1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHYT tự nguyện ở Việt Nam

51 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Ý Định Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế Tự Nguyện Ở Việt Nam
Tác giả Phạm Huyền Trang
Người hướng dẫn ThS. Tô Thị Thiên Hương
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại công trình nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 544,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHYT tự nguyện ở Việt Nam” .

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Nhóm nghiên cứu xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học “Các nhân tốảnh hưởng tới ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam” là công trìnhhoàn toàn trung thực và độc lập của nhóm Ngoài những thông tin thứ cấp có liên quanđến nghiên cứu đã được trích dẫn theo quy định, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứuđược trình bày đều do nhóm tác giả trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dãn của ThS TôThị Thiên Hương

Nhóm nghiên cứu xin chịu trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong nhữngthông tin sử dụng ở công trình nghiên cứu này

Trưởng nhóm nghiên cứu

Phạm Huyền Trang

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau khi hoàn thành nghiên cứu này, bằng sự biết ơn và kính trọng, nhóm nghiêncứu chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Bảo Hiểm trường Đại HọcKinh Tế Quốc Dân đã tạo những điều kiện tốt nhất để chúng em hoàn thiện đề tàinghiên cứu khoa học này

Đặc biệt, nhóm chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Tô Thị ThiênHương, là người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên nhómtrong suốt quá trình nhóm thực hiện nghiên cứu Nhờ sự giúp đỡ của cô, nhóm đã hoànthành tốt, theo đúng kế hoạch nhóm đã đặt ra khi bắt tay vào nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các bậc phụ huynh và người thân của các thành viênnhóm Sự ủng hộ của mọi người là nguồn động viên lớn với chúng em trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu khoa học

Tuy nhiên, năng lực của chúng em còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứukhoa học khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng em kính mong các quý thầy cô, cácchuyên gia cùng những độc giả có quan tâm đến đề tài này tiếp tục có những ý kiếnđóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trưởng nhóm nghiên cứu

Phạm Huyền Trang

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

BHYT là chính sách quan trọng và cần thiết đối với mỗi quốc gia Chính sáchBHYT là một trong những trụ cột của ASXH thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhànước đối với việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động và chăm sóc, bảo vệ sứckhỏe nhân dân, tạo được sự đoàn kết, tương thân, tương ái mang tính cộng đồng, chia

sẻ rủi ro, giúp đỡ nhau vượt qua lúc khó khăn, hoạn nạn do đau ốm BHYT là cơ chếtài chính y tế quan trọng và là cơ chế chi trả trước được đa số các quốc gia trên thế giới

áp dụng giúp người dân khi bị ốm đau không rơi vào cảnh nghèo đói, là định hướngphát triển trong chăm sóc sức khỏe người dân góp phần tích cực vào việc ổn định xãhội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh

Vào tháng 6 năm 2020, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã công bốmột số kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2019 Theo đó, thu nhập bình quân đầungười của Việt Nam đạt 4.295 nghìn đồng/người/tháng, tăng 10,8% so với năm 2018.Tuy nhiên, các hộ gia đình Việt lại đang thiếu hụt nhiều dịch vụ xã hội cơ bản, vànhiều nhất ở chỉ số bảo hiểm y tế Mức độ thiếu hụt về bảo hiểm y tế của Việt Namtrong 2019 là 19% Theo đó, càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của BHYT trong cácchính sách của Đảng và Nhà nước để ra nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của nhândân

Ở Việt Nam, đầu những năm 1990, sau khi thực hiện một số mô hình thí điểmBHYT, Hội đồng Bộ trưởng đã trình Dự thảo Pháp lệnh BHYT lên Hội đồng Nhànước Sau khi cân nhắc thực tế điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước đã quyết định thíđiểm BHYT trên diện rộng Trên cơ sở đó, năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã banhành Nghị định số 299-HĐBT ngày 15/08/1992 về việc ban hành điều lệ BHYT Trong suốt ba thập kỷ, việc mở rộng quyền lợi hưởng BHYT giúp cho người dân

có thẻ BHYT có thể tiếp cận tối đa các dịch vụ kỹ thuật y tế tiên tiến Hiện nay, hầuhết thuốc, dịch vụ kỹ thuật đều được quỹ BHYT chi trả khi KCB đúng tuyến Với mứcđóng không quá cao nhưng khi không may ốm đau, bệnh tật, kể cả những căn bệnhhiểm nghèo có chi phí điều trị lớn, người tham gia BHYT được KCB chu đáo, không

Trang 4

phân biệt giàu nghèo Người có thẻ BHYT khi đi KCB đúng tuyến được quỹ BHYTchi trả 80% đến 100% chi phí KCB theo phạm vi và quyền lợi hưởng tuỳ thuộc vàonhóm đối tượng Mới đây, bắt đầu từ ngày 1/1/2021, Nhà nước tiếp tục thực hiệnthông tuyến BHYT nội trú tuyến tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho người tham giaBHYT khi KCB trái tuyến

Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của các bộ ngành, địaphương và những lợi ích khi tham gia BHYT, số người tham gia BHYT ở Việt Namngày càng tăng cao Theo báo cáo số 413/BC-CP ngày 20/09/2019 của Chính phủ gửi Quốc hội về kết quả thực hiện nghị quyết 68 (về đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển BHYT, tiến tới BHYT toàn dân), toàn quốc có 83,5 triệu người tham giaBHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 89,8% dân số, vượt gần 10% so với chỉ tiêu trong nghị quyết.Vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại quyết định số 1167/QĐ-TTg là 1,7% Hiện vẫn còn10,2% dân số tương đương với khoảng 10 triệu người chưa tham gia BHYT Thống kêcho thấy, nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHYT chưa cao tập trung ở các hộ giađình cận nghèo, người thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sốngtrung bình; học sinh, sinh viên Đặc biệt thấp đối với các tỉnh có tỷ lệ dân số làm việc

ở khu công nghiệp, nông thôn cao, nhất là các huyện miền núi, các xã ven biển vàngười lao động tự do có mức thu nhập thấp và không ổn định Nhận thấy một bộ phận

là người lao động tự do không nằm trong nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc.Bên cạnh nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, nhóm đối tượng tham gia BHYT

tự nguyện được kỳ vọng sẽ góp phần tăng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân Dothông tin tuyên truyền còn hạn chế cũng như đặc điểm của BHYT tự nguyện chưađược phổ cập nên hiện nay BHYT tự nguyện còn ít người tham gia Số người tham giaBHYT tự nguyện chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng số người tham gia BHYT.Trong khi đó, việc đẩy mạnh phát triển BHYT tự nguyện được coi là giải pháp tốt nhất

để thực hiện lộ trình BHYT toàn dân Những điều trên cho thấy, BHYT tự nguyện vẫnđang nhận được sự quan tâm và là chủ đề liên tục đượcnghiên cứu

Thực tế đã có một số công trình nghiên cứu cả trong nước và quốc tế về các nhân

tố ảnh hưởng tới quyết định mua BHYT Ở nước ngoài đã có các công trình tiến hànhnghiên cứu ở Uganda, Nigeria, … Ở Việt Nam, hầu như các công trình nghiên cứu chỉdừng lại ở các tỉnh thành: Nghệ An, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, … Do phạm vi nghiên cứu

Trang 5

chưa rộng khắp cả nước nên kết quả nghiên cứu sẽ phụ thuộc vào các đặc điểm kinh tế

- xã hội, dân cư của mỗi tỉnh Vì thế, vẫn chưa đưa ra được cái nhìn toàn diện cho việctham gia BHYT tự nguyện ở Việt Nam Do đó, để đảm bảo BHYT tự nguyện pháthuy được tốt những lợi ích tích cực nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước

thì nhóm chúng em quyết định nghiên cứu chuyên sâu vào đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHYT tự nguyện ở Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Bằng việc khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT tự nguyệncủa người dân Việt Nam, phân tích câu trả lời của các đối tượng tham gia khảo sát mànhóm thành lập, đề tài nghiên cứu của nhóm cần đạt được các mục tiêu sau đây:

 Hệ thống hoá lý luận về BHYT tự nguyện Khái quát tầm quan trọng củaBHYT và mức độ tham gia BHYT tự nguyện của nước ta hiện nay

 Tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT tự nguyện của ngườidân Việt Nam Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định mua BHYT

tự nguyện ở Việt Nam

 Dựa vào khảo sát và kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thực hiệnmục tiêu của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới bao phủ BHYT toàn dân

3 Câu hỏi nghiên cứu Để lại sau khi hoàn thành toàn bài NCKH

 BHYT tự nguyện là gì? BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng giữ vaitrò như thế nào đối với ASXH nước ta?

 Thực trạng việc thực hiện BHYT tự nguyện ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

 Những nhân tố nào tác động đến ý định tham gia BHYT tự nguyện của các đốitượng? Thứ tự quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham giaBHYT tự nguyện của các đối tượng như thế nào? Ở mức ý nghĩa ra sao?

 Giải pháp để cải thiện số lượng người tham gia BHYT tự nguyện ở Việt Namtrong thời kỳ kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ đầy chuyển biến như hiệnnay

4 Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của để tài là người dân Việt Nam thuộc đối tượng tham giaBHYT tự nguyện

5 Phạm vi nghiên cứu

 Về vị trí địa lý: Việt Nam

 Về thời gian nghiên cứu: Tháng 11 năm 2020 đến tháng 04 năm 2021

6 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, nhóm nghiên cứu sử dụng phương phápnghiên cứu định lượng

 Phương pháp thu thập số liệu: Các số liệu được đưa ra trong nghiên cứu đượclấy từ các tài liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu khoa học được thựchiện trước thời điểm nhóm tiến hành nghiên cứu, các bảng hỏi phục vụ nghiêncứu, trong đó bao gồm các số liệu sơ cấp và thứ cấp

 Phương pháp phân tích số liệu:

- Nhóm sử dụng công cụ thống kê SPSS bản … (Statistical Package for theSocial Sciences) Đây là một chương trình máy tính phục vụ công tác phân tíchthống kê công cụ này hỗ trợ xử lý và phân tích dữ liệu sơ cấp – các thông tin mànhóm nghiên cứu thu thập được từ các đối tượng thông qua các phiếu điều trađược khảo sat trên địa bàn thuộc phạm vi nghiên cứu Cấu trúc của công cụthống kê gồm các bước:

+ Phân tích thống kê mô tả để tìm ra đặc điểm của mẫu nghiên cứu

+ Tiếp tục kiểm định Cronbach’s Alpha để xác định độ tin cậy của thangđo

+ Phân tích nhân tố khám phá EFA để loại bỏ những biến quan sát khônghợp

Trang 7

mỗi tiêu chí số liệu.

- Kết luận: Dựa vào kết quả phân tích số liệu, đưa ra kết luận về sự ảnh hưởngcủa các nhân tố đến ý định tham gia BHYT tự nguyện ở Việt Nam

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tàibao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kiến nghị và giải pháp

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.1 Những công trình nghiên cứu trong nước

Vào năm 2018, tác giả Nguyễn Thanh Hải đã trình bày nghiên cứu của mình

trong luận văn thạc sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội với đề tài “Quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” Luận văn đã trình bày

những lý luận của quản lý nhà nước về BHYT tự nguyện, bao gồm các khái niệm vềBHYT, BHYT tự nguyện và các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHYTTN Tácgiả đã sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu, báocáo chuyên môn của chính quyền địa phương và phương pháp quan sát thực tế để đánhgiá thực trạng BBHYTTN ở Đà Nẵng trong giai đoạn 2013 – 2017 Khi nghiên cứu vềbối cảnh địa lý, kinh tế và xã hội của thành phố Đà Nẵng, tác giả nêu rất rõ nhữngthuận lợi và khó khăn nhất định cho việc thực hiện BHYTTN của thành phố này Vớilợi thế là một thành phố trực thuộc trung ương, thành phố Đà Nẵng có mật độ dân cưtập trung đông đúc nên việc mở rộng độ bao phủ BHYTTN đã tiến triển khá tốt Bêncạnh đó, sự phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế như gia tăng cơ sở KCB,giường bệnh, đội ngũ y, bác sĩ của thành phố cũng được đánh giá cao Luận văn cũng

đã cho thấy nhận thức của một số bộ phận người dân về BHYTTN còn chưa đúng đắnhơn nữa công tác tuyên truyền còn tồn tại nhiều bất cập nên thành phố Đà Nẵng chưađạt được những con số ấn tượng về số lượng người dân tham gia BHYTTN Tuynhiên, nội dung luận văn mới chỉ đề cấp đến khía cạnh quản lý nhà nước về BHYTTNtrong khi chưa thể hiện được sâu sắc hơn về những ý định tham gia của người dân.Đồng thời, quy mô nghiên cứu của công trình này còn giới hạn ở thành phố Đà Nẵngnên chưa đại diện cho những ý kiến về ý định tham gia BHYTTN của mọi người dântrên toàn quốc

Trang 9

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Đan Thương trong luận văn thạc sĩ tại

Trường Đại học Trà Vinh năm 2015 về đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của các đối tượng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” đã tìm ra

được mô hình 10 nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT Đó là: Mức phí BHYT;

Cơ sở vật chất phục vụ cho khám và điều trị bệnh BHYT; Chất lượng khám và điều trịbệnh theo chế độ BHYT; Thái độ phục vụ, đối xử của nhân viên y tế và y bác sỹ; Thủtục hành chính trong KCB BHYT; Thủ tục mua BHYT và thanh toán phí KCB BHYT;Thu nhập, mức sống của người dân; Hiểu biết về BHYT; Tình trạng sức khoẻ Tác giả

đã thực hiện điều tra khảo sát 460 hộ gia đình và phân tích dữ liệu bằng hồi quy BinaryLogistics cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của các đối tượngtrên địa bàn tỉnh Trà Vinh Đồng thời, đề tài đã đưa ra 3 giải pháp định tính và 7 giảipháp định lượng nhằm gia tăng số người tham gia BHYT trên địa bàn, tiến tới hoànthành mục tiêu BHYT toàn dân như kế hoạch đã đề ra Tuy vậy, đề tài mới chỉ nghiêncứu về BHYT toàn dân nói chung mà chưa đi sâu vào nghiên cứu về BHYTTN Bêncạnh đó, phạm vi nghiên cứu của tác giả còn tập trung ở khu vực tỉnh Trà Vinh, nênchưa đủ sức khái quát cho sự quan tâm đến BHYTTN của người dân trên toàn quốc

Năm 2020, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Thanh đưa ra báo cáo NCKH “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre” Dựa trên cơ sở lý thuyết về BHYT tác giả sử dụng số liệu

khảo sát 325 hộ gia đình tại huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre và vận dụng các phươngpháp phân tích là Kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố EFA, mô hình hồiqui Binary Logistics để từ đó đưa ra kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết địnhtham gia BHYTTN trên địa bàn huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre và kiến nghị một sốgiải giáp Tuy nhiên, công trình nền nghiên cứu về quyết định tham gia của người dânchứ không phải ý định Hơn nữa phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong địa bàn huyệnChợ Lách tỉnh Bến Tre nên kết quả nghiên cứu chưa đủ để đại diện trên phạm vi toànquốc

Vào năm 2017, tác giả Nguyễn Thị Thúy Liễu đã trình bày nghiên cứu của mình

trong bản báo cáo mang tên “Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2015-2020” được đăng tải trên trang

chủ Bảo hiểm xã hội Việt Nam baohiemxahoi.gov.vn Mở đầu bài viết, tác giả đã cho

Trang 10

người đọc cái nhìn tổng quát về những vấn đề cơ bản đối với phát triển đối tượng thamgia bảo hiểm y tế hộ gia đình và thực trạng đang diễn ra trên địa bàn tỉnh Hà Nam.Bằng việc giới thiệu vị trí địa lý, diện tích tự nhiên cũng như mô hình kinh doanh chủđạo kết hợp với các số liệu về tổng số hộ gia đình, độ bao phủ của BHYT trên địa bànhay đánh giá của người dân về thủ tục tham gia, tác giả đã có những gợi ý về các giảipháp để phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế cũng như xây dựng kế hoạch thíđiểm một cách rất cụ thể và có lộ trịch rõ ràng Mặc dù đề tài nghiên cứu rất thiết thực,tuy nhiên tác giả Nguyễn Thị Thúy Liễu lại mới chỉ đề cập đến loại bảo hiểm y tế theo

hộ gia đình, địa bàn nghiên cứu bị giới hạn trong phạm vi tỉnh Hà Nam chứ chưa xétđến loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện – một loại hình bảo hiểm y tế đang rất có tiềmnăng phát triển hiện nay Ngoài ra, tác giả cũng chưa tập trung phân tích về các nhân

tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế để có thể có cái nhìn đa chiều hơn vềviệc phát triển đối tượng tham gia trên địa bàn

Trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Giải pháp thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” được thực hiện năm 2016, tác giả

Nguyễn Thị Lan Anh trước tiên đã đưa ra khung lý thuyết thực hiện bảo hiểm y tế tựnguyện tại cấp quận, sau đó liên hệ thực tế với thực trạng triển khai bảo hiểm y tế tựnguyện tại quận Ba Đình giai đoạn 2011-2015 về cơ quan BHXH, hệ thống chính sách

và người dân Từ những phân tích đã thực hiện, tác giả rút ra những đánh giá chung vềkết quả đạt được cũng như những hạn chế của tình hình thực hiện BHYT tự nguyện tạiquận Ba Đình Cuối cùng, tác giả đưa ra những định hướng và mục tiêu cũng như kiếnnghị và giải pháp trong việc thực hiện BHYT tự nguyện tại quận Ba Đình, thành phố

Hà Nội Tuy nhiên, tác giả chỉ mới tập trung nghiên cứu ở địa bàn tương đối hẹp, cũngnhư chỉ đào sâu nghiên cứu thực trạng chứ chưa phản ánh được những nhân tố ảnhhưởng đến ý định tham gia BHYT tự nguyện

Báo cáo nghiên cứu khoa học của đề tài “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình” của tác giả Vũ Ngọc Huyên và Nguyễn Văn

Song in trên tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 12, số 6, năm 2014 thông qua số liệu

và phân tích đã khái quát thực trạng, nhu cầu và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến sựtham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình bao gồm độ tuổi, thunhập, trình độ hiểu biết chính sách bảo hiểm, ảnh hưởng của các nhóm yếu tố khác

Trang 11

như cơ sở hạ tầng KCB còn kém, chất lượng thuốc không đảm bảo, thủ tục hành chínhkhi chuyển tuyến điều trị còn khó khăn Từ những nghiên cứu trên, tác giả cũng đưa ramột số giải pháp tăng cường sự tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân ở tỉnhThái Bình Tuy vậy, nghiên cứu mới chỉ tập trung vào đối tượng là nông dân và chỉnằm trong địa bàn tỉnh Thái Bình nên chưa có tính bao quát cao.

Trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà Tĩnh”, tác giả Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban đã

khái quát tình hình tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà Tĩnh thông qua

số lượng người tham gia và số thu BHYT tự nguyện, sau đó đưa ra những chi tiết vềthực trạng tham gia BHYT tự nguyện của người dân qua tình hình mua/sở hữu thẻBHYT tự nguyện, thực trạng sử dụng thẻ BHYT tự nguyện, lí do không tham gia/tiếptục tham gia BHYT tự nguyện của người dân và ý kiến của người dân về giải phápthúc đẩy tham gia BHYT tự nguyện Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp thúc đẩy sựtham gia BHYT TN của người dân ở thành phố Hà Tĩnh Tuy vậy, đề tài này chỉ tậptrung vào người dân ở thành phố Hà Tĩnh, chưa mở rộng phạm vi ra toàn Việt Nam.Năm 2017, nhóm tác giả Lê Cảnh Bích Thơ, Võ Văn Tuấn, Trương Thị Thanh

Tâm đã trình bày nghiên cứu của mình về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYTTN của người dân thành phố Cần Thơ” được đăng trong Tạp chí Khoa

học Trường Đại học Cần Thơ, tập 48, phần D: 20-25 Mở đầu bài viết, nhóm tác giả đãcho người đọc cái nhìn tổng quát về những vấn đề cơ bản đối với BHYT nói chung và

sự cần thiết của BHYTTN nói riêng xét trên địa bàn thành phố Cần Thơ Bằng việctiếp cận và thu thập số liệu về tỷ lệ tham gia BHYT của người dân theo quận/huyệncủa TP Cần Thơ, các tác giả đã có những kết luận về tình hình tham gia BHYTTN củangười dân thành phố Cần Thơ và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua củangười dân Cũng như kết quả của mô hình ước lượng Probit, nghiên cứu đã chỉ ra cácnhân tố sức khỏe, trình độ, tuyên truyền, giới tính, số lần khám chữa bệnh là nhữngnhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua BHYTTN Mặc dù đề tài nghiêncứu rất thiết thực, tuy nhiên nhóm tác giả lại mới chỉ đề cập đến BHYTTN xét trên địabàn nghiên cứu bị giới hạn trong phạm vi thành phố Cần Thơ Ngoài ra, tác giả cũngchưa tập trung phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYTTN để

có thể có cái nhìn đa chiều hơn về việc phát triển đối tượng tham gia trên địa bàn

Trang 12

Ngoài ra còn một số công trình khoa học nghiên cứu về BHXH tự nguyện – hìnhthức bảo hiểm phi kinh doanh có nhiều nét tương đồng với BHYTTN như: báo cáoNCKH được đăng tải trên trang web chính thức của BHXH Việt Nam của tác giả Hồ

Phương về “Giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXHTN khu vực phi chính thức ở địa bàn tỉnh Phú Yên”; báo cáo NCKH “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” trên tạp chí khoa học Đại Học Cửu Long, chuyên đề Kinh tế - tài chính, số 19

năm 2020 của Ngô Minh Thắng; đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Thu Thuỷ

và Bùi Hoàng Minh Thư về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân: trường hợp địa bàn tỉnh Phú Yên” trong Tạp chí Phát triển

Khoa học và Công nghê, Chuyên san Kinh tế - Luật và Quản lý, tập 2, số 4, 2018;nghiên cứu vào năm 2014 của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ,

Hồ Huy Tựu trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, tập 30, số 1

về đề tài “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXHTN của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An”; đề tài “Thực trạng tham gia BHXHTN của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” của hai tác giả phạm Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Song được đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển

2014, tập 12, số 5: 787-795; … Các công trình trên đều tập trung vào phân tích thựctrạng tham gia BHXHTN của các nhóm đối tượng cụ thể, từ đó đưa ra mô hình nghiêncứu các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia loại hình bảo hiểm này, đồng thời phântích rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Dựa vào kết quả nghiên cứu, các tác giả,nhóm tác giả đã đề ra các giải pháp để phát triển đối tượng tham gia BHXHTN Tuy

có nhiều nghiên cứu nhưng mới chỉ dừng lại ở chủ đề BHXHTN chưa đề cập tớiBHYT tự nguyện Bên cạnh đó, các công trình đều nghiên cứu ở địa bàn các tỉnh ởViệt Nam như: Vĩnh Phúc, Nghệ An, Phú Yên, Vĩnh Long và các nhóm đối tượng cụthể:người buôn bán nhỏ lẻ, nông dân Do phạm vi nghiên cứu còn hẹp nên chưa đủphản ánh toàn diện ý kiến của toàn dân về các hình thức bảo hiểm nhà nước nói chung

và BHYT tự nguyện nói riêng

1.2 Những công trình nghiên cứu nước ngoài

Trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng và khả năng chi trả cho bảo hiểm y tế xã hội ở Nigeria” của nhóm tác giả

Trang 13

Yewande Kofoworola Ogundeji, Babatunde Akomolafe, Kelechi Ohiri, Nuhu NatieButawa (2019) đề cập đến chương trình BHYT do nhà nước đóng góp mới được triểnkhai ở Nigeria Bài báo cáo đã đưa ra những hạn chế của các chương trình BHYTXHtrước đó và giới thiệu về chương trình BHYTXH mới ở Nigeria Nhóm tác giả đã sửdụng mô hình kinh tế các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng và khả năng chi trảcủa hộ gia đình cho chương trình mới này để từ đó đưa ra một vài kiến nghị để triểnkhai thành công chương trình BHYTXH mới này Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứucủa công trình chỉ giới hạn trong các hộ gia đình ở Nigeria nên chưa hoàn toàn phùhợp khi nghiên cứu về ý định tham gia BHYTN của người dân trên phạm vi Việt Nam.Nhóm tác giả David Mark Dror, S A Shahed Hosain, Atanu Majumdar, TraceyLynn Pérez Koehimoos, Denny John, Pradeep Kumar Panda đã thực hiện đề tài nghiên

cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế cộng đồng

ở các nước có thu nhập trung bình thấp” vào năm 2016 Trong báo cáo của đề tài

này, thông qua việc phân tích các số liệu đã thu thập được, nhóm tác giả đã đưa ranhững nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế cộng đồng (CBHI) củangười dân tại các nước có thu nhập trung bình - thấp, từ đó rút ra kết luận và đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế cộng đồng (CBHI) ở cácnước này Tuy vậy, do phạm vi nghiên cứu và thu thập số liệu quá rộng, cùng với sựkhác biệt giữa các nước, kết quả của đề tài nghiên cứu này dù có vẻ tương đồng nhưngvẫn chưa thể phản ánh được hoàn toàn thực trạng, ý định tham gia BHYT tự nguyệncủa người dân ở Việt Nam

Trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Bảo hiểm y tế ở Việt Nam hướng tới độ bao phủ toàn dân: Trường hợp của người lao động khu vực phi chính thức” được

xuất bản năm 2011, nhóm tác giả Paulette Castel, Trần Mai Oanh, Trần Ngô Thị MinhTâm, Vũ Hoàng Đạt trước tiên đã làm rõ các đặc điểm thể chế và động thái tham giabảo hiểm y tế tự nguyện của những người không phải là sinh viên, tiếp theo bản báocáo đã trình bày khách quan những bằng chứng thống kê về hồ sơ của người lao độngtrong khu vực phi chính thức Cuối cùng, nghiên cứu đề cập các phát hiện và đề xuấtmột số hàm ý chính sách Ở đây, nhóm tác giả đã có 2 phát hiện đáng chú ý Đầu tiên,

có thể dễ dàng mở rộng phạm vi bảo hiểm thông qua đăng ký kinh doanh và nhân viên.Thứ hai, những người lao động trong khu vực phi chính thức có xu hướng tham gia

Trang 14

nhiều hơn vào những khu vực nơi việc thực hiện bảo hiểm y tế hướng đến khách hàngnhiều hơn Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả đã đề cập đến loại hình bảo hiểm y

tế tự nguyện – một loại hình bảo hiểm đang cần được quan tâm hiện nay, tuy nhiên đốitượng nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở nhóm người lao động trong khu vực phi chínhthức chứ chưa xét đến toàn bộ đối tượng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Hơn nữa nhómtác giả chưa nêu được các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế tựnguyện – một phạm trù cần phải làm rõ để có một cái nhìn khách quan, rõ ràng hơn vềviệc tăng độ bao phủ của BHYTTN

Vào tháng 1 năm 2018, báo cáo nghiên cứu khoa học “Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu bảo hiểm y tế ở Uganda” của tác giả Richard Ssempala đã được đăng tải

trên tạp chí SSRN Electronic Mở đầu bài viết, tác giả đã cung cấp thông tin về chươngtrình BHYT nhà nước và tư nhân ở Uganda cũng như độ bao phủ của 2 loại hình này.Tuy nhiên, một điều đáng lo ngại ở Uganda là chi phí chăm sóc y tế ngày càng leothang, trong khi nguồn thu từ thuế để tài trợ cho chăm sóc sức khỏe cộng động vẫnđược duy trì ở mức không thỏa đáng Vậy nên, mục đích của cuộc nghiên cứu nàynhằm đề xuất các giải pháp thúc đẩy người dân tiếp cận với dịch vụ BHYT để giảmbớt gánh nặng về chi phí khám chữa bệnh cho người dân Để làm được điều này, tácgiả Richard Ssempala đã phân tích mô hình 7 nhân tổ ảnh hưởng đến nhu cầu tham giabảo hiểm y tế, bao gồm: sự giàu có, giáo dục, nơi cư trú, tuổi tác, tình trạng sức khỏe,khả năng tiếp cận thông tin và tình trạng hôn nhân Bằng việc sử dụng phương phápphân tích đơn biến, phân tích Bivariate, kiểm tra chẩn đoán mô hình Probit, phân tíchtương quan và yếu tố lạm phát phương sai (VIF), nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố sựgiàu có, mức độ giáo dục, tiếp cận thông tin và nơi cư trú là những nhân tố có ảnhhưởng đáng kể đến nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế Điểm tích cực của nghiên cứu đó

là đã phân tích về nhu cầu tham gia BHYTTN, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu là đấtnước Uganda – một đất nước ở châu Phi, có vị trí địa lí cách xa Việt Nam hàng nghìnkilomet Mặt khác, các yếu tố về kinh tế, nhân khẩu học, trình độ văn hóa của côngdân hai nước cũng khác nhau nên đây chỉ là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về ýđịnh tham gia BHYTTN của người dân trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới và các côngtrình nghiên cứu khoa học, có nhiều lý thuyết được nghiên cứu và công bố để giảithích cho hành vi mua của người tiêu dùng Trong đó về ý định thực hiện hành vi có

Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Fishbein và Ajzen,1975) Nội dung cụ thể của Lýthuyết hành động hợp lý được thể hiện như sau:

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi được hoạch định

Nguồn: Fishbein và Ajzen,1975

Học thuyết hành động hợp lý (TRA) đã được phát triển bởi hai nhà tâm lý họcMartin Fishbein và Icek Ajzen, học thuyết này bắt nguồn từ những nghiên cứu trướcđây về tâm lý học xã hội, các mô hình về sự thuyết phục và các lý thuyết về thái độ.Mục đích chính của TRA là tìm hiểu hành vi tự nguyện của một cá nhân bằngcách kiểm tra động lực cơ bản tiềm ẩn của cá nhân đó để thực hiện một hành động.TRA cho rằng ý định thực hiện hành vi của một người là yếu tố dự đoán chính về việc

Trang 16

họ có thực sự thực hiện hành vi đó hay không Ngoài ra, các quy tắc xã hội cũng gópphần vào việc người đó có thực sự thực hiện hành vi hay không Theo lý thuyết, ý địnhthực hiện một hành vi nhất định có trước hành vi thực tế Ý định này được gọi là ýđịnh hành vi và là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó sẽ dẫn đến mộtkết quả cụ thể Ý định hành vi rất quan trọng đối với lý thuyết TRA bởi vì những ýđịnh này "được xác định bởi thái độ đối với các hành vi và chuẩn chủ quan" Thuyếthành động hợp lý cho thấy rằng ý định càng mạnh mẽ càng làm tăng động lực thựchiện hành vi, điều này dẫn đến làm tăng khả năng hành vi được thực hiện

Các thành phần trong mô hình TRA bao gồm:

 Thái độ đối với hành vi: Theo thuyết hành động hợp lý, thái độ là một trongnhững yếu tố quan trọng quyết định ý định hành vi và đề cập đến cách mà một ngườicảm nhận đối với một hành vi cụ thể Những thái độ này bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố:sức mạnh của niềm tin về kết quả của hành vi được thực hiện (nghĩa là kết quả có thểxảy ra hay không) và đánh giá kết quả tiềm năng (nghĩa là kết quả có khả quan haykhông) Thái độ đối với một hành vi nhất định có thể là tích cực, tiêu cực hoặc trungtính

 Chuẩn chủ quan: Các chuẩn chủ quan cũng là một trong những yếu tố chínhquyết định ý định hành vi và đề cập đến nhận thức của các cá nhân hoặc các nhómngười có liên quan như thành viên gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, … có thể ảnhhưởng đến việc thực hiện hành vi của một người Ajzen định nghĩa các chuẩn chủquan là "nhận thức được các áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi".Theo TRA, mọi người phát triển một số niềm tin hoặc niềm tin chuẩn mực về việc liệumột số hành vi nhất định có được chấp nhận hay không Những niềm tin này định hìnhnhận thức của một người về hành vi và xác định ý định thực hiện hoặc không thựchiện hành vi của một người Tuy nhiên, các chuẩn chủ quan cũng sẽ thay đổi tùy theotình huống và động lực của từng cá nhân, các cá nhân có thể hoặc không tuân thủ theocác quy tắc chung của xã hội

 Ý định hành vi: là một thành phần được tạo nên từ cả thái độ và chuẩn chủ quanđối với hành vi đó; có thể hiểu rằng ý định hành vi đo lường khả năng chủ quan củađối tượng sẽ thực hiện một hành vi, được xem như một trường hợp đặc biệt của niềmtin, được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ

Trang 17

quan Tuy nhiên, thái độ và chuẩn chủ quan dường như không cân bằng như nhautrong việc dự đoán hành vi Tùy thuộc vào từng cá nhân và tình huống, các yếu tố này

có thể có tác động theo một mức độ khác nhau đến ý định hành vi

 Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng được quyết định bởi ýđịnh hành vi Theo thuyết hành động hợp lý (TRA), hành vi phải được xác định rõràng theo bốn khái niệm: hành động, mục tiêu, bối cảnh và thời gian Thuyết này chorằng ý định hành vi là động lực chính của hành vi, trong khi hai yếu tố quyết địnhchính đối với ý định hành vi là thái độ và chuẩn chủ quan của con người Bằng cáchkiểm tra thái độ và chuẩn chủ quan, các nhà nghiên cứu có thể hiểu được liệu một cánhân có thực hiện hành động dự định hay không

2.2 Lí thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) (trong đó có mô hình TPB)

Thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), tác giả cho rằng ý định thực hiện hành

vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan

và nhận thức về kiểm soát hành vi

Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển từ Lý thuyết hành vi hợp lý(TRA) (Ajzen và Fishbein, 1975), lý thuyết này được tạo ra nhằm khắc phục sự hạnchế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do lý tríkiểm soát

Nội dung cụ thể của Lý thuyết hành vi được hoạch định như sau:

Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi được hoạch định

Nguồn: Ajzen, 1991

Trang 18

Tương tự như lý thuyết TRA, nhân tố trung tâm trong lý thuyết hành vi có kếhoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định Theo TPB, “ýđịnh hành vi” của khách hàng bị tác động bởi “thái độ”, “chuẩn mực chủ quan” và

“nhận thức kiểm soát hành vi” Trong đó nhân tố “nhận thức kiểm soát hành vi” đượcAjzen thêm vào khi phát triển TPB từ TRA “Nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánhviệc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có củacác nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi

TBP đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu đặc biệt là vớimục đích dự đoán ý định sử dụng và hành vi cụ thể của các cá nhân Năm 2013,Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu đã sử dụng TPB để thực hiện

đề tài nghiên cứu “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xãhội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” Năm 2019, HồPhương đã ứng dụng TPB để thực hiện đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển đốitượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức trên địa bàn tỉnhPhú Yên” Năm 2019, Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Thị Sinh đã sử dụng TPBtrong đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tựnguyện của người lao động trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

Bên cạnh đó, theo Ajzen (1991), mô hình TPB có thể được bổ sung bằng cáchđưa thêm vào đó các nhân tốt mới ảnh hưởng đến ý định hành vi, miễn là các nhân tốmới đó có đóng góp một phần vào việc giải thích cho ý định hành vi Do đó, chúng em

sử dụng TPB làm cơ sở lý luận và kiểm định một phần mô hình của lý thuyết tại ViệtNam Đồng thời đưa vào một số nhân tốt phù hợp với điều kiện Việt Nam để kiểmđịnh khả năng giải thích cho ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam

2.3 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng

2.3.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng

Hành vi người tiêu dùng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Hiệphội Marketing Hoa Kỳ (American marketing association), hành vi người tiêu dùng là

sự tương tác không ngừng biến đổi giữa sự ảnh hưởng và nhận thức, hành vi và cácyếu tố môi trường thông qua đó con người thực hiện hành vi trao đổi Hay Solomon,Michael R (Consumer Behavior – Buying, Having, and Being-Pearson 2017) lại đưa ra

Trang 19

quan điểm rằng đó là nghiên cứu các quy trình liên quan khi các cá nhân hoặc nhómchọn, mua, sử dụng hoặc từ bỏ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, trải nghiệm để đáp ứngnhu cầu và mong muốn của họ Nhóm tác giả cuốn Consumer Behavior 1993 (James

F Engel, Roger D Blackwell, Paul W.Miniard) lại cho rằng hành vi người tiêu dùng

là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp đến quá trình tìm kiếm, thu thập, muasắm, sở hữu, sử dụng và loại bỏ sản phẩm/ dịch vụ, bao gồm cả quy trình ra quyết địnhdiễn ra trước, trong và sau các hành đồng trên

Từ đó có thể hiểu rằng: “Hành vi người tiêu dùng bao gồm tất cả các hoạt độngliên quan đến việc mua hàng, sử dụng và ngưng sử dụng của các sản phẩm hàng hóa,dịch vụ Hành vi người tiêu dùng bao gồm các phản ứng và thái độ về cảm xúc, tinhthần và hành vi tiêu dùng của khách hàng đã sử dụng trước đó trong lĩnh vực sản phẩmhàng hóa, dịch vụ này”

Hành vi người tiêu dùng có thể được coi là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thựchiện để đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức,

…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu

cá nhân

2.3.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng

Hình 2.3: Mô hình hành vi của người tiêu dùng

Nguồn: Trần Minh Đạo, 2013

Mô hình hành vi người tiêu dùng được mô tả qua 5 giai đoạn chính:

 Nhận biết nhu cầu: là bước đầu tiên mà khách hàng trải qua, đó chính là sự khácbiệt giữa hiện trạng và mong muốn của khách hàng mà sự khác biệt này đủ lớn để tácđộng đến khách hàng trong việc mua sắm Trong giai đoạn này, người tiêu dùng nhậnthức được vấn đề, nhu cầu đối với một loại sản phẩm nào đó

 Tìm kiếm thông tin: Những nguồn thông tin khác nhau cung cấp cho người tiêudùng sự hiểu biết về sản phẩm đó, để làm rõ lựa chọn mà người tiêu dùng được cungcấp Quá trình đó bao gồm tìm kiếm thông tin bên trong là những nguồn thông tin làm

Trang 20

khơi dậy tiềm thức, kinh nghiệm hoặc hiểu biết đã có trước đây về sản phẩm Ngoài racòn có tìm kiếm thông tin bên ngoài là những thông tin về đặc điểm thị trường, sảnphẩm và khách hàng Đó có thể là nguồn thông tin cá nhân từ người quen gia đình, bạn

bè, nguồn thông tin trên các trang báo, nguồn thông tin thương mại hay từ chính kinhnghiệm của bản thân mình

 Đánh giá các phương án: Người tiêu dùng sẽ sử dụng những tiêu chí đã lập ra

để đánh giá mức độ phù hợp hay hài lòng theo nhu cầu của mình đối với những thôngtin, phương án mà mình thu thập được Sản phẩm được lựa chọn sẽ là sản phẩm cónhững thuộc tính nổi trội theo sự đánh giá của người tiêu dùng

 Quyết định mua: Sau khi tìm kiếm sản phẩm, đánh giá các khả năng, người tiêudùng sẽ chọn những sản phẩm mà họ cho là tốt nhất, hợp lý nhất và tìm kiếm địa điểmmua, số lượng, loại sản phẩm Thông thường người tiêu dùng sẽ lựa chọn những cửahàng ở đó họ được thoải mái lựa chọn và giá trị người tiêu dùng nâng cao

 Hành vi mua: Hành vi của người tiêu dùng đối với việc có tiếp tục sử dụng haykhông sử dụng sản phẩm trong tương lai

2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng

Hình 2.4: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng

Nguồn: Trần Minh Đạo, 2013

 Nhân tố văn hóa:

- Nền văn hóa: Văn hoá là một trong những giá trị, đức tính, truyền thống, chuẩnmực và hành vi được hình thành gắn liền với một xã hội nhất định, và được tiến triển

từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá là nguyên nhân đầu tiên cơ bản quyết định nhucầu và hành vi của con người mạnh hơn bất kỳ một lập luận lôgic nào khác Những

Trang 21

điều cơ bản về giá trị, sự cảm thụ, sự ưa thích, tác phong, hành vi ứng xử mà chúng taquan sát được qua việc mua sắm hàng hoá đều chứa đựng bản sắc của văn hoá.

- Nhánh văn hóa: Nguồn gốc dân tộc, chủng tộc sắc tộc, tín ngưỡng, môi trường

tự nhiên, cách kiếm sống của con người gắn bó với nhánh văn hoá, một bộ phận nhỏcủa văn hoá luôn có ảnh hưởng sâu sắc tới sự quan tâm, đến cách đánh giá về giá trịcủa hàng hoá và sở thích Cách thức lựa chọn, mua sắm và sử dụng hàng hoá củanhững người thuộc nhánh hàng hoá khác nhau là khác nhau

- Sự giao lưu và biến đổi văn hoá: quá trình mà mỗi cá nhân sẽ tiếp thu các vănhoá khác để bổ sung và làm phong phú thêm cho văn hoá của mình nhằm khẳng địnhgiá trị văn hoá cốt lõi của họ được gọi là quá trình “hội nhập văn hoá” Các nền vănhoá luôn không ngừng tìm cách tồn tại trước những thay đổi của môi trường tự nhiên

và xã hội chính là quá trình biến đổi văn hoá Sự giao lưu và hội nhập văn hoá đồngnghĩa với việc hình thành, bổ sung một nề nếp mới, một phong cách sống mới, haymột tư tưởng, một quan niệm mới, hoặc có thể là sự thay đổi những giá trị không cònphù hợp trước những thay đổi của môi trường tự nhiên, xã hội, chính trị…

 Nhân tố xã hội:

- Giai tầng xã hội: Giai tầng xã hội hay còn được gọi là tầng lớp xã hội, là nhữngnhóm người được sắp xếp theo các tiêu chí nhất định (thứ bậc, đẳng cấp, quan điểmgiá trị, hành vi, …) Động thái tiêu thụ của khách hàng thường chịu ảnh hưởng mạnhbởi giai tầng mà họ là thành viên hay giai tầng mà họ trọng vọng Sự tồn tại những giaitầng xã hội là vấn đề tất yếu trong mọi xã hội và điều quan trọng nhất là những ngườicùng chung một giai tầng xã hội sẽ có khuynh hướng xử sự giống nhau trong việc lựachọn những hàng hoá dịch vụ mà họ cần mua để thoả mãn nhu cầu

- Nhóm tham khảo: Nhóm tham khảo được hình thành từ tập hợp một số người

có ảnh hưởng đến hành vi cá nhân Mỗi nhóm sẽ phát triển những giá trị và tiêu chuẩnriêng về động thái mà sẽ được coi như những hướng dẫn, tham chiếu cho cá nhân cácthành viên trong nhóm Các nhóm tham khảo thường là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,hàng xóm; vốn có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi của các cá nhân thành viên Sự ảnhhưởng của nhóm tham khảo còn được tăng cường trong những quyết định mua sắmsản phẩm cũng như lựa chọn nhãn hiệu cụ thể

Trang 22

- Gia đình: Gia đình của người mua được coi là yếu tố có ảnh hưởng mạnh tớihành vi mua vì sự biến động của nhu cầu hàng hoá luôn gắn liền với sự hình thành vàbiến động của gia đình và những quyết định mua sắm của những cá nhân luôn chịu ảnhhưởng của các cá nhân khác trong gia đình.

- Vai trò và địa vị xã hội: Cá nhân là thành viên trong nhiều nhóm xã hội khácnhau, vị trí của cá nhân trong mỗi nhóm được quyết định bởi vai trò và địa vị của họ.Mỗi vai trò có một địa vị nhất định phản ánh sự kính trọng mà xã hội đánh giá về họ.Mọi cá nhân trong đời sống xã hội đều có nhu cầu thể hiện vai trò và địa vị xã hội củamình Vì thế, người tiêu dùng thường giành sự ưu tiên khi mua sắm những hàng hoá,dịch vụ phản ánh vai trò địa vị của họ trong xã hội

 Nhân tố cá nhân:

- Tuổi và đường đời: Người tiêu dùng có những nhu cầu, thị hiếu về các loạihàng hoá, dịch vụ gắn liền với tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia đình của họ.Nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của con người thay đổi theo độ tuổi (tuổi vị thànhniên, tuổi trưởng thành, tuổi già)

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến hành vi mua của khách hàng,khách hàng có nghề nghiệp khác nhau sẽ có hành vi mua hàng khác nhau

- Hoàn cảnh kinh tế: Tình trạng kinh tế có ảnh hưởng đến việc quyết định chi tiêuhàng hoá, dịch vụ của người tiêu dùng Việc tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào mức thunhập của cá nhân Khi ngân sách tiêu dùng cá nhân càng cao thì xu hướng tiêu dùngsản phẩm, dịch vụ càng nhiều và ngược lại

- Nhân cách, cá tính: Nhân cách hay cá tính là những đặc tính tâm lý nổi bật củamỗi người tạo nên các hành vi ứng xử mang tính ổn định và nhất quán đối với môitrường xung quanh Nhân cách thường thể hiện qua các đặc tính như: tính thận trọng,tính tự tin, tính hiếu thắng, tính khiêm nhường, tính năng động, tính bảo thủ, …

- Lối sống: Lối sống hay phong cách sống là một phác hoạ rõ nét về chân dungcủa một con người mà trong đó hành vi của con người thể hiện qua hành động, sựquan tâm và quan điểm của người đó trong môi trường sống Lối sống của mỗi ngườiđều mang sắc thái riêng và nó gắn liền với các yếu tố xã hội, văn hoá, nghề nghiệp,tình trạng kinh tế và hoàn cảnh gia đình Vì thế, lối sống ảnh hưởng hành vi và cáchthức ứng xử của người tiêu dùng đối với việc mua sản phẩm Lối sống có thể thay đổi

Trang 23

theo thời gian tuỳ vào những biến đổi của môi trường sống Theo đó, hành vi mua củangười tiêu dùng cũng sẽ thay đổi theo.

- Nhận thức: Nhận thức là quá trình con người chọn lọc, xử lý và giải thích thôngtin bằng các giác quan của mình (thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, …) và nhậnthức là khác nhau đối với mỗi người

 Nhân tố tâm lý:

- Động cơ: là nhu cầu thôi thúc bức thiết đến mức độ buộc con người phải hànhđộng để thoả mãn nó, việc thoả mãn nhu cầu sẽ làm giảm tình trạng căng thẳng bêntrong mà cá thể chịu đựng

- Tri giác: Tri giác là một quá trình thông qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức vàgiải thích thông tin đến để tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh Trigiác không chỉ phụ thuộc vào tính chất của các tác nhân kích thích vật lý, mà còn phụthuộc vào mối quan hệ của các tác nhân kích thích đó với môi trường xung quanh vàvới cá thể Con người có thể có những phản ứng khác nhau đối với cùng một tác nhânkích thích do tri giác có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn lọc Sự ghi nhớ có chọn lọc làviệc con người có khuynh hướng chỉ ghi nhớ lại những thông tin ủng hộ thái độ vàniềm tin của họ

- Kiến thức: Khi người ta hành động, họ đồng thời cũng lĩnh hội được nhữngkiến thức Kiến thức diễn tả những thay đổi trong hành vi của một người phát sinh từkinh nghiệm Kiến thức là những hiểu biết về đời sống xung quanh của con người, thuđược qua sự giáo dục và những trải nghiệm

- Niềm tin: là sự nhận định trong thâm tâm về một cái gì đó Từ những niềm tinnày hình thành nên những hình ảnh hàng hoá và nhãn hiệu, căn cứ vào những niềm tinnày con người hành động

- Thái độ: là sự đánh giá có ý thức những tình cảm, những xu hướng hành động

có tính chất tốt hay xấu về một khách thể hay một ý tưởng nào đó

- Thái độ đặt con người vào khung suy nghĩ thích hay không thích, cảm thấy gầngũi hay xa lánh một đối tượng hay một ý tưởng cụ thể nào đó Người mua sẽ tìm đếnnhãn hiệu mà họ có thái độ tốt khi động cơ xuất hiện Thái độ hình thành theo thờigian thông qua kinh nghiệm cá nhân và sự tiếp xúc xã hội và nó khá bền vững

2.4 Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm y tế

Trang 24

Quan niệm về bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đó ngườimua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khámchữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế tạo điềukiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phíkhám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế Để có thể đạt được điều này, bản thân các cơquan y tế cũng phải tham gia vào công tác bảo hiểm này Thường thì các cơ quan y tếcông lập bị yêu cầu phải tham gia Còn các cơ quan y tế tư nhân được khuyến khíchtham gia và họ có tham gia hay không là do tự họ quyết định

Mặc dù trên thế giới hệ thống BHYT chính thức ra đời vào thế kỷ XIX nhưngđịnh nghĩa về BHYT đã xuất hiện từ thế kỷ XVII Năm 1694, Chamberlen (1630-

1720) đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về BHYT, trong đó cho rằng: “Bảo hiểm y tế là hình thức chi trả chi phí y tế cho người được bảo hiểm tính trên rủi ro sức khỏe đã được thỏa thuận khi mua bảo hiểm và số tiền chi trả chi phí y tế phải cân đối với số phí bảo hiểm y tế mà những người tham gia bảo hiểm đóng góp”.

Tổ chức y tế thế giới WHO, cũng khẳng định vai trò quan trọng của BHYT trong

đời sống kinh tế xã hội trong tuyên bố Alma-Ata năm 1978 khi quan niệm “bảo hiểm

y tế là loại hình bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con người”.

Theo quan điểm của Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (Organization forEconomic Cooperation and Development – OECD), thì BHYT có thể được định nghĩanhư là một cách để phân phối các rủi ro tài chính liên quan tới sự thay đổi chi phíchăm sóc sức khỏe cá nhân bằng cách tổng hợp chi phí theo thời gian thông qua thanhtoán trước (OECD, 2004)

Cơ quan phát triển quốc tế Anh (Department for International Development –

DFID) cũng đưa ra định nghĩa cho BHYT: “BHYT là một cách để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí y tế cho các cá hân bởi chính phủ hoặc các tổ chức BHYT vì mục đích lợi nhuận hay không vì mục đích lợi nhuận Nó hỗ trợ những người tham gia bảo hiểm chi trả chi phí khám chữa bệnh khi gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật và hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh thường xuyên để đảm bảo nhu cầu của người mua bảo hiểm”.

Trang 25

Ở Việt Nam, BHYT được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong nhữngchính sách quan trọng, là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vàoviệc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Luật BHYT đã được Quốc hội thông qua ngày 14-11-2008 và có hiệulực từ ngày 1-7-2009 Ngày 13-6-2014, Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật BHYT, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2016 (xem Phụ lục 2).Theo Luật bảo hiểm Việt Nam quy định BHYT là một hình thức bảo hiểm trong lĩnhvực chăm sóc sức khỏe BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc BHYT được áp dụngtrên khắp các cơ quan y tế nhà nước, bệnh viện hay phòng khám Khi tham gia BHYT,người tham gia được hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, được chia sẻ viện phí khi ốm đau, thaisản, tai nạn, …

Theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014, BHYT làhình thức bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức thực hiện, được áp dụng đối với cácđối tượng do luật định để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận Như vậy,theo phương thức quản lý của Nhà nước thì hiện nay có 02 loại hình BHYT là BHYTbắt buộc và BHYT tự nguyện Trong đó, đối tượng bắt buộc tham gia BHYT gồm 6nhóm đối tượng được quy định tại Chương I Nghị định số 146/2018/NĐ-CP Do vậy,trừ các đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc thì mọi công dân Việt Nam đều đượctham gia BHYT tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế tự nguyện

Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận để mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh tật từ Quỹ bảo hiểm y tế Đây là hình thức bảo hiểm y tế mà người dân thường được tự

do trong việc lựa chọn về việc tham gia hay không tham gia hay không, mức hưởng bảo hiểm, mức đóng, … Những người chưa tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) theo diện bắt buộc đều có thể mua BHYT tự nguyện Từ khi Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung

2014 chính thức có hiệu lực, khái niệm về BHYT tự nguyện được thay bằng BHYT theo hộ gia đình

Quy định về đối tượng tham gia:

Ngày đăng: 31/03/2022, 20:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w