MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONGBỐI CẢNH HỘI NHẬP Tóm tắt: nhằm đảm bảo khả năng thích ứng của người học trước nhữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
GVGD: TS CAO THỊ CHÂU THỦY HVTH: TIÊU MINH SƠN
Trang 2MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Tóm tắt:
nhằm đảm bảo khả năng thích ứng của người học trước những thay đổi của thời đại làmột yêu cầu cấp thiết Thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm đổimới phương pháp dạy học môn kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Đại học Văn Lang từnăm 2019 – 2020
thiết kế nội dung, phương pháp tiếp cận, hình thức tổ
kết quả đầu ra hướng đến đáp ứng yêu cầu của các kỹ năng thế kỷ XXI và phù hợp vớiđặc điểm của người học thuộc thế hệ Z là những yếu tố quan trọng góp phần mang lạithành công cho chương trình
Từ khóa:
Abstract:
ensure the learners' adaptability to the changes of the times is an urgent requirement.Through document research and experimental methods to innovate teaching methods for soft skills for Van Lang University students from 2019-2020 The results showed that thede
organizational form, testing and evaluation based on the outcomes aimed at meeting there
Generation Z learners are important factors that contribute to the success of the program
Trang 3không ngừng trên tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mọi sự thànhcông đều phải xuất phát từ yếu tố con người, điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đápứng được yêu cầu trong thời
Những
những yêu cầu mới đối với công tác giáo dục, thay đổi cả triết lý giáo dục trong thế kỷXXI Việc giáo dục đơn thuần chỉ tập trung vào truyền đạt kiến thức không còn phù hợpnữa, thay vào đó, giáo dục cần tập trung phát triển những yếu tố “con người” mà máymóc không thể thay thế được, đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng thích nghi trước mọi thayđổi:
Giáo dục không thể thực hiện được chức năng truyền thống là truyền đạt lại khốikiến thức khổng lồ của nhân loại, mà chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, nềntảng, chủ yếu tập trung rèn luyện cho người học các kỹ năng như: tư duy, ngôn
ngữ, diễn đạt, khai thác và xử lý thông tin sau đó áp dụng, sử dụng có ích cácthông tin đó và trên cơ sở đó, biến thông tin thành tri thức (Nguyễn Đức Chính(2012)
Nghị quyết đại hội Đảng XII cũng đã coi đổi mới giáo
ba giải pháp có tính đột
lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Nghị quyết 29 của Chính phủ về “Đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học;khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cáchhọc, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổimới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổchức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiêncứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy
và học
Trang 4Chủ trương này đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo, pháttriển chương trình kỹ năng, đổi mới phương pháp dạy học Để đảm bảo chất lượng giảngdạy kỹ năng mềm ở các trường đại học, rất cần sự quan tâm, đầu tư ở tất cả các khâu củaquá trình giáo dục như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảngviên, triết lý giáo dục được vận dụng, mô hình áp dụng,…Bài tiểu luận sẽ tập trung đigiải quyết từng vấn đề ở
2
2.1
Theo Từ điển tiếng Việt:
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế
thể đưa ra khái niệm kỹ năng như sau:
về một hoặc nhiều khía cạnh được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh
nhân có được là do quá trình học tập và rèn luyện Kỹ năng bao gồm hai nhóm, đó là: Kỹnăng cứng và kỹ năng mềm (
Theo từ điển Giáo dục học:
động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó
là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ
Còn về khái niệm kỹ
KNM là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đếnviệc sử dụng ngôn ngữ
xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người Nói khác đi, đó là kỹ năng liênquan đến việc con người hòa mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác,nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng (
Nhà nghiên cứu N.J Pattri
KNM là khả năng, là cách thức chúng ta tiếp cận và phản ứng với môi trườngxung quanh, không phụ thuộc và trình độ chuyên môn và
phải
thuyết mà đó là khả năng thích nghi với môi trường và con người để tạo ra sự
Trang 5tương tác hiệu quả trên bình diện cá nhân và cả công việc (
2019)
Michal Pollick tiếp cận dưới góc nhìn KNM
KNM đề cập đến một con người có biểu hiện của EQ (Emotion IntelligenceQuotion), đó là những đặc điểm về tính cách, khả năng giao tiếp, ngôn ngữ, thóiquen cá nhân, sự thân hiện, sự
công việc (
Tác giả Giusoppe Giusti cho rằng, KNM là những biểu hiện cụ thể của năng lực hànhvi:
KNM là những biểu hiện cụ thể của năng lực hành vi, đặc biệt là những kỹ năng
cá nhân hay kỹ năng con người KNM thường gắn liền với những
cách cá nhân trong một tương tác cụ thể, đó là kỹ năng chuyên biệt rất “người”của con người (
Nguyễn Thị
chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc, những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mốiquan hệ với người khác
KNM là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc như: một sốnét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổimới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ năng làmviệc theo nhóm Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ vớingười khác Những kỹ năng này là thứ thường không được học trong nhà trường,không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải
là kỹ năng đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người KNM quyếtđịnh bạn là ai, làm việc thế
Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, 2010)
KNM giúp con người tự quản lý chính bản thân mình và tương tác với nhữngngười xung quanh để thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống KNMthường khó quy chuẩn, phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tương tác và khó có thể đođược KNM được sử dụng mọi lúc, mọi nơi và suốt đời Hơn nữa, theo mức độ thành đạt
Trang 6Nếu như khi làm việc
lại giúp chúng ta sử dụng kiến thức chuyên môn hiệu quả hơn KNM
chuyên môn và rất quan trọng trong môi trường làm việc Một người có thể có trình độchuyên môn cao, nhưng nếu không có KNM thì không thể “bán” ý tưởng của mình,không thể hòa hợp với mọi người hay hoàn thành công việc một cách thuyết phục và nhưthế thì không thể đi đến thành công (
KNM là những KN không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn mà thiên
về mặt tinh thần của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo cho
khác, nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện côngviệc một cách hiệu quả (Huỳnh Văn
Như vậy,
đối với thành công trong sự
Từ những quan niệm trên, bài viết đồng tình và sử dụng quan niệm sau: KNM
(Soft skills) là một thuật ngữ xã hội học dành cho cá nhân KNM bao gồm các đặc điểmtính cách, lòng biết ơn, sự giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, thói quen cá nhân, sự thân thiện
và sự lạc quan, khả năng đồng cảm với người khác, hay để giữ bình tĩnh dưới các áp lực.KNM là tổng hợp các kỹ năng giúp con người tư duy và tương tác với nhau KNM có vaitrò rất quan trọng đối với SV trong quá trình học tập, nghiên cứu và sinh hoạt ở môitrường đại học cũng như sau khi ra trường… (
2.2 Phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinh viên2.2.1 Tầm quan trọng của kỹ năng
Muốn thành công trong công việc và cuộc sống, con người cần được trang bị kiếnthức và rất nhiều kỹ năng Kỷ nguyên thông tin và tri thức hiện nay cũng đòi hỏi từngthành viên trong xã hội phải tự học suốt đời, trau dồi khả năng tư duy độc lập và thíchứng nhanh với những biến động thường xuyên, đa dạng, phức tạp của xã hội Để làmđược điều này, cần phải học tập và rèn luyện các KNM để có thể trở thành những conngười vừa có năng lực chuyên môn vừa có kỹ năng tốt KNM ngày càng được chứngminh có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại trong sự nghiệp và cuộc sống của một cánhân
Trang 7Khi đánh giá năng lực của người lao động, người sử dụng lao động cũng thườngcăn cứ vào các tiêu chí liên quan đến kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với công việc. Những
người rất hiệu quả Người có các KNM sẽ dẫn dắt được những người khác theo cùng mộthướng để đạt một mục đích
Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật như vậy, việc trang bị KNM để sinh viênsau khi ra trường tiếp tục tự nghiên cứu, tự học tập, tự rèn luyện kỹ năng chuyên môn vàthực hiện triết lý “học tập suốt đời”, “học để chung sống”, “học để làm việc” là vô cùngquan trọng Nó giúp sinh viên thường xuyên cập nhật được những thay đổi của khoa học,công nghệ, giúp sinh viên có đủ kỹ năng để xử lý mọi tình huống xảy ra trong quá trìnhlàm việc hàng ngày Được trang bị các
gia chủ động, tích cực hơn các hoạt động xã
tạo các hoạt động ngoại khóa, nâng cao kết quả học tập, biết cách thiết lập các mối quan
hệ thân thiện với mọi đối tượng, có nhiều hơn các cơ hội nghề nghiệp và chắc chắn rằng
sẽ giải quyết mọi vấn đề
Như
nghiệp trong tương lai, đặc biệt trong môi trường giáo dục phát triển về tự chủ, xã hộihóa giáo dục như Trường Đại
2.2.2 Mục tiêu chương trình
Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong tương lai
năng mềm được đưa vào giảng dạy tại Trường Đại học Văn Lang và trở thành một yêucầu của chuẩn đầu ra cho tất cả các chuyên ngành Theo chương trình đào định hướngứng dụng của từng Khoa/Bộ môn, sinh viên
kiến thức, kỹ năng và thái độ
ngữ thì sinh viên phải
mềm cho sinh viên là một trong những mục tiêu mà Trường Đại học Văn Lang đanghướng đến Chương trình đào tạo với các học phần tập trung vào 4 nhóm kỹ năng chínhnhư:
và Kỹ năng
Trang 8Chương trình đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên được Nhà trường giao đếnTrung tâm Phát triển Năng lực sinh viên thiết kế linh hoạt, gắn với thực tiễn theo địnhhướng ứng dụng; giúp sinh viên xác định được mục tiêu, động lực học tập đúng đắn, phùhợp Ví dụ như môn Kỹ năng Giao tiếp:
Về kiến thức:
kỹ năng để giao tiếp hiệu
+ Giới thiệu chung về lý
+ Thảo luận, giải đáp, thắc mắc, trao đổi,
+ Làm bài tập cá nhân
Qua đó, nâng cao kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, biết cách giải quyết vấn đềkhó khăn trong học tập và các lĩnh vực khác của cuộc sống Qua đó giúp sinh viên tự tinchuẩn bị được hồ sơ ấn tượng và trả lời phỏng vấn tìm việc bán thời gian hoặc toàn thời
này, được sinh viên và các nhà tuyển dụng ủng hộ và đánh giá cao Có thể thấy, hoạtđộng giảng dạy, đào tạo kỹ năng mềm phải xuất phát từ nhu cầu sinh viên và nhu cầu thịtrường lao động Sinh viên chỉ có thể tích cực tham gia học tập nếu những kiến thức và
kỹ năng mềm đó là có ích, cần thiết cho nghề nghiệp, cho tương lai của họ Chính kỹnăng mềm đã góp phần làm nên chất lượng giáo dục trong môi trường đại học Từ đó,hoàn chỉnh dần khả năng của sinh viên sau khi ra trường Sinh viên vừa tiếp cận đượckiến thức, vừa rèn luyện kỹ
Trang 92.2.3 Thiết kế nội dung chương trình đối với người dạy
Bên cạnh kỹ năng cứng là
công việc, ngành nghề nhất định; còn có kỹ năng mềm liên quan đến việc con người hòamình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng
tương tác, phát triển các quan hệ tốt giữa người với người Dần dần cũng được mở rộngsang các kỹ năng liên quan giúp cho giao tiếp hiệu quả và thành công trong công việcnhư thích ứng, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, ra quyết định, lãnhđạo (
đến sự nỗ lực, tự chủ, sáng tạo của bản thân rất cao gồm các năng lực thiên về nhóm cánhân đồng thời gồm cả những kỹ năng biết làm việc với người khác Điều này đòi hỏi cácnhà giáo dục hay thiết kế chương trình đào tạo các cấp, nhất là bậc đại học của thế kỷ 21không thể không quan tâm lồng ghép cả hai nhóm kỹ năng này như là điều kiện cần và
đủ, nhằm phát triển con người toàn diện, cân bằng và hài hòa (
Hà và cộng sự, 2020)
Giáo dục kỹ năng mềm là quá trình hình thành và phát triển cho người học các kỹnăng mềm cần thiết để đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác và công việc,nhằm duy trì tốt các mối quan hệ tích cực và hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệuquả thông qua những cách thức và nội dung
một quá trình đòi hỏi không chỉ chú trọng việc cung cấp nền tảng kiến thức mà quantrọng hơn là giáo dục các giá trị về mặt tinh thần, hình thành các hành vi tương ứng chongười học và phải được ứng dụng cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
hoạt động dạy học kỹ năng mềm tại trường đại học là sinh viên, là những công dân có độtuổi từ 18-25 đang học tập ở bậc đại học, có những đặc điểm: Năng động, nhạy cảm vàsẵn sàng tiếp thu cái mới; là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong các thế hệ thanh niên, là nơikết tinh nhiều tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao; là lớp người đanghình thành và khẳng định nhân cách, có xu hướng chung là tính tích cực, tính tự lập, độclập và nhu cầu tự khẳng
Trang 10Theo Marilyn N Norman và Joy C Jordan, chương trình phát triển kỹ năng mềmcho sinh viên nên chú ý các vấn đề sau: Các năng lực cần phù hợp với độ tuổi sinh viên;
Kỹ năng được học tốt nhất thông qua trải nghiệm, thực hành và khả năng củng cố thôngqua tình huống thực tế (
người lớn (Andragogy) của Malcolm Shepherd Knowles, sinh viên là những người trẻ đã
ở tuổi trưởng thành (18 tuổi
1) Người học cần được can dự vào quá trình lập kế hoạch và đánh giá kết quả họctập;
2) Trải nghiệm (gồm cả những sai sót) cung cấp nền tảng cho các hoạt động họctập;
3) Người học quan tâm đến những nội dung học có liên hệ trực tiếp tới công việchoặc trong đời tư của họ;
4) Học theo kiểu lấy vấn đề làm trung tâm (Problem-centered) hơn là hướng đếnnội dung (Content-oriented) (
trung hơn vào tiến trình, sự tương tác và thẩm thấu trực tiếp hơn là vào phát triển nộidung Những phương pháp giảng dạy tương tác và tích cực sẽ được sử dụng nhiều hơn,thông qua trải nghiệm thực tế, người học
2.2.4 Phương pháp tiếp cận chương trìnhGiảng dạy kỹ năng mềm khác
đòi hỏi người giảng viên phải có kiến thức chuyên môn, am hiểu tâm lý lứa tuổi, có kinhnghiệm và sự trải nghiệm thực tế Thêm nữa, hiện nay tại các Trường đại học trongchương trình đào tạo thường tích hợp kỹ năng mềm vào các môn học chính khóa đangđươc áp dụng triệt để ở hầu hết các học phần Việc tích hợp giúp cho người học có thểứng dụng các kỹ năng mềm được biết vào những hoạt động thực tế Qua đó, họ có thêmthời gian và hoạt động để hình thành kỹ năng một cách tốt nhất Ví dụ như: Kỹ năng làmviệc nhóm và thuyết trình, Kỹ năng Giao tiếp, Kỹ năng học đại học, Kỹ năng nghềnghiệp… Song hành với từng nội dung chính, sinh viên có thể vận dụng thêm những kỹnăng khác như: Kỹ năng Quản lý thời gian, Kỹ năng Đặt câu hỏi, Kỹ năng lắng nghe, Kỹnăng Tư duy phản biện, Tư duy logic, Kỹ năng lập kế hoạch, Kỹ năng xác định mụctiêu… Qua đó, các bạn sinh viên có thể vận dụng ngay các kỹ năng mềm đó trong việc
Trang 11tiếp thu kiến thức của từng học phần Các bạn chuyển từ hình thức học thụ động sanghình chức chủ động, lấy người học là trung tâm Phương pháp này theo định hướng ứngdụng, giảng viên đổi mới cách dạy từ
Tích hợp dạy kỹ năng mềm hiệu quả nó phụ thuộc nhiều vào giảng viên Giảngviên là người đạo diễn và kiểm soát lớp để cuốn các bạn sinh viên tham gia Tích hợp kỹ
năng mềm vào việc giảng dạy là điều cần thiết, là môi trường để sinh viên rèn luyện kỹnăng ngay khi bước vào giảng
Tuy nhiên, việc tích hợp cần nhiều điều kiện từ phía giảng viên, từ phía người học.Đối với giảng viên cần phải có
dạy một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Phương phápgiảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên phát huy khảnăng truyền đạt và lĩnh hội kiến thức Ý thức được điều đó, giảng viên cơ hữu và thỉnhgiảng (đã được tập huấn chuyên môn theo hướng chương trình đào tạo tại Trường) đã
linh hoạt sử dụng các phương pháp giảng dạy như: Phương pháp làm việc nhóm, phương pháp
đó giảng viên sử dụng các kỹ thuật giảng dạy như: Kỹ thuật bàn tay nắn bột, kỹ thuậtkhăn trải bàn, kỹ thuật công não, kỹ thuật chuyên gia, kỹ thuật các mảnh ghép…Ứngdụng trên hệ thống E-learning, học tập trực tuyến, trò chơi sư phạm, kết hợp công nghệthông tin, thực hiện dự án,…
Trong đó, theo quan điểm của
đấy có thể mô phỏng thành hai dạng phương pháp tiếp cận chính, đó chính là:
và liên ngành
việc thực hiện việc tiếp cận hướng tích hợp
2.2.4.1 Phương pháp tiếp cận đa ngànhPhương pháp tiếp cận đa ngành, đặc biệt là ở mảng đào tạo kỹ năng mềm nhằmxây dựng một chương trình có sự tích hợp của các ngành/tiểu ngành xung quanh một vấn
đề mà nhiều ngành khoa học cùng quan tâm hoặc những chủ đề học tập chung cho nhiềungành mà người học có thể giải
Trang 12Hình: Hình: Ví Ví dụ dụ phương phương pháp pháp tiếp tiếp cận cận đa đa ngànhngành
Trong tích hợp đa ngành, Trường đã xây dựng những chủ đề dựa trên các lĩnh vựcmôn học khác nhau (thường là từ 3 nội dung trở lên); để từ đó thu hút sinh viên ở các độtuổi khác nhau, lớp học khác nhau hoặc cả trường cùng tham gia thực hiện trong các tiếtdạy/buổi sinh hoạt/diễn đàn/workshop,… Hoạt động này đem lại nhiều lợi ích cho sinh
viên, giúp sinh viên làm việc và cộng tác với mọi người trong tập thể đa dạng về nhậnthức và độ tuổi (ví dụ hoạt động phỏng vấn và thực hiện chủ đề: Café – Wrokshop trong
Kỹ năng làm việc nhóm và thuyết trình); trải nghiệm và thể hiện sự hiểu biết sâu sắc vấn
đề trong một quá trình khám phá
án, trình bày báo cáo, tranh luận, phản biện, đặt vấn đề…(ví dụ mô hình Học tập thôngqua trải nghiệm (ELC) củ
và tạo ra hăng hái (ví dụ Cây kỳ vọng trong Kỹ năng học đại học), hứng thú trong quátrình làm việc cộng đồng (ví dụ Dự án: Tặng quà cho người vô gia cư – Kỹ năng Giaotiếp)
2.2.4.2 Phương pháp tiếp cận liên ngànhPhương pháp tiếp cận liên ngành nhằm xây dựng một chương trình có đối tượngnhận thức – học tập là
có liên quan mà khi triển khai cần sử dụng các chuẩn kiến thức, kỹ năng chung đã đượctích hợp trong chương trình (Ví dụ: tích hợp sử dụng công nghệ thông
tính vào chương trình giảng dạy của nhiều ngành chứ không đơn thuần chỉ là để sử dụngmáy tính) Kỹ năng mềm cũng đòi hỏi những yêu cầu như thế khi tích hợp nhiều phương pháp vào để hỗ trợ sinh viê
CHỦ ĐỀ
NHÀ TRƯ ỜNG
GIA ĐÌNH
XÃ HỘI KHOA HỌC
KINH NGHIỆMM
CÔNG NGHỆ BẢN THÂN
Trang 13Chương trình liên ngành trong những môn kỹ năng mềm có những chủ đề, dự ánhọc tập yêu cầu sinh viên phải sử dụng kiến thức của nhiều ngành/tiểu ngành để giảiquyết, thiết lập tri thức kết nối giữa nhiều ngành với nhau (Ví dụ: trong Kỹ năng Giaotiếp hướng dẫn sinh viên thường sẽ liên kết nhiều kỹ năng như: nghe (lắng nghe) – nói(thuyết trình, trình bày, phản hồi) – đọc (luyện thanh, luyện giọng, tập đọc phát âm, tròn
vành rõ chữ) – viết (viết email xin việc, viết báo cáo,…) Trong việc tích hợp liên ngànhnhư thế cần xác định những kỹ năng, khái niệm, chủ đề cần rèn luyện, lĩnh hội đòi hỏisinh viên phải sử dụng
2.2.5 Hình thức tổ chức dạy và họcĐối với hình thức tổ chức dạy và học được Trường Đại học Văn Lang xác địnhngay từ đầu với những mục tiêu được đưa ra Người dạy phải chuẩn bị nội dung, thiết kế bài giảng,
vấn đề tự học Ở đây, tôi quan tâm vấn đề tự học của sinh viên tại Trường, nhà trường đã
chuẩn bị những video minh họa (do trường thực hiện), bài tập trắc nghiệm, bài tập nhóm, bài
viên đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm, kiến thức liên ngành và đa ngành thì giảng viêncòn được tập huấn trên hệ thống Microsoft (MS Team) để chủ
huống trực tuyến trong xã hội và tình hình đầy biến động như ngày nay (dịch Covid – 19) Ví dụ ở môn Kỹ năng Giao tiếp, với những yêu cầu từ giảng viên và sinh viên (trướckhi lên lớp – lên lớp và tự học) như sau:
Môn học sử dụng phương pháp Blended learning với quy trình giảng dạy như sau:Đối với người dạy
- Trước buổi lên lớp:
1) Đăng tải nội dung bài giảng, clip hướng dẫn về nội dung bài học thông qua hệthống học tập trực tuyến;
2) Nêu các yêu cầu tự học và thời hạn hoàn thành cho SV: thảo luận, làm bài tập,
…
3) Hướng dẫn, giải đáp
- Trong giờ lên lớp:
Trang 145) Cùng SV thảo luận
6) Hướng dẫn SV học tập thông qua trải nghiệm, thực hành tại lớp về các tìnhhuống học tập
Đối với người họcCác phương pháp học tập gồm:
- Trước khi lên lớp, sinh viên sẽ thực hiện các bước tự học
1 Xem bài giảng, clip về
2 Thảo luận về nội dung bài học, nêu các thắc mắc tại các mục thảo luận trựctuyến;
3 Thực hiện các bài tập theo
- Trong giờ học tại lớp:
4 Sinh viên nghe giảng, thảo luận và tham gia thực hiện các hoạt động học tậptrải nghiệm
2.2.6 Kiểm tra và đánh giá
Outcomes: Kết quả học tập mong đợi) trong việc đánh giá
Việc kiểm tra và đánh giá các học phần KNM hướng tới việc nâng cao nhận thức
về vai trò của kNM, từ đó khuyến khích sinh viên chủ động, không ngừng hoàn thiện các
kỹ năng cần thiết để tự
Điều kiện để được dự thi
Hình thức thi kết thúc học
3 bài kiểm tra cá nhân
Ví dụ ở môn Kỹ năng Giao tiếp, sinh viên sẽ áp dụng thêm chuẩn đầu ra – kết quảmong đợi của môn học: kiến thức
hưởng, đối tượng và lập kế
Trang 15Vận dụVận dụng cáng các nguyc nguyên tắên tắc giao tc giao tiếp viếp và phonà phong cácg cách giao th giao tiếp tiếp tronrong học tậg học tập và cuộp và cuộccsống hàng ngày.
quyết được những vấn đề hàng
khác biệt đa văn hóa, kết nối
Trong quá trình thực hiện, KNM có thể được điều chỉnh, bổ sung các hình thứckiếm tra và đánh giá phù hợp với điều kiện thực tế, cập nhật kịp thời trong bài giảng vàthông báo trước cho sinh viên
2.2
Trường Đại học Văn Lang cũng đã xác định
con người mang lại tác động tích cực truyền cảm hứng cho xã hội”
trở thành phiên bản tốt nhất của chính họ, với tinh thần học tập suốt đời, luôn sống trọnvẹn với tất cả tiềm năng của bản thân Cùng với sứ mệnh này là Triết lý giáo dục
qua học tập trải nghiệm, đào tạo con người toàn diện, có khả năng học tập suốt đời, cóđạo đức, có sức ảnh hưởng và mang lại thay đổi tích cực cho cộng đồng”,
trang bị cho người học kỹ năng học tập, lối suy nghĩ sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, kỹnăng lãnh đạo và các kỹ
2.4 Quản lý việc phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinhviên theo hướng cải thiện và đổi mới hoạt động giảng dạy kỹ
viên trong bối cảnh hội nhập - Ứng dụng thực tiễn
Vấn đề trình bày dựa vào kết quả khảo sát từ Trung tâm Phát triển Năng lực sinhviên – Trường Đại học Văn Lang kể từ tháng 9- 2019 đến nay trong tìm hiểu đổi mớihoạt động giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên Trước tháng 9-2019, các môn học kỹ