1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên ở việt nam hiện nay nhìn từ góc độ triết học

15 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên ở Việt Nam hiện nay Nhìn từ góc độ triết học
Tác giả Nguyễn Huy Bảo
Người hướng dẫn T.S Trần Thị Thu Hường
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Triết học Mác -Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 293,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Em chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu và hiểu rõ hơn về những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật biện chứng triết học Mác – Lênin hay cụ thể hơn nữa là về mối quan hệ

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Triết học Mác -Lênin

ĐỀ TÀI

Vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên ở Việt Nam hiện nay

Nhìn từ góc độ triết học

Hà nội, ngày 20 tháng 01 năm 2022

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Lớp

Mã sinh viên

: T.S Trần Thị Thu Hường : Nguyễn Huy Bảo

: K24CLCTCA : 24A4012706

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU……… 2

NỘI DUNG……… 3

PHẦN I CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ 1 Nội dung phương pháp luận……… 3

1.1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả……… 3

1.2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả……… 3

1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả……… 4

2 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:……… 5

PHẦN II “VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” VÀ BÀI HỌC BẢN THÂN 1 Liên hệ thực tế 6

1.1 Thất nghiệp là gì? 6

1.2.Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay……… 7

1.3 Nguyên nhân – Hậu quả – Giải pháp……… 8

2 Bài học cho sinh viên nói chung và bản thân nói riêng 12

KẾT LUẬN……… 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ sinh viên, cử nhân, kỹ sư qua đào tạo đại học thậm chí là cao học không có việc làm trở thành một vấn đề đáng báo động

Cơ chế thị trường cũng mang đến thách thức về vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay Đây là vấn đề mà hầu như ít có trong nền kinh tế bao cấp Câu hỏi cần đặt ra là đâu là nguyên nhân? Hậu quả mà nó để lại là gì? Chúng ta phải làm gì

để khắc phục tình trạng trên? Thật vậy, thất nghiệp là một bài toán nan giải cần

sự quan tâm đặc biệt khi không chỉ tại Việt Nam mà chưa một quốc gia nào có thể nói “không” với thất nghiệp Em chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu

và hiểu rõ hơn về những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật biện chứng triết học Mác – Lênin hay cụ thể hơn nữa là về mối quan hệ của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả Từ nền tảng lý luận có sẵn đã giúp em phần nào hình dung cũng như định hướng được phương thức học tập, rèn luyện phù hợp với bản thân, với những yêu cầu của nhà tuyển dụng và xu hướng phát triển của xã hội trong tương lai

Mục đích của bài tiểu luận là làm rõ nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong triết học Mác Lênin Từ đó, trả lời cho câu hỏi nguyên do và hậu - quả của vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên Việt Nam hiện nay, cũng như đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề theo chiều hướng tích cực hơn Để đạt mục đích đó bài tiểu luận cần giải quyết những nội dung sau: phân tích và làm

rõ nội dung, quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả, liên hệ thực tiễn Đối tượng nghiên cứu là nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả Phạm vi nghiên cứu là một sinh viên đại học thiếu việc làm trong giai đoạn hiện nay dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin Ý nghĩa lý luận nhằm mục đích giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những nội dung cơ bản và mối quan hệ biện chứng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả Ý nghĩa thực tiễn là tạo tiền đề

lý luận để phân tích và đánh giá một cách cụ thể vấn đề một bộ phận sinh viên Việt Nam bị thất nghiệp

Trang 4

NỘI DUNG

PHẦN I NỘI DUNG LÝ LUẬN CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN

VÀ KẾT QUẢ

1 Nội dung phương pháp luận

1.1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân và kết quả là một trong năm cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin Đây là một trong những nội dung cơ -bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù

Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt trong

một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định

Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên

1.2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả

Phép biện chứng duy vật của triết học Marx Lenin khẳng định mối liên hệ -nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu

Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật,

không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những

Trang 5

biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình

Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực

Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả

do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu

1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ nhân quả không cứng nhắc, tĩnh lại Trong quá trình vận động, phát triển, nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kết quả Cái mà ở thời điểm hoặc trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì

ở thời điểm hoặc trong mối quan hệ khác là kết quả; còn kết quả lại trở thành nguyên nhân, nhưng đã ở trong các mối quan hệ khác, thành nguyên nhân loại khác: nguyên nhân sinh ra kết quả, kết quả cũng tác động lại nguyên nhân – chúng cũng nằm trong sự tương tác biện chứng Trong khi là hiện tượng tích cực, nguyên nhân tác động lên hiện tượng khác thụ động và gây ra trong nó những biến đổi – tức là kết quả, những kết quả cũng thể hiện sự phản tác động và từ hiện tượng thụ động chuyển thành tích cực Kết quả không thể là nguyên nhân của chính nguyên nhân gây ra nó Nhưng nếu bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó thì cũng không có nghĩa là mỗi sự vật, hiện tượng chỉ do một nguyên nhân sinh ra Trên thực tế, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, do vậy sự

Trang 6

phân loại nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài… đối với một kết quả vừa mang ý nghĩa

lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

2 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa nguyên

nhân và kết quả:

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, Triết học Mác-Lênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:

Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không

có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của khoa học là phải nghiên cứu tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong

tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả, không được lấy ý muốn chủ quan hay thế cho quan hệ nhân quả Do đó muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của con người, thần linh, Thượng đế, tách rời thế giới hiện thực

Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện Muốn tạo ra kết quả tốt phải tạo điều kiện cho những nguyên nhân tích cực, đồng thời đấu tranh loại bỏ những nguyên nhân tiêu cực, không phù hợp tác động đến quá trình ra đời của kết quả

Từ một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong nhân thức và thực tiễn cần phải có cái nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể - trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân quả, tập trung phân loại các

Trang 7

nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự ảnh hưởng của nguyên nhân có tác động tiêu cực Lý luận và thực tế cho thấy, kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân nên cần làm tốt công tác tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và phát huy những thành quả đã đạt được được

PHẦN II “VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH

VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” VÀ BÀI HỌC BẢN THÂN

1 Liên hệ thực tế

1.1 Thất nghiệp là gì?

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một

số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương phù hợp” Ở Việt Nam, thất nghiệp là một vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Mặc dù không có văn bản pháp lý nào về thất nghiệp và các vấn đề khác

có liên quan nhưng vẫn có những nghiên cứu nhất định Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc

và sẵn sàng làm việc Do đó, ta có thể hiểu: “Thất nghiệp là những người trong

độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”

Trang 8

1.2 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung phải hứng chịu nhiều tác động của đại dịch Covid-19 Covid-19 xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020, nó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong hầu hết tất cả các ngành nghề tại tất cả các tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc Cụ thể như vào quý II năm 2020, khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020 khiến nhiều người bị mất việc làm, người phải nghỉ giãn việc/nghỉ việc luân phiên, bị giảm giờ làm hay giảm thu nhập… Tình trạng người lao động đổ xô về quê gây thiếu lao động ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, đồng thời cũng tạo sức ép cho các vùng nông thôn trong việc giải quyết việc làm cho các lao động này

Tổng cục Thống kê nhận định do tình hình dịch bệnh kéo dài và phức tạp hơn, trong năm 2021 có hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ Xét theo khu vực, số lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,3 triệu người, giảm 254.200 người; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người, giảm 800.800 người; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 14,2 triệu người, tăng 37.300 người so với năm 2020 Số lao động thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2021 được Tổng cục Thống kê ghi nhận hơn 1,4 triệu người, tăng 370.800 người so với năm trước Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 3,1%, tăng 0,71% so với cùng kỳ năm trước

Số lao động thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 là hơn 1,4 triệu người, tăng 203.700 người so với năm 2020 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,22%, tăng 0,54% so với năm trước Tổng cục Thống kê cho hay dù Chính phủ đã ban hành chính sách chủ động thích ứng linh hoạt trong phòng chống COVID 19, vừa phục hồi, vừa phát triển kinh tế xã hội, tính chung cả - -

Trang 9

năm 2021, thị trường lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ thất nghiệp năm nay cao hơn năm trước, riêng khu vực thành thị vượt mốc 4%

Trên đây chỉ mới là số liệu về tình trạng thiếu việc làm nói chung ở nước ta, còn đối sinh viên thì theo thống kê, hàng năm có hơn 400.000 cử nhân ra trường Tuy nhiên, con số thất nghiệp là gần 200.000 lao động Với con số đáng báo động này cần phải có giải pháp thay đổi

1.3 Nguyên nhân – Hậu quả – Giải pháp

1.3.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của bộ phận sinh

viên ở Việt Nam hiện nay

Lý do đầu tiên phải kể đến đó là chất lượng đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội Hiện nay, trên cả nước có khoảng 2,2 triệu sinh viên trong tổng dân số 95 triệu dân, con số này cao hơn cả các quốc gia phát triển Điều đó đã phản ánh thực trạng đào tạo ồ ạt nhưng không tối ưu hóa chất lượng đào tạo ở Việt Nam Mặc dù chính phủ đã và đang đầu tư rất nhiều cho các trường đại học, nhưng kết quả thu được vẫn không đạt yêu cầu khi một tỷ lệ lớn sinh viên tốt nghiệp thất nghiệp Hơn nữa, cách tiếp cận xã hội hóa giáo dục cho phép thành lập nhiều trường đại học tư thục, thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trường công và trường tư tư Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận một vấn đề là các cơ sở tư nhân

vì lợi nhuận chỉ cấp bằng chứ không quan tâm đến chất lượng đầu ra của sinh viên Cả hai điều này đã dẫn đến một số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp thiếu các

kỹ năng cần thiết để tìm việc huống chi là làm việc hiệu quả trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Hơn nữa, thành quả của các cấp học dưới đẩy lên cấp trên

đã khiến các nhà giáo dục, bất chấp những hậu quả mà người học và xã hội phải gánh chịu, đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng kém, dẫn đến hậu quả đầu ra của nguồn nhân lực nước ta kém và hệ thống giáo dục của Việt Nam ngày càng tụt hậu

Trang 10

Lý do thứ hai là tình trạng thiếu sự định hướng nghề nghiệp phù hợp và tâm

lý chạy theo xu trào đám đông Ở Việt Nam, việc lựa chọn nghề nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ quyết định của cha mẹ Với tư duy không ngừng muốn bảo vệ, bao bọc con cái, các bậc cha mẹ thường hướng đến những ngành nghề “an toàn” mang lại sự công nhận như kỹ sư, y sĩ,… và con cái cũng thụ động, cha mẹ chọn ngành học Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ cá nhân trẻ cũng chọn những trường “hot”, ngành nghề "hot" để theo kịp bạn bè đồng trang lứa hơn là một nơi thực sự phù hợp với thực lực của bản thân Điều này như lời cảnh tỉnh nhãn tiền cho thực trạng định hướng nghề nghiệp hiện nay, học sinh thực tế không có định hướng nghề nghiệp cho bản thân, không biết mình thích gì, không biết mình có thể làm gì trong tương lai Điểm mạnh và điểm yếu của bạn là gì? Sinh viên sẽ cảm thấy u uất, thành tích học tập kém, thiếu niềm yêu thích và hứng khởi, và những kết quả tiêu cực khác nếu họ không biết mình sẽ đi đâu vì tư khi bắt đầu

họ đã không có định hướng

Một lý do khác là chính từ các bạn sinh viên vấn đề thiếu kỹ năng thực tế -

xử lý công việc Thực tế cho thấy "các kỹ năng của sinh viên trẻ mới tốt nghiệp chưa được hình thành, nếu không muốn nói là không có." Sinh viên tốt nghiệp ngày nay có kiến thức nhưng thiếu kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng cần thiết cho việc làm Một số bạn trẻ còn cho rằng nhà tuyển dụng chỉ cần tuyển những người có các loại bằng cấp đánh giá chuyên môn, khả năng văn phòng, ngoại ngữ hay các chứng chỉ quốc tế… Chính vì vậy mà các bạn đổ xô nhau đi lấy bằng này nọ Nhưng các nhà tuyển dụng và doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty quốc tế luôn

ưu tiên khả năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng hợp tác, năng lực tạo mục tiêu, giải quyết nhanh các thách thức trong các tình huống không lường trước được

Một trong những nguyên nhân dẫn đến làn sóng “cử nhân thất nghiệp” là vấn đề tiếng Anh Chúng ta đều biết rằng tiếng Anh được coi như giấy thông hành trong mọi ngành nghề trong thời kỳ hiện đại Thực tế, hầu hết sinh viên ở các

Ngày đăng: 06/12/2022, 06:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w