1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bbook Bí quyết thành công – Kỹ thuật trồng chè xanh hiệu quả: Phần 1

55 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 cuốn sách “Bí quyết thành công – Kỹ thuật trồng chè xanh hiệu quả” cung cấp cho người đọc các kiến thức chung về cây chè xanh, kỹ thuật trồng và chăn sóc cây chè. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG

KĨ THUẬT TRỔNG TRÀ XANH HIỆU QUẢ

Trang 2

TỦ SÁCH DANH c h o n ô n g n g h iệ p

MINH NGỌC (sưu tầm)

CỊUíịết th à n h ũồnụ^

NHÀ XUẤT BẢN ĐÒNG NAI

Trang 3

LàigiâVM ệu^

'rong suốt tiến trình phát triên của lịch sử loài người, trà hiện lĩừu

từ rât sớm và nhanh chóng trở thành loại thức uông có ảnh hưởng, quvên lực lớn nhất trên hành tinh Và thậm chí có thời kỳ trà từng được ví von là

“thức uống khiến cả thế giới phát cuồng

Chè ở Vãn Nam mọc và nảy chồi quanh năm, cây xòe rộng, lá to và có màu xanh thảm Tiến lên phía băc, cây chè nhỏ dẩn đi, và càng lên xa, chè càng khó phát triển Từ những cây cao lớn kích thước chè thu dần lại, biến thành những cây bụi Lá chè cũng càng ngày càng nhỏ và càng cứng hom Mỗi năm, lả non chi mọc được 2-3 lần, có khi chi thấy xuất hiện vào mùa xuân Ngược lại, nếu đi về phía nam, qua vùng rừng núi nước ta và các nước Đông Dưomg sang tới Ân Độ thì càng gần xích đạo với những mùa

hè nóng nực khác hãn ở Ván Nam, cây chè càng biên đôi hình dáng, phát triên mạnh hom và có lá to hơn.

Trang 4

những vườn rau xcmh bie

khoe sắc, thì đất Bảo Lộc ỉợi~

ơ các vùng Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn có trên 41.000 cây chè mọc hoang, thán to như cổ thụ, có cây bằng cây đa, đường kính tản rộng tới 14 mét và đường kính gốc cảv tới 80 cm, có cây hai đen ba người ôm không xuể Một điều khá Iv thú là khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng đặc biệt ở nước

ta đã mang lại cho những cây chè không lồ, còn song tới bây giờ, những nét đặc trưng kỳ lạ Có những cây có búp lá dựng đứng, nhưng cũng có cây búp lại nam ngang hay chúc xuống phía dưới Những cây chè này đã sinh ra bao đời con cháu rồi, nhưng sức vẫn như đang tuổi thanh xuân, mỗi năm van cho thu hoạch 4 vụ, mỗi cây moi vụ thu được từ 20 đên 30 kg chè búp.

Theo tài liệu, cây chè Atsam cỏ năng suất trong vòng 50 năm, nếu thu hái nhiều thì chi được 30-4Jl-nám Xènr~vậy-giong chè Việt Nam chang thua kém các giống chệCŨiác, đặc biệt là chè Tằtí Cương Thải Nguyên Điêu đáng quý nữa l à ^ t i a ^ chè câJhụ ở to mập gấp 2- 3 lần với búp c h è à ^ ị Ị ^ j ^ i Ị ^ ^ ĩ ^ ^ j w U ư ơ m w Ị ^ l ạ i cao, vị đậm, ngon

trong xanh rất đẹp

ứ hữị và thứ ba vẫn còn thom

IC nước ta mà còn phát triển như Đà Lạt nôi tiếng với

fô vàp loài hoa đua hương

~ mơn mởn bởi những búp chè Theo chân người Pháp, chè có mặt ở Bảo Lộc từ những năm 1930, trái qua hơn 80 năm lịch sử, giờ đây chè đã là một trong ba cây công nghiệp quan trọng nhất của vùng đất này.

Đên nơi đây, đâu đâu cũng thấy màu xanh của cây chè Phóng tầm mắt về phía xa xa là những đồi chè xanh đến ngút ngàn, thấp thoáng bóng dáng của những cô gái đang thoăn thoăt hái chè Gần hơn là những đôi chè bao bọc lav những ngôi nhà trên sườn đồi xinh xắn Và khi bước chăn vào bất cứ căn nhà nào ở xứ sở tươi xanh nàv bạn cũng sẽ được mời thưởng thức thử nước chan chát, ngòn ngọt thanh tao, đó là nước chè xanh

- hương vị thanh mát trong lành, đậm đà khó quên.

Trang 5

Cấv chè hiện đang ỉà cáv trồng mang lại hiệu qua kinh tê cao, giúp cai tạo và nâns, cao đời sống cho người dán trong nước và diện tích canh tác loại câv nàv đang không ngừn^ tăng nhanh từng ngàv Từ nhu câu, lợi ích, hiệu quá và những tinh năng kinh tế vượt trội do cáv chè mang lại, công ty sách Khang Việt xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuón sách "Kv Thuật Trồng Trà Xanh Hiệu Qua Hv vọng cuôn sách sẽ đem dẻn cho bạn đọc những thông tin bô ích, hữu dụng và cần thiêt trong cuộc sông và cóng việc kinh doanh của hạn Chúc các bạn thành công!

Trang 8

1 Nguồn gốc của cây chè

Xét về khía cạnh lịch sử hay sinh học, các chuyên gia đều thống nhất cây chè có nguồn gốc từ khu vực châu Á, phát nguyên từ một vùng sinh thái hình quạt giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đưòrng biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95® đến 1 2 0“ Đông, trục Bắc Nam

' ' ' -í c : 'c

4000 năm ơ Trung Hoa Không ai có thê chăc chăn cuộc pha trà đâu tiênịđược diễn ra ơ đâu và vào thời điếm nào Những câu chuyện về nguồn gốc|cua cây chè hầu như có vé thần thoại hơn là sự thật, theo những tài liệu cc cua Truniỉ Quôc, chè là do Thân Nông - một trong Tam Hoàng của văn hóaTrune Hoa tim ra Truyền thuyết kế rằng Thần Nông là người dạy nhân dâĩ^^Ệ;g(

làm ruộng và rât gioi y thuật, đi tới đâu ông cũng tìm kiêm, thử nêm các lo ạ i^ p pcây co trong tự nhiên đê phân biệt đâu là thuốc chữa bệnh, đâu là thuốc độc.^^Ệ*Năm 2737 TCN, Thần Nông lần đầu tiên nếm thứ lá chè bị gió nóng thối

rơi vào ấm nước sôi cùa ông Từ dỏ ông phát hiện ra tác dụng y học cùa trà|

\ à coi nó là loại thuốc rất tốt có thé giải độc cho 70 loại cây co khác

Trang 9

'iĩhân d u r^ Thằn N ô r^ tror^ tranh vẽ của r>T»^ Nhật Bảti

Xuyên suốt các triều đại nhà Tây Chu (1122 TCN - 249 TCN), nhà Tần (221 TCN - 206 TCN), nhà Hán (202 TCN - 220), trà chỉ đuợc dùng cho tầng lớp hoàng gia, quý tộc và luôn được coi là một biểu tượng tôn giáo truyền thống Thời nhà Đường (618 - 907) cùng với thi ca và các loại văn hóa khác, văn hóa trà Trung Hoa đạt tới đỉnh cao rực rỡ Nghệ thuật thưởng trà được coi là một trong những sinh hoạt “quốc hồn, quốc túy” của dân tộc.Vào khoảng thế kỷ thứ VIII, một người là Lục Vũ viết cuốn “Trà Kinh”

và Lư Đồng soạn ra “Trà Ca” nhằm ca ngợi và hưÓTig dẫn cách dùng trà, trong đó những luận bàn phát minh về Trà Lễ có thể coi là chuẩn mực thưởng trà đầu tiên của loài người Tưorng truyền các loại trà quý hiếm cực

kỳ thơm ngon như Trảm Mã Trà, Bạch Mao Hầu Trà, Trùng Điệp Trà mà người thường khó có điều kiện thưởng thức cũng sinh ra từ thời này

Các nhà sư thuộc phái Thiền Tông Nhật Bán sau đó sang Trung Quốc

tu đạo đã mang cây chè về trồng thứ trên quê hương của mình, từ đó cây chè phát triên mạnh ở xứ sớ hoa anh đào Hương vị thanh tao và đặc biệt cua thứ nước được pha chê từ cây chè được người dân Nhật ưa chuộne tới mức dân dần hình thành nên nghệ thuật trà đạo vang danh ca thê uiới

Trang 10

Người Nhật đã đẩy việc uống trà lên tới mức nghệ thuật

Thời nhà Tống (960 - 1279), trà được triều đinh Trung Hoa bán sang Tây Tạng, nơi các thiền sư có nhu cầu sử dụng rất lớn, thông qua con đường “Trà Mã cổ đạo” dài hơn 4.000 km sr

Ê

o o

1

đườnM Trà Mã c ỗ đgo nhìn từ trên khônầ

Thời kỳ này trà quan trọng tới mức triều đình nhà Tống đã dùng nó đế gây sức ép lên tộc người Tây Tạng, buộc họ phải đổi lại cho mình những đoàn ngựa chiến hạng nhất để phục vụ chiến tranh ở đồng bằng Sử cũ chép ràng trung binh có hơn 15 triệu kg trà từ Vân Nam, Trung Quốc được đôi lấy tới 20.000 chiến mã mỗi năm

Trang 11

Những phu gánh trà đem bản cho người Tây Tạng xưa

Thế kỷ XVI đánh dấu bước ngoặt trên con đường vircm ra thế giới của trà, những nhà du hành châu Âu từ Trung Quốc trở về đã đem theo cây chè

và cây hoa nhài để trồng thử ở Bồ Đào Nha Ket quả trà ướp hương nhài lập tức trở thành thức uống yêu thích của tầng lớp quý tộc nơi đây Tới năm

1660, công chúa Catherine de Braganza trở thành hoàng hậu nước Anh khi kết hôn với vua Charles II, từ đó trà ứở thành thức uống phổ biển và những bữa tiệc ừà chiều là một phần không thể thiếu trong đời sống vương giả của hoàng tộc

Tĩềc trà chi dành cho đinh h o à n u tta Anh mà thôỉi

Trang 12

Hai thế kỳ sau theo sự phát triển của đế quốc Anh, trà đã trở thành thức uống quen thuộc ở nhiều thuộc địa cũ cúa nước này, nơi các thương nhân Anh thường đặt chân tới như Mỹ, Án Độ và khiển cả thế giới mê mẩn với hương vị thanh tao tuyệt vời của nó.

Người dần thu hoạch chè ơ bên Bờ Biển Đen

Trà là loại thức uống có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên toàn thế giới, sản lượng tiêu thụ trà mỗi năm bằng tống tiêu thụ của cà phê, chocolate, nước ngọt và rượu cộng lại Hiện nay có khoảng 50 quốc gia trồng chè và ờ mỗi nơi, mỗi đất nước, trà lại được pha chế biến đổi theo những cách thức khác nhau cho phù hợp với văn hóa dân tộc, với khẩu vị vùng miền, tạo nên nét đặc trưng riêng, độc đáo và khác lạ cho nét tinh hoa văn hóa cúa từng quốc gia

> Ọ

0

'• úọÕ

1

Trang 13

2 Tên gọi và sự phát triển của cây chè ở Việt Nam

Trong tiếng Việt có hai từ là “chè” và “trà” Chè là từ thuần Việt, được dùng để chỉ cả cây trồng lẫn sản phẩm tươi và sản phẩm chế biến {cáy chè,

chè tươi, chè đen, uổng chè) Chè còn được mở rộng nghĩa ra để chi nước

uống từ các loại lá cây khác (như chè vối, chè nhân trần) hoặc đế chì món

ăn ngọt nấu bằng các chất bột, hạt, củ với đường mật (như chè đậu đen,

chè thập cẩm) Trà là từ mượn từ tiếng Hán, chỉ dùng để chì sản phẩm đã

qua chế biến mà thôi {uống trà, trà tàu, trà sen).

Sau khi phát hiện ra Đà Lạt vào năm 1893, toàn quyền Pháp Paul Doumer đã cừ nhiều đoàn thám hiểm ra các vùng phụ cận, đặc biệt là theo hướng Nam Đà Lạt về Sài Gòn Đến năm 1899 Emest Culiri đã đặt chân đến B'lao (tên cũ của Bảo Lộc) cùng với phái đoàn nghiên cứu tiềm năng vùng đất này, họ khám phá ra đây là vùng đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm, đặt tên là Đồng Nai Thượng (Haut Dongnai), và đã đầu tư thành lập các đồn điền, chủ yếu là trồng chè, với những công nhân đầu tiên là người Mạ du canh du cư Cây chè đầu tiên xuất hiện ớ Câu Đât,

Đà Lạt vào năm 1927, sau đó lan dần xuống Di Linh và nhanh chóng phát triến mạnh ớ vùng Báo Lộc Ban đầu cây chè chi được trồng trong các đồn điền, sau đó theo sự phát triền của dân cư đã lan rộng toàn vùng rồi trớ nên nôi tiếng

Tóm lại chè là loài cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất ở Việt Nam, có thể chia làm ba giai đoạn phát triến chính như sau:

A Thời kỳ trước năm 1882: Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè

dưới hai loại hình: Chè vườn hộ gia đinh (uống lá chè tươi) tại vùng chè đồng bằng sông Hồng ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An và chè rừng vùng núi (uống chè mạn, lên men một nửa) như vùng Hà Giang, Bắc Hà

B Thòi kỳ 1882-1945: Ngoài hai loại chè frên, xuất hiện hai loại chè công

nghiệp mới là chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết

Trang 14

bị công nghệ hiện đại Người dân Việt Nam sản xuất chè xanh tại hộ gia đình

và tiểu doanh điền Chè đen xuất khấu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu Diện tích chè cả nước là 13.305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm

c Thời kỳ độc lập (1945- nay): Giai đoạn sau giải phóng chủ yếu là

cai thiện cơ cấu vườn chè, nâng cao sản lượng chè và hoàn thiện công nghệ chế biến chè Vào thập niên 90, những loại chè vốn đã có tiếng phát triển vô cùng mạnh mẽ, phong phú về chủng loại Đen hết năm 2002, tổn^ diện tích chè là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh doanh Tổng sổ lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu 72.000 tấn đạt 82 triệui USD Như vậy, từ khu vực phía Đông Nam Châu Á, cây chè đã vươn ra cảị thế giới và phát triển mạnh mẽ tới ngày nay

\'ù n g chè miền núi: Gồm các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Sơn

La Giống chè được trồng chủ yếu ở vùng này là chè Shan (còn gọi là chè Tuyết) có năng suất cao, phẩm chất tốt Sản lưọng chè của vùng này chiếm

25 - 30% tổng sản lượng chè của miền Bắc Trong tưcmg lai sẽ nâng tỷ

Trang 15

\ trọng sản lượng lên 50 - 60% Sản phẩm chủ yếu của vùng chè miền núi là chè lục, chè mạn Hiện nay sản xuất chè xanh đã chiếm ưu thế.

\ Vùng chè Trung Du; Gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Scm Bình,

\Bắc Thái và một phần của Hoàng Liên Sơn (Yên Bái cũ) Là vùng sản xuất

;chè chủ yếu, chiếm 70% sản lượng chè của miền Bắc Giống chè chính 'được trồng trọt là giống Trung Du (Trung Quốc lá to) có nàng suất cao và phẩm chất tốt Sản phẩm chủ yểu là chè đen và chè xanh để tiêu dùng và xuất khẩu

Vùng chè tưoi: Gồm các tĩnh đồng bằng Bắc Bộ và Khu 4 cũ, vùng này nhân dân có tập quán sử dụng lá bánh tẻ để uống chè tươi (không qua quá trình chế biến), chè được trồng chủ yếu ở các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa Những năm gần đây một số vưòn chè tươi đã được chăm sóc, đốn hái

> để chuyển sang chè hái búp Hiện nay vùng chè này đang giữ vị trí quan

Ì trọng trong việc giải quyết nhu cầu thức uống của nhân dân

0

1

t o chè tươi đ ễ nẫu nước chè xanị

ở miền Nam: Chè được trồng chủ yếu ở hai tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai Kon Tum Vùng nam Tây Nguyên (Lâm Đông) là vùng cao nguyên nhiệt 4ới, độ cao 800 - 1.500 m, thích hợp với giống chè Shan Vùng bắc Tây ỊNguyên thấp hơn (500 - 700 m), khí hậu thích hợp với các giống chè Atxam

Trang 16

và Trung Du Diện tích trồng chè của các tỉnh phía Nam hiện có khoảng 8.200 ha (diện tích trồng chè đạt được cao nhất năm 1965: 9.685 ha với tổng sản lượng là 5.905 tấn chè khô).

4 Đặc điểm hình thái học và thực vật học của cây chè

Cây chè có tên khoa học là Camelia Sineusis, khí hàn, vị khổ cam, không độc, là loại cây xanh lá quanh năm, có hoa màu trắng Cây chè phải trồng khoảng 5 năm mới bắt đầu hái và thu hoạch lá

+ Thân và cành: Cây chè chỉ có một thân chính trên đó phân ra các cấp

cành, do hình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè ra làm ba loại: thân gỗ, thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao Thân nhỡ hay thân bán

gỗ là loại hình trung gian, có thân chính tưcmg đối rõ rệt, vị trí phân cành thường cao khoảng 20 - 30 cm ở phía trên cổ rễ Đặc điểm của thân bụi là cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 thấp ngay gần cố rễ Trong sản xuất thưòng gặp loại chè thân bụi Vi sự phân cành của thân bụi khác nhau nên tạo cho cây chè có các dạng tán: tán đứng thang, tán trung gian và tán ngang •

> ẻ

5Õọ

>

• tán chè Đứng thăng, Trung gian Ả Năm ngarị£

Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia làm nhiều đốt, chiều dài của đốt biến đổi nhiều (từ 1 - 10 cm) do giống và do điều kiện sinh trưỏng Đốt chè dài là một trong những biểu hiện giống chè

Trang 17

số lượng càng thích hợp và cân đối ở trên tán, cây chè cho sản lượng cao

\Vượt quá giới hạn đó, sản lượng không tăng và phẩm cấp giảm xuống do búp mù nhiều Trong sản xuất, cần nắm vững đặc điếm sinh trưởng của cành để áp dụng các biện pháp kỹ thuật đốn, hái hợp lý mới có thể tạo ra trên tán chè nhiều búp, đặt cơ sở cho việc tăng sản

+ Mầm chè: Cây chè có hai loại mầm là mầm dinh dưỡng và mầm

sinh thực Mầm dinh dưỡng (gồm mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ và mầm bất định) phát triển thành cành lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa

và quả

[ Mầm đinh' Loại mầm này ở vị trí trên cùng của cành, tiếp tục phát

Ịtriển trên trục chính cùa các cành năm trước, hoạt động sinh trương mạnh Ịvà thường có tác dụng ức chế sinh trường của các mầm ớ phía dưới nó (ưu íthế sinh trướng ngọn) Trong một năm, mầm đinh hình thành búp sớm nhất icùng với thời kỳ bắt đầu sinh trường mùa xuân cùa cây Búp được hình thành từ các mầm đinh là các búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc

>

^ -L '

ẹ búp mù

Mầm nách' Trong điều kiện sinh trướng tự nhiên, phần lón chúng ơ

trạng thái nghi do sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đinh, mầm nách phát triển thành búp mới Tùy theo vị trí của lá ớ trên cành, kha năng phát triển thành búp và chất lượng búp ở các nách lá rất khác nhau Những tnầm ở nách lá phía trên thường hoạt động sinh trưởng mạnh hơn, do đó cho búp có chất lượng tốt hơn các mầm ở nách lá phía dưới Những búp được hình thành từ mầm nách của các lá năm trước gọi là búp đợt 1, có thẻ

là búp bình thường hoặc búp mù

Mầm ngir Là những mầm nằm ớ các bộ phận đã hóa gỗ cua các cành

một năm hoặc già hơn Những mầm này kém phân hóa và phát triên hơn hai loại mầm trên, cho nên sự hình thành búp sau khi đốn đòi hòi một thời

Trang 18

gian dài hơn Kỹ thuật đốn lứng, đốn đau có tác dụng thúc đẩy sự phát triên cua mầm ngu, tạo nên những cành chè mới, sức sinh trướng mạnh Búp được hinh thành từ mầm ngủ có thể là búp bình thuờng hoặc búp mù.

\íủm bất định' Vị trí cùa loại mầm này không cố định trên thân chò

thường ơ sát cồ rễ Nó chi phát triến thành cành lá mới khi cây chè được đốn tre lại Trong trường họp ấy cành chè tựa như mọc ớ dưới đất lên Búp được hình thành từ các mầm bất định cũng có hai loại: búp bình thường và búp mù

Mầm sinh thực Mầm sinh thực nằm ờ nách lá, binh thường mỗi nách lá

có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trưòng hợp số mầm sinh thực nhiều hơn và khi đó ớ nách lá có một chùm hoa Các mầm sinh thực cùng với mầm dinh dưỡng phát sinh trên cùng một trục, vi vậy quá trình sinh trưỏng dinh dưỡng và sinh trương sinh thực thường có những mâu thuẫn nhất định Khi mầm sinh thực phát triển nhiều ở trên cành chè, thì quá trình sinh trưởng của các mầm dinh dưỡng yểu đi, đo sự tiêu hao các chất dinh dưỡng cho việc hình thành nụ hoa và quả Trong sản xuất chè búp cần áp dụng các biện pháp

kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực

hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè Trên một cành chè nếu đẩ sinh trướng tự nhiên, một năm có 4 - 5 đợt sinh trướng, nếu hái búp liên tục thì

có 6 - 7 đợt và trong điều kiện thâm canh có thể đạt 8 - 9 đợt sinh trường Thời gian hình thành một đợt sinh trưỏng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống, tuối cây chè, điều kiện thời tiết khí hậu và các biện pháp kỹ thuật

s

>

é

ọ g

í

Trang 19

+ Lá chè:

Lá chè mọc cách nhau trên cành, mỗi đốt có một lá Lá có nhiều hình dạng khác nhau tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh Lá chè có gân rất rõ, những gân chính của lá chè thường không phát triển ra đến tận rìa

lá Rìa lá chè thường có răng cưa, hình dạng răng cưa trên lá chè khác nhau tùy theo giống Trên một cành chè thường có các loại lá sau: lá vẩy ốc, lá

cá, lá thật và tôm chè (búp chè) Lá chè mọc trên cành theo các thế khác nhau, tức là góc độ giữa lá và cành chè to nhỏ khác nhau Trong sản xuất thường gặp 4 loại thế lá như sau: thế lá úp, nghiêng, ngang và rũ Thế lá ngang và rũ là đặc trưng của giống chè năng suất cao Tuổi thọ trung bình của lá chè là một năm

rễ mới cân bằng Rễ bên và rễ phụ trong thời kỳ này rất phát triển, tốc độ

Trang 20

lớn lên và phàn cấp của chủng cũng rất nhanh Rễ trụ của chè thường ăn sâu xuống đất hơn 1 mét, ở những nơi đất xốp, thoát nước nó có thể ăn sâu tới 2 - 3 mét Rễ hấp thu được phân bố tập trung ở lớp đất từ 10 - 40 cm thời kỳ cày chè lớn, rễ tập trung ở gữa hai hàng chè, tán rễ so với tán câý lớn hơn 2 - 2,5 lần Sự phân bố của rễ chè trong đất phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện đất đai và chế độ canh tác Lượng dinh dưỡng trong đất có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rề, nhất là lượng đạm R^ chè kỵ vôi, do đó yêu cầu đất có phán ứng chua Chè yêu cầu đất có phảni ứng chua là do cây chè yêu cầu một số nguyên tố hiếm và nguyên tố v^ lượng mà phần lớn những nguyên tố này bị kết tủa trong môi trường kiềmj

Vì vậy, chè trồng ở những nơi đất có phản ứng kiềm dễ bị hại và không sinh trường được

5 Đặc điểm sinh trưởng và sinh hóa của cây chè

Sau khi gieo hạt khoảng hai năm, cây chè cho hoa quả lần thứ nhất Từ

3 - 5 năm cây chè được hoàn chỉnh về đặc tính phát dục Trên mỗi nách lá chè thường có một mầm dinh dưỡng ớ giữa và hai hoặc nhiều mầm sinh thực ớ hai bên Hoa chè được hình thành từ các mầm sinh thực Hoa chè lưỡng tính, đài hoa có 5 - 7 cánh, trong một hoa có rất nhiều nhị đực, từ

200 - 400 Hạt phấn hoa chè sống khá lâu, sau 5 ngày kể từ khi hoa nở rộ, hạt phấn vẫn còn khả năng nảy mầm tới 70% Khá năng thụ tinh tốt nhất cua hạt phấn là sau khi hoa nở hai ngày Sau khi thụ tinh quả chè được hình thành, quá chè thuộc loại quá nang, mỗi quá thường có 2 - 3 hạt Hình dạng bên ngoài cúa quả phụ thuộc vào số lượng hạt trong quả, quả có 3 hạt thi có hình 3 góc, quả có 4 hạt thi có hình 4 góc Hạt chè không có nội nhũ Phần lớn các chất dinh dưỡng dự trữ cần thiết cho hạt nảy mầm đều dự trữ trong lá mầm Sau khi hạt nảy mầm, lá mầm của hạt chè có khá năng hình thành diệp lục tố và tiến hành quang hợp

c

;>

é

5ọÕ

1

Trang 21

\ _ .

\ Thành phần sinh hóa của chè phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện

• \ đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch Những thành phần sinh

^ Ọ hóa chủ yếu trong búp chè gồm có:

, \ + Nước: Là chất quan trọng không thể thiếu được đê duy tri sự sống

í ícủa cây Hàm lượng nước trong búp chè thay đôi tùy theo giống, tuôi cây,

V ịđất đai, kỹ thuật canh tác, thời gian hái và tiêu chuẩn hái Trong búp chèhàm lưọng nước thường có từ 75 - 82% Đê tránh khói sự hao hụt nhữngyật chất trong búp chè qua quá trình bảo quản và vận chuyên, phải cố gắngItránh sự giảm bớt nước trong búp chè sau khi hái

+ Tanin: Là một ữong những thành phần chú yếu quyết định đến phâm

chất chè Tanin còn gọi chung là hợp chất fenol, trong đó 90% là các dạne catechin Tỷ lệ các chất ưong thành phần hỗn họp của tanin chè không giống

> nhau và tùy theo từng giống chè mà thay đổi.

o + Ancaloit: Trong chè có nhiều loại ancaloit nhưng nhiều nhất là

^ catein Hàm lượng cafein ờ trong chè có từ 3 - 5% thường nhiều hơn cafein

^ ớ trong lá cà phê từ 2 - 3 lần Caíein chỉ hòa tan trong nước với tỷ lệ 1/46

có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích cơ năng hoạtỢ3

động của tim, có tác dụng lợi tiểu Cafein có khả năng kết hợp với tanin đê

^ tạo thành hợp chất tanat cafein có hương vị dễ chịu

+ Protein và Axít Amin: Protein là họp chất hữu cơ phức tạp chứa N

phân bố không đều ở các phần của búp chè và thay đối tùy theo giống, thời

vụ, điều kiện canh tác và các yếu tố khác Protein kết họp với một phần tanin làm cho vị chát và đang giám đi, vi thế trong một chìmg mực nào đó, protein có lợi cho phẩm chất chè xanh Người ta đã tim thấy trong chè có

" 17 axít amin, các axít amin này kết họp với đường và tanin tạo thànhandehit có mùi thơm của chè đen và làm cho chè xanh có dư vị tốt

+ Gluxít và Pectìn: Trong lá chè chứa rất ít gluxít hòa tan, trong khi

đó các gluxít không hòa tan lại chiếm tỷ lệ lớn Xenlulo và hemixenlulo cũng tăng lên theo tuối của lá, vì vậy nguyên liệu càng già chất lượng càng

Trang 22

kém Hàm lượng đường hòa tan ở trong chè tuy ít nhưng rất quan trọng đối với hưoTig vị chè Đường tác dụng với protein hoặc axít amin tạo nên các chất thơm Pectin tham gia vào việc tạo thành hương vị chè, làm cho chè

có mùi táo chín trong quá trình làm héo, ở mức độ vừa phải, pectin làm cho chè dễ xoăn lại khi chế biến nhưng nó có ảnh hưỏfng xấu đến quá trình báo quản chè thành phẩm vì pectin dễ hút ẩm

+ Diệp lục và các sắc tố khác: Trong lá chè có chứa diệp lục tố,

carotin và xantoTin Các sắc tố này biến động theo giống, theo mùa và các biện pháp kỹ thuật canh tác Trong chè thành phẩm diệp lục tố có ảnh hưởng xấu tới phẩm chất của chè bởi vì làm cho sản phẩm có màu xanh, mùi hăng, vị ngái

cÉp

0 Õ

1

+ Dầu thơm : Dầu thơm trong lá chè rất ít, hàm lượng dầu thơm trong

lá được tăng dần ở những địa hình cao, tuổi lá quá non chứa ít hương thơm Dầu thơm ánh hướng trực tiếp đến hương vị của chè do hương thơm

tự nhiên và do quá trinh chế biến tạo thành như sự lên men, ôxi hóa, tác dụng của độ nhiệt cao.Dầu thơm có tác dụng điều tiết sinh lý cúa cây để thích hợp với điều kiện bên ngoài (khi độ nhiệt quá cao hay quá thấp) và ngăn cản những bức xạ có bước sóng ngắn, tác hại đến cây chè Đối với cơ

Trang 23

+ Vitamin: Các loại vitamin có trong chè rất nhiều, chính vì vậy giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng của chè rất cao Đáng chú ý nhất là hàm lượng vitamin c ở trong chè, nhiều hơn trong cam chanh từ 3

đến 4 lần Ọuá trình chế biến chè đen làm cho vitamin c giảm đi nhiều vì

nó bị ôxi hóa, còn trong chè xanh thì nó giảm đi không đáng kể

+ C hất tro: Hàm lượng tro trong chè tươi từ 4-5% và trong chè khô

từ 5-6% Trong chè, tro chia thành hai nhóm: hòa tan trong nước và không hòa tan trong nước Chè thành phấm loại tốt, hàm lượng tro ít hơn

so với loại chè xấu nhưng tỷ lệ chất tro hòa tan lại nhiều hơn

6 Điều kiện sinh thái

Cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn do tác động của các điều kiện sinh thái trong quá trình sống của nó Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu rừng

á nhiệt đới, tuy vậy cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng răi, từ

30 vĩ tuyến nam đến 45 vĩ tuyến bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khác xa với nơi nguyên sản Trong những điều kiện như vậy, muốn cho cây chè sinh trưởng bình thường và có năng suất tốt phải có trinh độ khoa học cao trong canh tác Vì vậy nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinh thái cũng như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là một trong những cơ sở khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng trọt thích hợp

+ Đất đai và địa hình:

So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thi đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4.5 - 6.0 Đất trồng phải có độ

Trang 24

sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triên bình thường.

Cần chú ý bón phân hữu cơ đầy đủ để bổ sung dinh dưỡng cho cây chè j

Đât trồng chè của ta ở các vùng trung du phân lớn là đât íeralit vàng đo| được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, những đất này thường nghèoị chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ, vì thế vấn đề bón phân hữu coỊ

đê bồ sung dinh dưõTig cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Tóm lại đất thích hợp để trồng chè phải có tầng dày canh tác

50 cm trở lên, kết cấu tơi xốp, mạch nước ngầm ở sâu dưới mặt đất từ 100

cm trở lên, độ PH từ 4.0 - 6.0, tỷ lệ mùn tổng số 2.0% trở lên và có độ dốcị bình quân đồi không quá 25”

+ Độ ẩm và lượng mưa:

Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp lá non, nên cần nhiều, nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưỏng của cây chè là vô cùng quan trọng Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một nămị đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các thángj Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưỏrng phải lớnị hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưỏTig không tốt.Ị

r

>

É

ọ o

Vẽ

Trang 25

Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%.

Lưọng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trường và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưỏng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp Tổng lượng mưa bình quân hàng năm ở các vùng trồng chè của nước ta tương đối thỏa mãn cho nhu cầu về nước của cây chè (Phú Thọ: 1.747 mm, Hà Giang: 2.156 mm, Plâyku: 2.072 mm, Buôn Mê Thuột: 1.954 mm, Bảo Lộc; 2.084 mm) Nhưng ở các vùng chè lượng mưa trong năm lại thường tập trung từ tháng

Nước cỏ ảnh hưởng lớn đển sự sinh trưởng của cây chè

Thời gian này hạn kết hợp với độ nhiệt không khí thấp là những điều kiện bất thuận cho sự sinh trưởng của cây, vì vậy bên cạnh biện pháp chống xói mòn cho chè vào mùa mưa còn cần chú ý đến việc chống hạn giữ ẩm cho chè vào mùa khô

Thiếu nước, độ ẩm không khí và độ ẩm của đất không đủ thi sức sinh trưởng của búp sẽ yếu, lá trở nên dày và cứng, hình thành nhiều búp mù, phẩm chất kém Khi cung cấp đủ nước, cây chè sinh trưởng tốt, lá to mềm, búp non và phẩm chất có xu hướng tăng lên Phấm chất búp chè được tưới

Trang 26

nước đều tăng lên rõ rệt so với không tưới Tưới nước là một biện pháp tăng sản lượng và phẩm chất rất quan trọng đối với chè Ngoài biện pháp tưới nước, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tổng hợp khác như cày đất, làm đất, xới đào, làm cỏ, mật độ và phưong thức trồng hợp lý, phủ đất, tủ gốc, chọn giống chịu hạn để giải quyết tốt nhu cầu nước trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây chè nhằm đạt sản lượng cao, phẩm chất tốt.

+ Nhiệt độ:

Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển binh thường là 12.5°c và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23®c Giới hạn

độ nhiệt thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưỏng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt

ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đối với sinh trưỏfng của cây trong thời kỳ này thi độ nhiệt không khí trở thành nhân tố sinh thái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000“c Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đồi tùy theo giống, có thể từ -5°c đến -25'’c hoặc thấp hon Độ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin Độ nhiệt cao quá 35"c thì quá trình tích lũy tanin bị ức chế và nếu độ nhiệt trên 35°c kéo dài liên tục, chè sẽ bị cháy lá Ngược lại khi độ nhiệt giảm thấp sẽ dẫn đến một loạt biến đồi về cơ năng sinh lý thành phần hóa học của búp chè, ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cây và phẩm chất búp Độ nhiệt thấp và khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù Độ nhiệt là một trong những nhân tố chủ yếu chi phối sự sinh trưởng của búp và quyết định thời gian thu hoạch búp trong chu kỳ một năm Từ 16 độ vĩ nam đến 19 độ vĩ bắc, không có hai mùa nóng lạnh rõ rệt, cây chè sinh trưởng quanh năm do đó búp cũng được thu hoạch quanh năm Từ 20 độ vĩ bắc đến 45 độ vĩ bắc, độ nhiệt mùa đông xuống thấp, sinh trưởng và thu hoạch chè đã có mùa rõ rệt

c

ẻ ọ

0 ọ

1

Trang 27

Trong những vùng này nơi nào độ nhiệt bình quân mùa đông càng thấp càng kéo dài thì thời gian sinh trưởng và thu hoạch búp chè ở đó càng ngăn.

Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè lá nhỏ Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá và thành phần hóa học của chúng

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w