lý bằng thuốc Chitosan (Stop 15WP) Cây bị nặng, cần nhổ bở tiêu hủy cây bệnh, xử lý đất trước khi trồng bằng thuốc trên hoặc bằng vôiỊ bột

7 Bệnh khô cành

Bệnh do nấm Physalosphora Neglecta Petch gây ra Thời kỳ đầu lá chồ mất đi độ bóng, lá hơi cụp xuống, dần dần chuyển sang màu xanh nhạt,ị mất nước nghiêm trọng, sau cùng bộ lá chuyển sang màu nâu và khôi nhưng vẫn lưu lại trên cây chè 'Trên cành xuất hiện những vết bệnh lõm xuống (loét cành), nhiều vết sẹo liền lại với nhau tạo nên một vết màu nâu đen, rất cứng làm tắc mạch dẫn, gặp hạn cành chè sẽ bị chết khô từ phía trên vết sẹo này Những cành không bị hại vẫn sinh trướng bình thường Neu toàn bộ sổ cành bị bệnh thỉ cây chè sẽ chết Bệnh phát triển trên những vườn chè có độ cao dưới 50Ơ m

Bệnh thường phát sinh vào mùa hè, nhiệt độ cao, không khí khô; mùa đông bệnh giảm Bệnh tấn công trên cả cành non và cành già Khi bị nhiễm bệnh, cành non phát bệnh nhanh (sau 3 ngày có thể phát bệnh), cành già phát bệnh chậm (từ 14-30 ngày)

Trang 23

TĩĩĩmgTuãTẹnhlhári thư

+ Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồi chè, chặt bỏ các cây và cành lá bị

bệnh đem đi tiêu húy để hạn chế nguồn bệnh lây lan Tạo tán, tỉa cành cho chè trướng thành và cây che bóng để nhận được nhiều ánh sáng, vườn cây thông thoáng, cây sinh trưởng tốt, đồng thời góp phần hạn chế sự phát triển cua bệnh

Các biện pháp chăm bón chủ yếu là tưới tiêu nước và bón phân giúp cây sinh trướng tốt, khỏe mạnh, tăng sức đề kháng chống chịu bệnh Chú ý bón đầy đu phân và cân đối NPK, có bổ sung các chất trung vi lượng thích hợp với từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây Khi bệnh phát sinhj íiàv hại, cần sử dụng các loại thuốc có cả tác dụng phòng bệnh và trí bệnhj

ít độc hại với người và môi trường như các thuốc gốc đồng (Mancozel Propinel); Carbendazim, Difenocanazole, Tebuconazole

Đe các thuốc trừ bệnh có hiệu quá cao cần phun đúng lúc khi bệnh mới phát sinh, cỏ thế phun 2-3 lần cách nhau 7-10 ngày, đồng thời kết hợp áp dụng các biện pháp khác

E

5Gõ

I

Trang 24

Q<^angvietfaooíc.cotti vn

Trang 25

cfh tơ r\g 4

THƯ HOẠCH, CHÉ BIẾN

& BẢO Q UẢN

Trang 26

1 THU HOẠCH CHÈ XANH

H ái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo cho cãy chè sinh trưởng khỏe, bển vững.

Tầm quan trọng của kỹ thuật thu hái

Búp chè là sản phẩm cuối cùng của frồng trọt, đồng thời là nguyên liệu khởi đầu cho quá ữình chế biến, do vậy số lượng búp, năng suất búp là mối quan tâm của người thu hái, còn chất lượng nguyên liệu, phẩm cấp búp và tiêu chuẩn búp lại liên quan đến chè thành phẩm sau chế biến

Năng suất búp chè có quan hệ chặt chẽ với số lá trên cây, với đặc điểm của cây chè mỗi một búp sinh ra từ một nách lá, do vậy nhiều lá mới có nhiều búp, năng suất cao, cho nên hái búp và chừa lá có tưcmg quan chặt đến năng suất chè Thu hái búp hàng năm chiếm tới 60% lao động làm chè

vì thế có biện pháp thu hái hợp lý không chi điều tiết tốt sinh trưởng cây chè, tăng năng suất, chất lượng búp mà còn tăng hiệu quả lao động thu hái.ọ

I

hái chè khi vào mim

Để đáp ứng yêu cầu thu hái hợp lý cần tuân thủ đúng hai nguyên tắc Thứ nhất là cân đối hái đi và chừa lại, đảm bảo tăng số lứa, tăng năng suất đồng thời đảm bảo hệ số lá chừa và sinh trưởng của cây (nguyên tác hái

Trang 27

chừa hợp lý) Thứ hai là phải căn cứ đặc điểm của rimg giống, căn cứ tình trạng sinh trưởng của cây ở mỗi nưcmg đồi, căn cứ vào yêu cầu chất lưọTig chè thành phẩm để xác định phẩm cấp hái cho mỗi loại hình năng suất, ^ không hái già quá hoặc non quá (nguyên tắc hái đúng phẩm cấp).

Kỹ thuật thu hái chè

Trong kỹ thuật hái chè cần chú trọng hai khâu chủ yếu là kỹ thuật chừa

và kỹ thuật thu búp

+ Kỹ thuật chừa: Có các hình thức chừa như sau:

Chừa theo tỉuri vu: Vụ xuân (tháng 3-4) chừa 1 lá cá + 2 lá thật, tạo tán

bằng Những đọt vượt cao hon mặt tán thì hái sát lá cá Vụ hè thu (tháng 5

- 10) chừa 1 lá cá + 1 lá thật, tạo tán bằng Những đọt vưọft cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá Vụ đông (tháng 11-12), tháng 11 hái chừa lá cá, tháne

12 hái cá lá cá

Chừa theo ĩình traas sinh trirơns nươns chè: Nưong chè sinh trướng,

tốt chừa ít, sinh trưởng xấu chừa nhiều Nương chè đốn thấp chừa nhiều, hơn chè đốn cao Những vùng có độ ấm cao, nương chè sinh trưởng tốt có kha năng chú động tưới nước có thề áp dụng chừa ngay từ đầu vụ với độ cao cách vết đốn từ 10 - 15 cm tùy theo khung đốn sau đó hái liên tục, không chừa

+ Kỹ thuật thu búp: Căn cứ vào yêu cầu chế biến mà có các hình

thức thu búp như sau:

íỉai imivủn lóm: Trong điều kiện Việt Nam chưa áp dụng nhưng một

sô nước chê biên chè đặc sán đã áp dụng: Hái 1 tôm + 1 lá; hái 1 tôm + 1 -2ị

lá; hái 1 tôm + 2 lá; hái I tôm + 2-3 lá; hái 1 tôm + 3 lá

c

?■

ẻ ộ

I

Trang 28

Loại 1: (chè A); Có từ 0 - 10% lá già, bánh tẻ.

Hái chè san xuát kinh doanh ÍSXKD):

Hái san trật 7 - 1 0 ngày/lứa khi trên mặt tán có 30% búp đu tiêu chuẩn Ó những vùng chè sinh trưởng tốt, chủ động nước tưới có thê áp

Trang 29

dụng hái chừa theo tinh trạng sinh trưởng nương chè, ở một vài nơi đã áp dụng hái chừa theo đốn như sau:

Đốn 60 - 65cm: Hái chừa đầu vụ cách vết đốn 15 cm

Đốn 65 - 7 5 cm: Hái chừa đầu vụ cách vết đốn 10 cm

Đốn >75cm: Hái chừa cách vết đốn 7-IOcm

Cách hái này đàm bảo hệ số lá ngay từ đầu vụ, thao tác hái dễ hơn hái chừa theo vụ mà sinh trưởng chè tốt về nguyên liệu chè non tuy nhiên chúng tôi xin nhấn mạnh là biện pháp này chỉ áp dụng tốt cho những nương chè chủ động tưới nước hoặc những vùng có độ ẩm cao, sinh tmờng chè tốt

ỳếm hải lả già và iá bảnh tẻ

2 CHÉ BIÉN CHÈ XANH

+ Nguyên liệu: Nguyên liệu chế biến chè xanh cần được thu hái vào

những ngày trời không mưa Tiêu chuẩn hái 1 tôm + 2 lá non, không có búp mù xòe Chè xanh trước khi chế biến cần được làm ráo nước vì vậy cần phải rải đều trên sàn nhà, độ dầy 10-15 cm, dùng quạt để làm cho ráo nước Sau khi hái chưa chế biển, có thể bảo quản chè búp tươi nhưng

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w