BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1 HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN (FC 001 03) ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC Giảng viên hướng dẫn TS Trần Thị Thu Hường Sinh viên thực hiện Phan Hà Vi Hà Nội, 2022 2 MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 Phần 1 Lý luận 2 1 1 Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 2 1 2 Ý nghĩa phương pháp luận 3 Phần 2 Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 4 2 1 Định n.
Trang 11
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN ( FC.001.03)
ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH VIÊN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Thị Thu Hường Sinh viên thực hiện : Phan Hà Vi
Hà Nội, 2022
Trang 22
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
Phần 1 Lý luận 2
1.1 Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 2
1.2 Ý nghĩa phương pháp luận 3
Phần 2 Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 4
2.1 Định nghĩa và thực trạng của thất nghiệp 4
2.2 Nguyên nhân và kết quả 6
2.3 Một số biện pháp và bài học kinh nghiệm rút ra 8
C KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 31
A MỞ ĐẦU
Để hòa mình vào cuộc chạy đua không hồi kết của khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại trên toàn thế giới, Việt Nam đã và đang có những chuyển biến quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kể từ những cải cách, đổi mới năm 1986, cho đến thời kỳ “khủng hoảng toàn cầu” do đại dịch COVID-19 gây ra, nước ta vẫn luôn được xem là “một trong những quốc gia năng động bậc nhất Đông Á Thái Bình Dương”1 Những thành tựu mà
ta đã đạt được về nhiều mặt như GDP, y tế, giáo dục, là không thể phủ nhận Tuy nhiên, đi kèm với sự hội nhập ấy là những hậu quả và liên lụy không hề nhỏ trong đời sống xã hội, vật chất, tinh thần của nhân dân Việt Nam Điển hình có thể kể đến như: gia tăng khoảng cách giàu nghèo; sự phát triển của kỹ thuật công nghệ dẫn đến sự thay thế của một bộ phận lao động chân tay; tỉ lệ lạm phát tăng cao; tệ nạn xã hội vẫn luôn là một mối lo ngại Trong số ấy, nhóm tuổi bị tác động mạnh mẽ nhất, ảnh hưởng đến tương lai của quốc gia nhất chính là thế
hệ trẻ - những người sẽ góp phần rất lớn trong việc định hướng và dẫn dắt đất nước đi lên
Bài tiểu luận này sẽ chỉ tập trung vào tình trạng thất nghiệp của một bộ phận sinh viên ở Việt Nam hiện nay – xét từ góc nhìn của triết học Bởi đây là một vấn đề cấp bách và mang tính thời sự Nó vẫn luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ cả phía sinh viên lẫn các cơ quan của Đảng và nhà nước Nó đóng vai trò thiết yếu trong việc xoay chuyển cục diện quốc gia và hơn nữa, tỉ lệ thất nghiệp cũng cho thấy mức độ phát triển và thước đo tăng trưởng kinh tế của một đất nước Đề tài này cũng sẽ hướng đến giải quyết những vấn đề về cơ sở lý luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả; cũng như có ý nghĩa thiết thực về mặt thực tiễn: đánh một hồi chuông cảnh báo về thực trạng thất nghiệp đáng lo ngại của một bộ phận sinh viên hiện nay, đưa ra cái nhìn khách quan về nguyên nhân dẫn đến thực tế ấy, hậu quả mà nó đã để lại, cũng như đề xuất những biện pháp khả thi Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho sinh viên nói chung và liên
hệ bản thân nói riêng
1 Theo The World Bank
Trang 42
B NỘI DUNG Phần 1 Lý luận
1.1 Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nhận thức về sự tác động, tương tác giữa các mặt, các yếu tố hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau như là nguyên nhân cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của các mặt, các yếu tố, các sự vật, hiện tượng mới về chất, chính là khâu quyết định dẫn đến việc phát hiện ra tính nhân quả như là yếu tố quan trọng của mối liên hệ phổ biến
Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa
các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
gây nên những biến đổi nhất định Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ
những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên
Nhận thức về nguyên nhân, kết quả như trên vừa giúp khắc phục được hạn chế coi nguyên nhân của mỗi sự vật, hiện tượng, trong những điều kiện nhất định, nằm bên ngoài sự vật, hiện tượng đó; vừa khắc phục được thiếu sót coi nguyên nhân cuối cùng của sự vận động, chuyển hóa của toàn bộ thế giới vật chất nằm ngoài nó, trong lực lượng phi vật chất nào đó
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, phổ biến và tất yếu Phê phán quan niệm sai lầm của triết học duy tâm về tính chất của mối liên hệ nhân quả,
Ph Ăngghen nhấn mạnh: “hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính
nhân quả” Trên thực tế, con người không chỉ quan sát thấy hiện tượng này sau hiện tượng kia, mà còn có thể tự mình gây ra hiện tượng, quá trình nhất định trong thực nghiệm khoa học giống như hiện tượng, quá trình ấy xảy ra trong tự nhiên Từ quan niệm cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và
tư duy đều được gây nên bởi những nguyên nhân nhất định, trong đó có cả những nguyên nhân chưa được nhận thức phép biện chứng duy vật rút ra nguyên tắc quyết định luận hết sức quan trọng của nhận thức khoa học Từ quan niệm kết quả do nguyên nhân sinh ra còn phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, phép biện chứng duy vật cho rằng, một nguyên nhân nhất định
Trang 53
trong hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra một kết quả nhất định; bởi vậy, nếu các nguyên nhân càng ít khác nhau bao nhiêu, thì các kết quả do chúng gây ra cũng ít khác nhau bấy nhiêu
Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ nhân quả không cứng nhắc, tĩnh lại Trong quá trình vận động, phát triển, nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kết quả Cái mà ở thời điểm hoặc trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì ở thời điểm hoặc trong mối quan hệ khác lại là kết quả; còn kết quả lại trở thành nguyên nhân, nhưng đã ở trong các quan hệ khác, thành nguyên nhân loại khác: nguyên nhân sinh ra kết quả, kết quả cũng tác động lại nguyên nhân – chúng cũng nằm trong sự tương tác biện chứng Trong khi là hiện tượng tích cực, nguyên nhân tác động lên hiện tượng khác thụ động và gây ra trong nó những biến đổi – tức là kết quả, nhưng kết quả cũng thể hiện sự phản tác động
và từ hiện tượng thụ động chuyển thành tích cực Kết quả không thể là nguyên nhân của chính nguyên nhân gây ra nó Nhưng nếu bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó thì cũng không có nghĩa là mỗi sự vật, hiện tượng chỉ do một nguyên nhân sinh ra Trên thực tế, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, do vậy sự phân loại nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, đối với một kết quả vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
1.2 Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, nếu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân và do
nguyên nhân quyết định, thì để nhận thức được sự vật, hiện tượng ấy nhất thiết phải tìm ra nguyên nhân xuất hiện; muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó không cần thiết, thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó
Thứ hai, xét về mặt thời gian, nguyên nhân có trước kết quả nên khi tìm
nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng cần tìm ở các sự vật, hiện tượng mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng xuất hiện Trong thời gian hoặc trong mối quan hệ nào đó, vì nguyên nhân và kết quả có thể đổi chỗ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau nên để nhận thức được tác dụng của một sự vật, hiện tượng
và để xác định phương hướng đúng cho hoạt động thực tiễn cần nghiên cứu sự
Trang 64
vật, hiện tượng đó trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là kết quả, cũng như trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân, sản sinh ra những kết quả nhất định
Thứ ba, một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và
quyết định, nên khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó không vội kết luận về nguyên nhân nào đã sinh ra nó; khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn phương pháp thích hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chứ không nên rập khuôn theo phương pháp cũ Trong số các nguyên nhân sinh ra một sự vật, hiện tượng có nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nên trong nhận thức và hành động cần dựa vào nguyen nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong
Phần 2 Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
2.1 Định nghĩa và thực trạng của thất nghiệp
Tồn tại vô số những ý kiến, quan điểm khác nhau xoay quanh định nghĩa
về thất nghiệp Luật Bảo hiểm thất nghiệp của Đức viết rằng: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn” Điều này lại được Trung Quốc định nghĩa như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa
có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm” Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành” Còn tại Việt Nam, thất nghiệp là một vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.2
Việt Nam là một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, hay còn được ví như đang
2 Theo Tạp chí Công thương
Trang 75
ở trong giai đoạn vàng của cơ cấu dân số Vậy nên, việc tận dụng triệt để nguồn lao động, tri thức dồi dào ấy là vô cùng quan trọng và là một thế mạnh trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm gần đây, mặc dù chất lượng đào tạo, giáo dục, học vấn ngày càng được cải thiện, nâng cao; số lượng cử nhân tốt nghiệp các trường đại học, học viện ngày càng nhiều, thế nhưng, tỉ lệ sinh viên ra trường không có việc làm lại không hề có dấu hiệu suy giảm Tình trạng sinh viên cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp đại học nhưng lại tham gia vào lực lượng lao động chân tay hay những công việc không cần đến bằng cấp ngày càng phổ biến và là một thực tế không còn gì xa lạ
Theo thông báo cáo chí tình hình lao động, việc làm quý I năm 2021 của Tổng cục Thống kê nhà nước, đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ ba ngay trước và trong dịp Tết nguyên đán làm tăng đáng kể số lao động thiếu việc làm so với quý trước và cùng kỳ năm 2020 Số người lao động thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2021 là 971,4 nghìn người; tăng 143,2 nghìn người so với quý trước và tăng 78,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Hình 1: Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi các quý, giai đoạn 2019-2021
Thời điểm năm 2019, khi dịch COVID-19 chưa bùng phát, những con số về tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Việt Nam đáng để suy ngẫm Theo báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2019 của Tổng cục Thống kê, cả nước có hơn 1,1 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp Đáng lưu ý, thanh niên (từ 15-24 tuổi) thất nghiệp hiện vẫn chiếm tới gần một nửa tổng số lao động thất nghiệp cả
Trang 86
nước (42,1%) Nhóm có trình độ từ đại học trở lên, tỉ lệ thất nghiệp tương đối cao với 14,9%
Thực trạng sinh viên không tìm được việc làm hậu tốt nghiệp dù đã được cảnh báo từ rất lâu nhưng nó vẫn luôn tồn tại dai dẳng trong đời sống thường ngày Dễ dàng bắt gặp những cử nhân đại học phải giấu nhẹm đi tấm bằng mà mình đã đổ mồ hôi, vất vả cày cuốc học hành mấy năm trời vì không tìm được chỗ đứng trong lĩnh vực của chuyên ngành đã học, mà thay vào đó, là tìm đến với những công việc không cần bằng cấp để mưu sinh Một thực tế khó tin nữa
là nhiều cử nhân, thậm chí thạc sĩ, phải miễn cưỡng dang dở con đường học vấn
để bắt đầu lại từ cao đẳng, trung tâm đào tạo nghề với mong muốn có được vị trí chính thức trong lực lượng lao động
Một xã hội “thừa thầy thiếu thợ” có lẽ là cụm từ miêu tả rất đúng về tình trạng việc làm của sinh viên Việt Nam bây giờ Tấm bằng đại học không hoàn toàn còn được coi như một “lá bùa hộ mệnh” trên con đường xây dựng sự nghiệp của mỗi người nữa Dù vậy, định kiến xã hội và ước mong của đại đa số học sinh THPT là tiếp tục học lên đại học, cao đẳng sau khi đã hoàn thành chương trình lớp 12 Và sau chặng đường gắn bó 3-4 năm trên giảng đường ấy thì các bạn lại phải đương đầu với một bài toán lớn hơn thi tốt nghiệp THPT rất nhiều, ấy là tìm kiếm việc làm
2.2 Nguyên nhân và kết quả
Thực trạng đáng buồn nêu trên đặt ra những câu hỏi: Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay? Và nó để lại kết quả gì cho đời sống xã hội hiện tại? Có rất nhiều lý do để trả lời cho các câu hỏi này, cả yếu tố khánh quan tác động từ bên ngoài và nguyên nhân chủ quan nội tại xuất phát từ bản thân Mỗi nguyên do lại dẫn đến một, thậm chí vô vàn hậu quả Tuy nhiên, dung lượng bài luận chỉ cho phép đề cập đến 3 nguyên nhân được cho là chủ yếu, đóng vai trò vô cùng quan trọng sau Đi kèm với nó là những liên lụy, hệ quả, mà về lâu dài, làm thay đổi nghiêm trọng đến cuộc sống trong tương lai
Trang 97
Đầu tiên, phải kể đến việc sinh viên không có định hướng nghề nghiệp
trước khi học Ở Việt Nam, rất nhiều các bạn học sinh chịu tác động rất lớn từ
phía gia đình khi đưa ra quyết định về ngành học đại học Với tâm lý của các bậc phụ huynh muốn che chở, lo lắng, bao bọc con cái, họ thường hướng cho con mình theo những ngành nghề mà họ cho là dễ xin việc, an toàn và danh tiếng Chưa kể còn có không ít những trường hợp chọn ngành, nghề chỉ vì trong gia đình có người giúp, “chống lưng” khi xin việc làm Các bạn học sinh cũng vì thế mà phần nào trở nên thụ động, phụ thuộc và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi chính kiến của gia đình Mặt khác, xu hướng thị trường cũng là một nhân tố không hề nhỏ Một số bạn học sinh thường có quan điểm chạy theo thị hiếu đám đông, theo các nghề “hot” mặc dù không đúng sở trường, năng lực và đam mê, chỉ để bằng bạn bằng bè, để có cái mà khoe và để mọi người ngưỡng mộ
Những chọn lựa không hề có sự chuẩn bị hay định hướng ấy sẽ sớm dẫn đến tình trạng chán nản khi học, điểm số giảm sút, không dành thời gian, tâm huyết cho ngành, nghề Bởi quyết định không được đưa ra bởi bản thân, không dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu của mình mà chọn vì tác động của người khác Từ đó mà hiện tượng bỏ học ngang, bảo lưu kết quả hay ra trường làm trái ngành là một thực tế không còn gì mới mẻ
Tiếp đến, lý do thứ hai khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao là chương trình đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tế, học không đi đôi với hành Có lẽ điều
này xuất phát từ chất lượng giáo trình của các trường đại học tại Việt Nam; khi
nó được đánh giá là nặng lý thuyết chuyên môn và không sát với xã hội thực tiễn Nhiều cơ sở giáo dục chỉ vì những mục đích bên lề khách nhau mà đạo tạo không đúng và không trúng Nhiều nơi còn chưa chú trọng đầu tư, phát triển cơ
sở vật chất trường học để đẩy mạnh vấn đề thực hành cho học viên, mà vẫn đi theo tư duy thời cũ, trọng lý thuyết Nhiều bạn sinh viên sau khi ra trường, kể cả
có sở hữu những tấm bằng tốt nghiệp loại Khá, Giỏi cũng không thể hiểu nên áp dụng những câu chữ khô khan, trừu tượng trên giấy vở ấy vào đời sống thường ngày như thế nào
Trang 108
Điều này dẫn đến khi các sinh viên thực sự dấn thân vào cuộc sống mưu sinh, thì các bạn lại nhìn đời với sự bỡ ngỡ, lạ lẫm, khác xa với những gì được dạy dỗ, ghi chép trên sách vở Không chỉ thiếu kiến thức về chuyên môn mà sinh viên ra trường còn thiếu trầm trọng những kiến thức về thực tế Tất nhiên, điều này sẽ không bao giờ có thể đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng Và
có lúc các bạn nhìn lại khoảng thời gian dài chôn mình ở môi trường đại học sẽ thắc mắc nó liệu có đáng? Và sẽ tự hỏi rằng đại học thực sự đã dạy ta những gì?
Cuối cùng, một nguyên nhân không kém phần quan trọng khác là vấn đề
sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc Trên thực tế, các môn phát triển
nhiều về kỹ năng xã hội lại hiếm gặp và không được đầu tư hay đưa vào giảng dạy chính thức tại các trường đại học ở Việt Nam Sinh viên thì đua nhau đổ tiền bạc, công sức đi học và “sưu tầm” các loại chứng chỉ vì được bảo rằng sẽ giúp ích Nhưng đổi lại thì sao? Các chủ doanh nghiệp nhà nước và tư nhân vẫn luôn phàn nàn về việc họ phải chi một khoản tiền rất lớn để đào tạo lại những sinh viên được nhận vào làm, trước khi họ bắt tay vào làm việc thực sự Họ thiếu trầm trọng những kỹ năng mềm như phân tích, xử lý tình huống, làm việc nhóm, giao tiếp, ngoại ngữ, tin học,
Hệ quả mà thực tế nêu trên để lại là vô cùng lớn Khi mà sự thiếu hụt các
kỹ năng xã hội sẽ dẫn đến tình trạng các bạn sinh viên luôn thụ động, tự ti, không dám thử thách và luôn muốn nằm trong vùng giới hạn an toàn của bản thân Gia đình thì thúc giục, đồng nghiệp, cấp trên thì đánh giá thấp, áp lực đồng trang lứa cũng không hề nhỏ Trong một môi trường năng động và đầy cạnh tranh, họ sẽ có thể cảm thấy bản thân kém cỏi, ngày càng khép mình và việc đi tìm kiếm một việc làm mới sẽ khiến họ thêm lo lắng và áp lực
2.3 Một số biện pháp và bài học kinh nghiệm rút ra cho sinh viên nói chung
và bản thân nói riêng
Để ngăn chặn và đẩy lùi những thực trạng đáng báo động nêu trên, từ các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ sở giáo dục trên cả nước đến từng cá nhân các bạn sinh viên đều phải bắt tay vào hành động