TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Viện Kế toán – Kiểm toán ĐỀ ÁN MÔN HỌC KIỂM TOÁN ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XÉT ĐOÁN CHUYÊN MÔN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM Sinh viên th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Viện Kế toán – Kiểm toán
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KIỂM TOÁN
ĐỀ TÀI:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XÉT ĐOÁN CHUYÊN MÔN
CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Hân
Mã sinh viên: 11181465 Giảng viên hướng dẫn: ThS Phan Thị Thanh Loan
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I – Lý luận chung về xét đoán chuyên môn và các nhân tố ảnh hưởng
tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập 5
I.1 Khái niệm xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập 5
I.1.1 Khái niệm kiểm toán độc lập 5
I.1.2 Đối tượng của kiểm toán độc lập 6
I.1.3 Khái niệm xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập 6
I.2 Sự cần thiết và tầm quan trọng của xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập 10
I.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên 11
I.3.1 Nhân tố thái độ hoài nghi nghề nghiệp của kiểm toán viên 11
I.3.2 Nhân tố kiến thức chuyên môn và năng lực của kiểm toán viên 12
I.3.3 Nhân tố độ khó của mục tiêu kiểm toán và kinh nghiệm của kiểm toán viên 12
I.3.4 Một số mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn
của kiểm toán viên độc lập khác 13
PHẦN II – Thực trạng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán
chuyên môn của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam 15
II.1 Nhân tố thái độ hoài nghi nghề nghiệp của kiểm toán viên 15
II.2 Nhân tố kiến thức chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm kiểm toán 15
II.3 Nhân tố độ khó của mục tiêu kiểm toán 16
PHẦN III – Nhận xét các ưu điểm và tồn tại và kiến nghị nhằm hoàn thiện
mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của
kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam 17
III.1 Nhận xét các ưu điểm và tồn tại của thực trạng nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam 17
III.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán
chuyên môn của kiểm toán viên tại Việt Nam 18
Trang 3III.2.1 Các nhân tố khách quan có thể tác động tới xét đoán chuyên môn
của kiểm toán viên 18
III.2.2 Các nhân tố chủ quan có thể tác động tới xét đoán chuyên môn
của kiểm toán viên 20
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã hình thành
và phát triển, trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp Trong đó, xét đoán chuyên môn đóng một vai trò then chốt cho sự thành công của một cuộc kiểm toán nói chung và một cuộc kiểm toán độc lập nói riêng Để có thể sử dụng xét đoán nghề nghiệp của mình một cách chính xác và hiệu quả, kiểm toán viên phải hiểu về các bộ quy tắc và chuẩn mực liên quan đến cả lĩnh vực kế toán và kiểm toán
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế – ISA 200 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện xét đoán chuyên môn trong giai đoạn lập kế hoạch và quá trình thực hiện kiểm toán Tương tự, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam – VSA 200 cũng yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện xét đoán chuyên môn và luôn duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như thực hiện kiểm toán Sai lầm trong xét đoán của kiểm toán viên độc lập có thể ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính, khiến họ sai lệch trong việc đưa ra những quyết định kinh tế Từ đó, những xét đoán không đảm bảo có thể gây suy giảm uy tín nghề nghiệp của kiểm toán viên, hay thậm chí
có thể dẫn đến việc kiểm toán viên phải gánh chịu những trách nhiệm và hình phạt pháp lý
Bên cạnh đó, quy trình kiểm toán và kế toán trong bối cảnh kinh tế hiện nay đang ngày càng trở nên phức tạp, trở thành một thách thức lớn đối với việc đưa ra xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Nói về xét đoán chuyên môn, ta nhận thấy rằng đây là một vấn đề mang tính định tính nhiều hơn là định lượng, tuy nhiên chính vì vậy mà sự lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng hay xây dựng một mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên hay xa hơn là đưa ra một bộ quy tắc riêng cho việc đảm bảo sự chính xác và hiệu quả của thực hiện xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên, cụ thể là trong lĩnh vực kiểm toán độc lập tại Việt Nam là một điều quan trọng và cần thiết
Trang 5Cùng với sự giúp đỡ và hướng dẫn của ThS Phan Thị Thanh Loan, em đã tiến hành
tìm hiểu và chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập ở Việt Nam”
Cấu trúc bài đề án bao gồm ba phần:
Phần I: Lý luận chung về xét đoán chuyên môn và các nhân tố ảnh hưởng tới xét
đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập;
Phần II: Thực trạng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn
của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam;
Phần III: Nhận xét các ưu điểm và tồn tại và kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam
Trang 6PHẦN I – Lý luận chung về xét đoán chuyên môn và các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập
I.1 Khái niệm xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập
I.1.1 Khái niệm kiểm toán độc lập
Theo Giáo trình Lý thuyết kiểm toán (GS TS Nguyễn Quang Quynh, 2017): Phân
theo tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán độc lập và Kiểm toán nội bộ Phân theo đối tượng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành Kiểm toán (bảng khai) tài chính, Kiểm toán hoạt động và Kiểm toán liên kết
Theo Điều 5, Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 trình bày:
“1 Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình
về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán
Cụ thể các loại kiểm toán độc lập như sau:
9 Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán
10 Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện
11 Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh
tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán.”
Tuy nhiên trên thực tế, khi nhắc về kiểm toán độc lập ở Việt Nam nói riêng cũng như trên thế giới nói chung, lĩnh vực đặc trưng nhất của kiểm toán độc lập là kiểm toán tài chính Lí do đó là bởi vì công việc kiểm toán Báo cáo tài chính thường do các doanh nghiệp
Trang 7kiểm toán thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính phủ, các ngân hàng, các nhà đầu tư, các nhà cung cấp và khách hàng của đơn vị Các doanh nghiệp kiểm toán này có tính độc lập đối với khách thể kiểm toán, và theo đó, các kết luận kiểm toán khi đưa ra được
kỳ vọng rằng sẽ khách quan và tạo được niềm tin lớn hơn đối với đông đảo những người
sử dụng kết quả kiểm toán
Chính vì vậy mà ở đây, trong bài viết về đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên độc lập ở Việt Nam” này, kiểm toán độc lập khi được đề
cập đến sẽ được ngầm hiểu là kiểm toán tài chính
I.1.2 Đối tượng của kiểm toán độc lập
Kiểm toán tài chính, đầy đủ là kiểm toán báo cáo tài chính hay kiểm toán bảng khai tài chính, là sự tích lũy và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các thông tin, cụ thể là các thông tin cung cấp trên bảng khai tài chính của các thực thể kinh tế, để quyết định và báo cáo về sự phù hợp của thông tin này so với các chuẩn mực được thiết lập Kiểm toán được thực hiện bởi một người độc lập, có năng lực chuyên môn (Arens, 2017)
Đối tượng của kiểm toán tài chính chính là các bảng khai tài chính hay các báo cáo tài chính Theo đó, báo cáo tài chính là hệ thống được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị Theo Luật
kế toán Việt Nam, Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính Ở nước ngoài, hệ thống Báo cáo tài chính của doanh nghiệp còn có thêm Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, còn có các bảng khai tài chính khác như: Các bảng kê khai tài sản khi phá sản, giải thể, các bảng kê khai theo yêu cầu của chủ đầu tư hay ngân hàng
I.1.3 Khái niệm xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập
Thuật ngữ “xét đoán chuyên môn” được sử dụng rộng rãi trong kiểm toán tài chính,
được đề cập ngay trong khái niệm của kiểm toán tài chính rằng “kiểm toán được thực hiện bởi một người độc lập, có khả năng (xét đoán) chuyên môn” Nhưng cụ thể, xét đoán chuyên
môn có nghĩa là gì đối với kiểm toán viên?
Trang 8Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 200 – Mục tiêu tổng thể của kiểm toán
viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán, đoạn 16: “Xét đoán chuyên môn
là đòi hỏi thiết yếu khi tiến hành kiểm toán Kiểm toán viên sẽ không thể thực hiện được chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, các chuẩn mực kiểm toán, các quyết định cần thiết trong suốt cuộc kiểm toán nếu không sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm một cách phù hợp với thực tế và hoàn cảnh cụ thể.” Theo đó, xét đoán chuyên môn hay
xét đoán nghề nghiệp được hiểu là việc ứng dụng kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình học tập, lao động thực tiễn cùng với việc áp dụng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp thực hiện các quyết định và hành động thích hợp của cá nhân kiểm toán viên trong
các tình huống cụ thể
I.1.3.1 Các kiến thức và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp trong xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
“Các kiến thức” và “tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp” được đề cập ở khái niệm trên
được hiểu là những hiểu biết liên quan đến các lĩnh vực liên quan được yêu cầu như hiểu biết về Chuẩn mực Kế toán, Chuẩn mực Kiểm toán, Thuế hay Tài chính… Bởi đối tượng kiểm toán ở đây là Báo cáo tài chính được lập bởi bộ phận Kế toán của doanh nghiệp, phản ánh về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và mối quan hệ của doanh nghiệp đối với các bên khác liên quan như nhà cung cấp, khách hàng và các cơ quan Nhà nước như Thuế, Hải quan Mà mục tiêu tổng quát của kiểm toán viên và công ty kiểm toán đó là đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực
và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu Để các kiểm toán viên sử dụng các xét đoán nghề nghiệp một cách chính xác, họ phải hiểu về các quy tắc và chuẩn mực liên quan đến kế toán và kiểm toán
I.1.3.2 Kinh nghiệm kiểm toán trong xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
“Kinh nghiệm” ở khái niệm trên đòi hỏi kiểm toán viên trong việc lựa chọn các thủ
tục kiểm toán cần thiết hay trong việc chỉ định các cấp nhân viên thích hợp để tham gia một cuộc kiểm toán Một doanh nghiệp là khách hàng của công ty kiểm toán năm đầu tiên sẽ
Trang 9khác với một doanh nghiệp đã là khách hàng cũ Đối với khách hàng mới, kiểm toán viên
sẽ cần thu thập một số tài liệu, thông tin để có hiểu biết ban đầu về lĩnh vực, ngành nghề của đơn vị đó, về công ty chịu trách nhiệm kiểm toán đơn vị trước đó và lí do vì sao họ không tiếp tục kiểm toán cho đơn vị để xem xét việc có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không Còn đối với khách hàng cũ, tuy kiểm toán viên đã có hiểu biết về đơn vị, nhưng cũng vì vậy mà kiểm toán viên cần tăng tính thận trọng hơn khi thực hiện kiểm toán cho đơn vị đó Nguyên nhân là bởi kiểm toán viên có thể vi phạm vào các mối đe dọa có thể ảnh hưởng tới tính khách quan hay độc lập của mình như nguy cơ về Sự quen thuộc, nguy
cơ về Sự tự kiểm tra… xảy ra do kiểm toán viên đã có thời gian làm việc gắn bó, quen thuộc với đơn vị Hơn nữa, đặc thù của công việc kiểm toán đó là đối tượng khách hàng vô cùng
đa dạng, điều này có thể trở thành một thách thức cho kiểm toán viên trong việc nỗ lực để hiểu biết về từng lĩnh vực của các đơn vị mà mình sẽ kiểm toán Một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng sẽ đòi hỏi kiểm toán viên có những mối quan tâm trọng yếu và tương ứng với đó là những thủ tục, kỹ thuật kiểm toán khác với một doanh nghiệp kinh doanh, thương mại Tất cả những vấn đề trên đặt ra, đòi hỏi kiểm toán viên phải vận dụng “xét đoán chuyên môn” của mình, bao gồm kiến thức, kinh nghiệm để phân tích từng tình huống
cụ thể và từ đó đưa ra những quyết định phù hợp trong quá trình thực hiện kiểm toán
I.1.3.3 Các tình huống cụ thể cần xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Về các “quyết định trong suốt cuộc kiểm toán” cũng như những “tình huống cụ thể”
được để cập ở khái niệm, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 200, đoạn 16, về các trường hợp cụ thể cần kiểm toán viên phải sư dụng xét đoán chuyên môn của mình để đưa
ra quyết định viết:
“Xét đoán chuyên môn rất cần thiết trong việc đưa ra các quyết định về:
(1) Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán;
(2) Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán và thu thập bằng chứng kiểm toán;
Trang 10(3) Đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng kiểm toán đã thu thập và sự cần thiết phải thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán để đạt được mục tiêu của các chuẩn mực kiểm toán và mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên;
(4) Đánh giá các xét đoán của Ban Giám đốc của đơn vị được kiểm toán trong việc áp dụng khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính;
(5) Đưa ra kết luận dựa trên các bằng chứng kiểm toán đã thu thập, ví dụ, khi đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán mà Ban Giám đốc sử dụng khi lập báo cáo tài chính.”
Trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên xử lý các yếu tố chủ quan, không định lượng được, nhưng do bản chất của các yếu tố này nên chúng không thể được ghi nhận vào kế toán Ngay cả khi thông tin chủ quan không thể được ghi lại, các yếu
tố này là cơ sở cho các quyết định cơ bản của kiểm toán viên Grout và cộng sự (Grout và cộng sự, 1994) định nghĩa xét đoán chuyên môn là điều kiện để đưa ra quyết định, phán đoán chính xác các yếu tố chủ quan này Một trường hợp phổ biến trong thực tế cần thiết phải áp dụng sự xét đoán nghề nghiệp của kiếm toán viên đó là trong đo lường kế toán
Trong đo lường kế toán, vấn đề phức tạp nhất được quan tâm và thường xảy ra sai phạm đó là việc lựa chọn cơ sở đo lường cho các khoản mục của báo cáo tài chính mang tính ước tính như chi phí khấu hao, các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất tài sản…
Do các khoản mục này đều mang tính chất ước tính, dựa trên các cơ sở đo lường đa dạng như nguyên giá, giá trị hợp lý, giá trị có thể thực hiện được… và phụ thuộc vào bản chất của sự kiện, giao dịch, thời điểm phát sinh, thời điểm ghi nhận, thời điểm đánh giá lại… mà các giá trị được đo lường và ghi nhận đầu vào, tồn kho, đầu ra sẽ có sự chênh lệch
và khác biệt Bởi vậy, khi doanh nghiệp lựa chọn cơ sở đo lường phù hợp với từng khoản mục của báo cáo tài chính, yêu cầu kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán phải áp dụng sự xét đoán nghề nghiệp nhằm đánh giá những lợi thế và bất lợi của từng cơ sở đo lường nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Một ví dụ cụ thể mà xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên cần được áp dụng có thể đề cập tới như: Trong tình huống xác định sự phù hợp của phương pháp khấu hao; thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định hữu hình
Trang 11hoặc vô hình mà doanh nghiệp đã lựa chọn Bởi những khác biệt trong phương pháp khấu hao tài sản hay xác định thời gian sử dụng hữu ích của tài sản sẽ ảnh hưởng đến giá trị sổ sách ròng của một tài sản tại từng thời điểm Và điều này có thể dẫn đến việc không phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch đã phát sinh hay những tổn thất kinh tế của doanh nghiệp (Ivan, 2016)
Ngoài ra, xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên cần được ứng dụng trong một số trường hợp phổ biến khác như: kiểm toán, đánh giá về chi phí khấu hao tài sản, tài sản cho thuê… của đơn vị được kiểm toán
I.2 Sự cần thiết và tầm quan trọng của xét đoán chuyên môn trong kiểm toán độc lập
Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) chỉ ra rằng xét đoán chuyên môn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong một cuộc kiểm toán (Trotman, 2006, p.6) Khi báo cáo tài chính của các doanh nghiệp được lập và trình bày, tính linh hoạt trong ghi nhận các sự kiện
và giao dịch cũng như trình bày thông tin các khoản mục trên báo cáo tài chính khá cao Việc lựa chọn chính sách kế toán và các ước tính kế toán được thực hiện với mục tiêu trình bày thông tin hữu ích và phù hợp cho người dùng, phù hợp với từng hoạt động cụ thể của doanh nghiệp được phát huy tối đa Điều này sẽ dẫn đến những thách thức nhất định trong xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Bởi trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu kiểm toán viên phải đưa ra kết luận về tính trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của các thông tin được lập và trình bày trên báo cáo tài chính Xét đoán chuyên môn và tính hoài nghi nghề nghiệp do đó vô cùng quan trọng trong việc đánh giá mức độ đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được trong quá trình kiểm toán (CPA Ontario, 2017)
Ivan, I (2016) trong khảo sát của mình, đã chỉ ra nhận thức của kiểm toán viên về tầm quan trọng của xét đoán nghề nghiệp khá cao Phần lớn kiểm toán viên tin rằng, xét đoán nghề nghiệp góp phần mang lại kết quả đánh giá trung thực, khách quan và công bằng của kiểm toán viên Xét đoán nghề nghiệp giúp tăng cường phát triển kỹ thuật thực hành kiểm toán Và để xét đoán chuyên môn tốt đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao
Trang 12I.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Quay trở lại với vấn đề mà chúng ta đã đặt ra ngay từ đầu trong đề tài này: Các nhân
tố nào sẽ ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên? Để trả lời cho câu hỏi
trên, các nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu, rất nhiều nhân tố cũng như mô hình nghiên cứu đã được đưa ra
I.3.1 Nhân tố thái độ hoài nghi nghề nghiệp của kiểm toán viên
Đầu tiên, thảo luận về xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên, thái độ hoài nghi nghề nghiệp là một yếu tố được đề cập thường xuyên Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam – VSA 200, thái độ hoài nghi nghề nghiệp là thái độ luôn nghi vấn, cảnh giác đối với những tình huống được xem như là dấu hiệu của sai sót do nhầm lẫn hay do gian lận và đánh giá cẩn trọng đối với các bằng chứng kiểm toán
Kemp (Kemp, 2012) mô tả sự hoài nghi như một yếu tố gắn liền và luôn luôn thường trực đối với kiểm toán viên Mặc dù được thảo luận rộng rãi trong nhiều bài báo và nghiên cứu khác nhau, nhưng sự hoài nghi là phẩm chất mà kiểm toán viên cấp dưới thường học được từ kiểm toán viên cấp cao, phẩm chất này đến từ sự tương tác xảy ra giữa các kỹ năng
mà một kiểm toán viên đã học được và tính cách cá nhân của họ Trong văn hóa của các công ty kiểm toán lớn, về khía cạnh xét đoán chuyên môn, họ nhận thức rằng nếu không có
sự hoài nghi nghề nghiệp, kiểm toán viên không thể đưa ra xét đoán chuyên môn một cách khách quan và phù hợp, và do đó khó có thể đạt tới một cuộc kiểm toán chất lượng
Thực tiễn cho thấy, thái độ hoài nghi nghề nghiệp bị ảnh hưởng bởi đặc điểm hành
vi cá nhân, tức là thái độ và các giá trị đạo đức cũng như kiến thức của các kiểm toán viên Thái độ này bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố như: Giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm thực tế cũng như áp lực công việc Mà kinh nghiệm, kỹ năng kỹ thuật và nguyên tắc đạo đức là ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên (Danescu
& Chira, 2014, pp 1253 – 1258) Điều này lại càng khẳng định sự ảnh hưởng của nhân tố
sự hoài nghi nghề nghiệp lên xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Trang 13I.3.2 Nhân tố kiến thức chuyên môn và năng lực của kiểm toán viên
Có thể thấy rằng xét đoán nghề nghiệp và quá trình ra quyết định của kiểm toán viên
là trọng tâm của hoạt động nghề nghiệp của kiểm toán viên Một kiểm toán viên có kinh nghiệm nên tập trung vào việc họ sẽ hình thành xét đoán chuyên môn và đưa ra quyết định như thế nào khi tiến hành công việc kiểm toán Về mặt này, để xét đoán và ra quyết định một cách chính xác, phù hợp, đòi hỏi kiểm toán viên phải có năng lực chuyên môn để thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả (Bik, 2010, p 28) Năng lực chuyên môn của kiểm toán viên được xây dựng dựa trên hiểu biết, kiến thức và kinh nghiệm của họ
Ngoài ra, do quy trình báo cáo của các đơn vị được kiểm toán cũng bắt đầu phức tạp hơn do những thay đổi trong lĩnh vực kế toán và tài chính trên thế giới, kiểm toán viên cần vận dụng tối đa kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm cùng với mức độ xét đoán chuyên môn ngày càng cao (IAASB, ICAS, & IAAER, 2015, p 3) Cũng bởi vậy, điều quan trọng nhất
là kiểm toán viên phải có những hiểu biết chung về lĩnh vực mà đơn vị được kiểm toán đang hoạt động và luôn phải cập nhật cũng thay đổi của các chuẩn mực kế toán, kiểm toán cũng như nắm bắt những biến động trong nền kinh tế
I.3.3 Nhân tố độ khó của mục tiêu kiểm toán và kinh nghiệm của kiểm toán viên
Sự chính xác và tự tin vào xét đoán của mình cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định (Arkes, 1991) Kiểm toán viên đưa ra các quyết định bằng cách sử dụng xét đoán chuyên môn của mình và những xét đoán đó ngược lại, lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố độc lập trong đó bao gồm sự tin tưởng vào xét đoán của mình của kiểm toán viên Ví dụ như khi đánh giá về giả định hoạt động liên tục của một đơn vị, một kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến ngoại trừ nếu không chắc chắn về khả năng tin cậy của những bằng chứng kiểm toán đã thu thập được, trong khi một kiểm toán viên khác có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần nếu tin tưởng rằng những bằng chứng đã thu thập được là đầy đủ
và đáng tin cậy
Chung và Monroe (Chung và Monroe, 2000) xem xét ảnh hưởng của kinh nghiệm kiểm toán đối và độ khó của mục tiêu kiểm toán đối với sự tin tưởng của kiểm toán viên vào xét đoán chuyên môn của chính mình Đúng như dự đoán, nghiên cứu cho thấy mối