1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận nhóm môn kinh tế lượng đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên thành phố hà nội

32 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Hà, Trần Thanh Hường, Đỗ Thu Hà, Nguyễn Tiến Lâm, Trần Hà Phương, Trần Đức Vượng
Trường học Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế lượng
Thể loại Tiểu luận nhóm môn kinh tế lượng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 255,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ    TIỂU LUẬN NHÓM MÔN KINH TẾ LƯỢNG Đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên thành phố Hà Nội Nhóm thực hiện Nhóm 6 Họ và[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -   -

TIỂU LUẬN NHÓM MÔN KINH TẾ LƯỢNG

Đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

xanh của sinh viên thành phố Hà Nội

Nhóm thực hiện : Nhóm 6

Họ và tên Mã sinh viên

Nguyễn Thị Hà 20050605Trần Thanh Hường 20050635

Đỗ Thu Hà 20050603Nguyễn Tiến Lâm 20050640Trần Hà Phương 20050681Trần Đức Vượng 18050186

Hà Nội, 2022

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, từ năm 2002 đến 2020, GDP đầu ngườităng 3,6 lần, đạt gần 3.700 USD Tỷ lệ nghèo (theo chuẩn 3,65 USD/ngày) giảm từhơn 14% năm 2010 xuống còn 3,8% năm 2020 Điều này khẳng định tính hiệu quảcủa các chiến lược phát triển quốc gia Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế lạitạo ra nhiều áp lực lớn đối với môi trường sinh thái Tình trạng ô nhiễm môi trườngtiếp tục diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng với nhiều điểm nóng, chất lượngmôi trường nhiều nơi suy giảm mạnh, không còn khả năng tiếp nhận chất thải, đặcbiệt ở các khu vực tập trung nhiều hoạt động phát triển; đa dạng sinh học và chấtlượng rừng suy thoái đến mức báo động, nguồn gen bị thất thoát; hạn hán và xâmnhập mặn gia tăng; sự cố môi trường xảy ra nhiều, gây hậu quả nghiêm trọng, anninh sinh thái bị đe dọa

Con người không thể tiếp tục khai thác nguồn tài nguyên, xả thải, sản xuất gây

ô nhiễm môi trường sống mà không hề lo lắng về những hệ lụy sau này Nhận thứcđược những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, mọi người đang hướng tới

sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường Chính vì vậy, tiêu dùng xanhđang là xu hướng trên thế giới hiện nay, khi môi trường trở thành mối quan tâm hàngđầu của các quốc gia Khái niệm này không còn quá xa lạ đối với các quốc gia pháttriển và cũng đang có những bước tiến ban đầu ở các quốc gia đang phát triển khi ýthức của người tiêu dùng ngày càng được nâng cao Nhắc đến tiêu dùng xanh là đềcập tới những hành động mua hàng, sử dụng, thải loại trong đó người tiêu dùng cânnhắc trách nhiệm của bản thân đối với xã hội và môi trường bằng cách giảm thiểu tối

đa tác động lên môi trường, đồng thời vẫn đáp ứng các nhu cầu và mong muốn cánhân, bảo đảm chất lượng cuộc sống trong hoạt động sống - ăn uống - làm việc hàngngày Ở Việt Nam, nhiều nội dung liên quan đến tiêu dùng xanh đã sớm được đưavào “dòng chảy” chính sách, được lồng ghép, quy định trong nhiều văn bản củaĐảng và Nhà nước Để tạo đà cho quá trình xanh hóa nền kinh tế, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định số 1393 “Phê duyệt Chiến lược Tăng trưởng xanh thời

kỳ 2011-2020 và tầm nhìn 2050”, trong đó có hai nhiệm vụ liên quan đến tiêu dùngxanh là xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng

Trang 3

Sinh viên là một bộ phận quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường Họ lànhững người được giáo dục về kiến thức cũng như ý thức đối với môi trường nênhành vi của họ cũng có ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, hành vi tiêu dùng xanh còn khá xa lạ với người dân Việt Nam,trong đó có sinh viên Các hoạt động tiêu dùng xanh đã được triển khai nhưng mớidừng lại ở viện nâng cao nhận thức cộng đồng Các hoạt động còn riêng lẻ, chưa có

sự kết nối, phạm vi tác động chỉ trong khuôn khổ của một nhóm đối tượng hưởng thụtrực tiếp nên chưa có tính phổ biến Mặt khác, vẫn có nhiều khó khăn trong việc đưasản phẩm xanh vào đời sống của các bạn sinh viên thay thế cho nhựa và nilon Có thể

do thói quen sử dụng các sản phẩm từ nhựa đã ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiềungười nên việc ngừng sử dụng trở nên khó khăn Bên cạnh đó, chính những sảnphẩm từ nhựa lại rẻ, thậm chí là miễn phí, trong khi đó giá thành của sản phẩm xanhlại khá cao Điều này khiến cho các bạn sinh viên có tâm lý ngại sử dụng, do đa sốsinh viên bị hạn chế về mặt tài chính

Vì vậy, để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh và xemxét xu hướng tiêu dùng của sinh viên, cụ thể là tại thành phố Hà Nội nhằm giải quyết

vấn đề trên, nhóm chúng em quyết định thực hiện đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên thành phố Hà Nội” Đề tài sẽ góp phần

thúc đẩy sinh viên tích cực sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, từ đólan truyền ra cộng đồng người dân thành phố Hà Nội, rộng hơn là toàn đất nước ViệtNam cùng chung tay bảo vệ môi trường

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Liên quan đến khái niệm sinh viên, trong Từ điển giáo dục học 2001, Phó giáo

sư Bùi Hiền cho rằng sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học

Còn trong Từ điển Tiếng Việt 2010, tất cả những ai đang "học ở bậc đại học", bất kể

chính quy hay phi chính quy, tuổi nhỏ hay lớn, đang học ở trường hay các cơ sở giáo

dục đại học khác, đều là sinh viên Khái niệm này trong Luật giáo dục 2012 như sau:

Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học,theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học Một khái niệm

cụ thể hơn là khái niệm sinh viên trong nghiên cứu của Nguyễn Ánh Hồng (2002),sinh viên là một bộ phận của thanh niên dạng theo học ở các trường đại học và cao

Trang 4

đẳng Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiệnnhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹthuật cao của đất nước Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, sinh viên luôn luôn là lựclượng năng động và sáng tạo và là nguồn nhân lực có chất lượng của xã hội.

Khái niệm tiêu dùng xanh được nhắc đến trong một nghiên cứu của Lê HoàngLan (2007): “Tiêu dùng xanh” - “green purchasing” (hay còn gọi là “mua sắm sinhthái” - “eco - purchasing”) là thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc mua sắm các sảnphẩm và dịch vụ thân thiện môi trường Đó là việc xem xét, cân nhắc các vấn đề môitrường đồng thời với việc xem xét, cân nhắc những tiêu chí về giá cả và hiệu quả sửdụng khi quyết định mua sắm, sao cho giảm thiểu nhiều nhất tác động tới sức khỏe

và môi trường Việc cân nhắc này có thể nhằm vào một hay tất cả tác động môitrường bất lợi trong toàn bộ vòng đời của chúng (bao gồm sản xuất, vận chuyển, sửdụng và tái sinh hoặc thải bỏ) Hoàng Trọng Hùng và cộng sự (2018) lại cho rằng:Tiêu dùng xanh là hành vi tiêu dùng các sản phẩm có thể bảo quản, có ích đến môitrường và đáp ứng được các mối quan tâm đến môi trường Đó là các sản phẩm tạođiều kiện thuận lợi cho mục tiêu dài hạn về bảo vệ và bảo tồn môi trường Tiêu dùngxanh không chỉ liên quan đến việc người tiêu dùng không sử dụng hàng hóa gây tổnhại đến môi trường tự nhiên, mà còn quyết định mua các sản phẩm thân thiện vớimôi trường và sản phẩm tái chế

Hồ Huy Tựu và các cộng sự (2018) đã có bài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnhhưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân Nha Trang” Nhóm tác giả sử dụngmẫu khảo sát gồm 250 người tiêu dùng tại thành phố Nha Trang và các công cụ phântích định lượng Kết quả khẳng định có 05 trên 06 nhân tố có ảnh hưởng tích cực đếnhành vi tiêu dùng xanh của người dân, đó là: (1) Tin tưởng (β = 0,362), (2) Rủi ro (β

= 0,176), (3) Ảnh hưởng xã hội (β = 0,174), (4) Kiểm soát hành vi (β = 0,169) và (5)Nhận thức (β = 0,153)

Một nghiên cứu khác về người tiêu dùng tại thành phố Huế liên quan đếnhành vi tiêu dùng xanh được thực hiện bởi Hoàng Trọng Hùng và cộng sự (2018).Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát trực tiếp 200 người tiêu dùng và sử dụng môhình phương trình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling) Mô hìnhcủa nghiên cứu được thiết lập dựa trên mô hình mở rộng của lý thuyết hành vi hoạch

Trang 5

định TPB (Theory of Planned Behaviour) Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai nhân

tố chính ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh qua đó tác động gián tiếp đến hành vitiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Huế là thái độ đối với tiêu dùngxanh và mối quan tâm đến môi trường

Trong một bài nghiên cứu, Hà Nam Khánh Giao (2018) đã đánh giá một sốyếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh tại thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đãthực hiện phỏng vấn 297 khách hàng, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính(phỏng vấn chuyên gia) với phương pháp nghiên cứu định lượng (phân tích hồi quytuyến tính bội) Kết quả cho thấy có 06 yếu tố gồm: Nhận thức về môi trường, Đặctính sản phẩm xanh, Hoạt động chiêu thị xanh, Giá sản phẩm xanh, Ý thức tiết kiệmnăng lượng và Nguồn thông tin Sau khi phân tích, các yếu tố còn lại trong mô hìnhhồi quy có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh tại thành phố Hồ Chí Minh theomức độ giảm dần như sau: (1) Hoạt động chiêu thị xanh, (2) Nguồn thông tin và (3)Giá sản phẩm xanh

Phan Thị Ân Tình (2021) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ý định tiêu dùngxanh của người dân tại thành phố Cam Ranh – Khánh Hòa” Dữ liệu được thu thập

từ việc khảo sát 280 người dân, nhưng chỉ có 269 phiếu khảo sát đạt yêu cầu Sau đó

dữ liệu được mã hoá, làm sạch và phân tích trên phần mềm SPSS 20 Kết quả phântích thống kê mô tả cho thấy đối tượng phỏng vấn có độ tuổi, giới tính, thu nhập vànghề nghiệp tương đối phù hợp với đối tượng khảo sát Tác giả tiến hành đánh giáthang đo thông qua phân tích Cronbach’s Alpha cho từng thang đo để đánh giá độ tincậy của thang đo và phân tích EFA riêng và chung cho các thang đo của các yếu tốthuộc đề tài để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt Kết quả chỉ ra rằng có 05nhân tố tác động cùng chiều tới ý định tiêu dùng xanh của người dân thành phố CamRanh - Khánh Hòa, đó là: (1) Niềm tin đối với sản phẩm xanh, (2) Thái độ đối vớimôi trường, (3) Định vị sản phẩm xanh, (4) Nhận thức kiểm soát hành vi và (5) Tiêuchuẩn chủ quan

Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) trong nghiên cứu của mình, “Nghiên cứu nhữngnhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của ngườitiêu dùng Việt Nam”, nhấn mạnh có 04 nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định

và hành vi tiêu dùng xanh, đó là: (1) Quan tâm tới môi trường, (2) Nhận thức về tínhhiệu quả, (3) Xúc tiến của doanh nghiệp/độ nhạy của giá và (4) Tính sẵn có của sản

Trang 6

phẩm Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giới cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới mối quan

hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam Hay nóicách khác, khi nam giới có ý định mua, họ dễ có hành vi mua hơn so với nữ giới.Thói quen mua hàng ở các chợ cóc cản trở ý định và hành vi tiêu dùng xanh củangười tiêu dùng Khi người tiêu dùng có thói quen mua hàng ở chợ cóc, ý định vàhành vi tiêu dùng xanh giảm đi Tình huống thu nhập gia đình giảm tác động khámạnh tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh Khi thu nhập gia đìnhgiảm, tác động của ý định tới hành vi tiêu dùng xanh yếu đi hay nói cách khác khithu nhập gia đình giảm, dù người tiêu dùng có ý định, hành vi tiêu dùng chưa chắc

đã xảy ra

Ao Thu Hoài và các cộng sự (2019) với bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnhhưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Z Việt Nam” đã thực hiện khảo sát trựctuyến, 480 phiếu trả lời đã được trả về, tiếp tục gạn lọc những bảng trả lời không đạtyêu cầu (trả lời không đầy đủ, đáp viên không thuộc đối tượng khảo sát), còn lại 338kết quả hợp lệ (chỉ tính các đối tượng sinh từ năm 1996 đến 2006 và đã từng sử dụngsản phẩm xanh) Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS quacác bước: đánh giá sơ bộ các thang đo; phân tích nhân tố khám phá EFA; phân tíchtương quan; phân tích hồi quy; phân tích phương sai Trong quá trình phân tích, đánhgiá và kiểm định thang đo sẽ tiếp tục loại bỏ, gộp hoặc phân nhóm các biến thànhphần theo các nhóm đặc trưng và được đặt tên gọi phù hợp Kết quả đã chỉ ra 05 yếu

tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của thế hệ Z bao gồm: (1) Đặc tính sản phẩm(β=0,605), (2) Nhận thức về môi trường (β=0,511), (3) Tính sẵn có (β=0,147), (4)Giá sản phẩm (β=0,098) và (5) Ảnh hưởng xã hội (β=0,085)

Một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh củangười dân tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội được thực hiện bởi Nguyễn ThịHoài Thương (2016) Đánh giá sự liên quan giữa nhận thức, thói quen tiêu dùngxanh với các yếu tố như giới tính, độ tuổi, thu nhập và trình độ học vấn nhằm đưa racác giải pháp phù hợp, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dựatrên mẫu khảo sát 97 người dân tại quận Bắc Từ Liêm, thang đo Likert, kết quả phântích độ tin cậy, giá trị của các đo lường chỉ ra mô hình phù hợp với dữ liệu Trong 04yếu tố đã xem xét, thì các nhân tố như giới tính, trình độ nhận thức và thu nhập cóảnh hưởng quan trọng, giải thích cho hành vi tiêu dùng xanh

Trang 7

Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2015) đã hoàn thành bài nghiêncứu “Nghiên cứu ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ ChíMinh” Nghiên cứu thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính sơ bộ và địnhlượng chính thức Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng việc phỏng vấn trựctiếp và thảo luận nhóm 10 người tiêu dùng trên 18 tuổi sinh sống tối thiểu sáu thángtại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua khảo sáttrực tuyến và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng người tiêu dùng sinh sống tối thiểu

06 tháng tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của 05nhân tố: (1) Sự quan tâm đến các vấn đề môi trường, (2) Nhận thức các vấn đề môitrường, (3) Lòng vị tha, (4) Ảnh hưởng xã hội, (5) Cảm nhận tính hiệu quả đến ýđịnh tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó,nghiên cứu còn tìm thấy sự khác nhau về ý định tiêu dùng xanh của những nhómngười tiêu dùng được phân loại dựa trên thu nhập và dựa trên trình độ học vấn

Phùng Mạnh Hùng (2021) với bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng tới ýđịnh mua thực phẩm xanh của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã kếthợp phương pháp định tính với phương pháp định lượng Thiết kế mẫu và kiểm địnhthống kê áp dụng trong nghiên cứu này theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi xácsuất Dữ liệu được thu thập tại 10 siêu thị trên địa bàn quận Đống Đa Ngoài ra, tácgiả còn sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn để thiết lập tiêu chí đo lường Đối với các dữliệu đảm bảo tính hợp lệ sau đó sử dụng phần mềm SPSS để phân tích và trích xuấtcác kết quả Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 04 yếu tố tác động đến ý định mua thựcphẩm xanh của người tiêu dùng, gồm: Mối quan tâm tới môi trường, Kiểm soát hành

vi nhận thức, Nhận thức về vấn đề sức khỏe và Chuẩn chủ quan Thái độ với môitrường và Kiến thức về môi trường không tác động đến ý định mua thực phẩm xanhcủa người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Trên thế giới cũng có không ít các nghiên cứu nhắc tới khái niệm tiêu dùngxanh Chan (2001) cho rằng tiêu dùng xanh là mua các sản phẩm thân thiện với môitrường và tránh các sản phẩm gây hại cho môi trường Tiêu dùng xanh thể hiện tráchnhiệm đối với việc bảo vệ môi trường thông qua việc lựa chọn các sản phẩm thânthiện với môi trường, có cách tiêu dùng và xử lý rác thải hợp lý Sisira (2011) cũngđưa ra định nghĩa khá toàn diện về tiêu dùng xanh với quan điểm đây là một quá trình

Trang 8

thông qua những hành vi xã hội như: mua các loại thực phẩm sinh học, tái chế, tái sửdụng, hạn chế dùng thừa và sử dụng hệ thống giao thông thân thiện Còn Kaman Lee(2011) lại khẳng định: Tiêu dùng xanh là hành vi tiêu dùng các sản phẩm có thể bảoquản, có ích đến môi trường và đáp ứng được các mối quan tâm về môi trường Đó làcác sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu dài hạn về bảo vệ và bảo tồn môitrường Tiêu dùng xanh không chỉ liên quan đến việc người tiêu dùng không sử dụnghàng hóa gây tổn hại đến môi trường tự nhiên, mà còn quyết định mua các sản phẩmthân thiện với môi trường và sản phẩm tái chế.

Ở thế kỷ 21, Marcus Phipps và cộng sự (2013) giới thiệu lý thuyết xác địnhtương hỗ để hiểu hành vi tiêu dùng bền vững Mô hình này nhấn mạnh tầm quantrọng của hành vi trong quá khứ và coi nó như một chỉ báo của hành vi bền vữngtrong tương lai Mô hình gợi ý rằng các yếu tố cá nhân như thái độ, cùng với cáchành vi bền vững trong quá khứ và môi trường văn hóa xã hội, ảnh hưởng đến hành

vi bền vững trong tương lai Như vậy, rõ ràng từ cuộc thảo luận trên, hành vi củangười tiêu dùng không chỉ bị ảnh hưởng bởi thái độ, mà còn bởi nhiều yếu tố cá nhân

và tình huống khác Hơn nữa, những yếu tố này có thể củng cố hoặc làm suy yếu sứcmạnh của mối quan hệ thái độ - hành vi

Ibrahim H Seyrek (2017) với bài nghiên cứu “Factors Affecting GreenPurchasing Behavior: A Study of Turkish Consumers” đã thu thập dữ liệu từ mộtmẫu 410 người tiêu dùng sống ở thành phố Gaziantep ở Thổ Nhĩ Kỳ Theo kết quảcủa các kiểm định T-test, ANOVA và phân tích hồi quy được thực hiện, nghiên cứuchỉ ra rằng các yếu tố như chủ nghĩa môi trường, hành vi tiết kiệm và kiến thức đều

có tác động tích cực và đáng kể đến hành vi tiêu dùng xanh Ngoài ra, hành vi tiêudùng xanh của người tiêu dùng thay đổi dựa trên nhóm tuổi và mức thu nhập của họ.Mặt khác, giới tính không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tiêu dùng xanh Mộtnghiên cứu khác cũng có quan điểm tương tự, không có sự khác biệt đáng kể về giớigiữa nam và nữ liên quan đến hành vi tiêu dùng xanh Đó là nghiên cứu của Irawan

và Darmayanti (2012) Bài nghiên cứu đã đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vitiêu dùng xanh của sinh viên ở Jakarta Trong nghiên cứu này, các tác giả đã thu thập

dữ liệu từ 200 sinh viên bằng bảng hỏi Kết quả của cuộc nghiên cứu, họ phát hiện rarằng Mối quan tâm đến môi trường, Mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi trường

Trang 9

và Nhận thức về trách nhiệm đối với môi trường là những yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến hành vi tiêu dùng xanh.

Aarti Kataria và cộng sự (2013) có bài nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnhhưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với các sản phẩm thân thiện với môitrường Đối với đề tài này, lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) đã được thôngqua và trải nghiệm xác minh bằng cách sử dụng các cuộc phỏng vấn các khách hàng

cá nhân Kết quả xác nhận ảnh hưởng đáng kể của các giá trị (quan tâm đến sức khỏecủa trẻ em và các thành viên trong gia đình) và kiến thức (về các vấn đề môi trường

và sản phẩm) khi mua hàng thân thiện với môi trường Những hạn chế như giá cả,thiếu kiến thức, thiếu sự sẵn có, rủi ro khi thử các thương hiệu mới ngăn cản việcmua sản phẩm sinh thái, sản phẩm thân thiện với môi trường

Rahayu Relawati và cộng sự (2019) đã thực hiện một nghiên cứu ở Malang,Indonesia với mẫu là 152 công dân học thuật Dữ liệu chính được lấy từ phỏng vấn

và bảng hỏi Nhóm tác giả đã phân tích dữ liệu bằng cách sử dụng mô hình cấu trúctuyến tính SEM (Structural Equation Model) được hỗ trợ bởi phần mềm WarpPLS.Kết quả cho thấy rằng ba biến là sẵn sàng chi trả (WTP - Willingness to pay), tâm lýhọc và tôn giáo ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh Các yếu tố nhân khẩu họccũng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh nhưng với mức ý nghĩa thấp hơn

Nghiên cứu của Kumar P và Ghodeswar B M (2015) sử dụng một phươngpháp dựa trên khảo sát để kiểm tra một tập hợp các giả thuyết có cơ sở về mặt lýthuyết Sử dụng bảng hỏi và phương pháp lấy mẫu snowball sampling, dữ liệu đượcthu thập từ 403 người trả lời là người Ấn Độ đang làm việc ở Mumbai Dữ liệu đượcphân tích bằng cách sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA và nhân tố khẳng địnhCFA Mô hình SEM được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết đã đề xuất Kết quả chothấy những người được hỏi có thiện chí hỗ trợ bảo vệ môi trường, thực hiện các tráchnhiệm với môi trường và có khuynh hướng tìm kiếm thông tin liên quan đến sảnphẩm xanh và tìm hiểu về các sản phẩm xanh Hỗ trợ bảo vệ môi trường, thúc đẩytrách nhiệm với môi trường, trải nghiệm sản phẩm xanh, thân thiện với môi trườngcủa các công ty và sự kêu gọi xã hội được xác định là những yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến quyết định mua sản phẩm xanh

Trang 10

Một nghiên cứu được Nombulelo Dilotsotlhe (2020) thực hiện để điều tra cácyếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Millennial hay còn gọi là thế

hệ Y tại một thị trường mới nổi của Nam Phi Về mặt lý thuyết, nghiên cứu dựa trên

lý thuyết về mô hình hành vi có kế hoạch Một thiết kế nghiên cứu định lượng mangtính mô tả đã được thực hiện và dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách sử dụng bảnghỏi tự quản lý Tổng số 355 câu trả lời hoàn chỉnh phù hợp để phân tích Kết quảnghiên cứu kết luận rằng tất cả các biến độc lập có ý nghĩa (lợi thế tương đối, tínhtương thích và khả năng quan sát) đã giải thích được 84% sự khác biệt về thái độ đốivới hành vi tiêu dùng xanh Thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhậnthức giải thích được 83,4% phương sai trong ý định hành vi đối với hành vi tiêu dùngxanh

Sử dụng phân tích tổng hợp, Wencan Zhuang và cộng sự (2020) thực hiệnnghiên cứu để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng xanh Kết quả từ

54 nghiên cứu được phân tích, trong đó có 11 biến liên quan đến ý định mua hàngxanh Các kết quả phân tích tổng hợp cho thấy giá trị nhận thức xanh, thái độ vàniềm tin xanh đều có tác động tích cực lớn đến ý định mua hàng xanh Nhận thứckiểm soát hành vi, tính hiệu quả của người tiêu dùng và chuẩn chủ quan đều có mốitương quan vừa phải với ý định mua hàng xanh Chất lượng nhận thức xanh, mốiquan tâm đến môi trường và kiến thức về môi trường cũng có một số ảnh hưởng đến

ý định mua hàng xanh của người tiêu dùng Người tiêu dùng nhận thấy rủi ro đối vớicác sản phẩm xanh càng lớn thì thái độ của họ đối với chúng càng dè dặt và ý địnhmua hàng xanh của họ càng thấp

Yatish Joshi & Zillur Rahman (2015) có bài nghiên cứu trình bày đánh giá cácbài báo thực nghiệm về hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng được đăng trêncác tạp chí học thuật có uy tín từ năm 2000 đến năm 2014 Thông qua một đánh giátài liệu sâu rộng, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của người tiêudùng đã được xác định Tất cả những yếu tố này đều khuyến khích hoặc khôngkhuyến khích mua các sản phẩm xanh Dựa trên các yếu tố này, có thể đề xuất cácgiải thích có thể xảy ra cho khoảng cách thái độ - hành vi được báo cáo trong hành vitiêu dùng xanh Theo báo cáo của hầu hết các nghiên cứu, mối quan tâm cao củangười tiêu dùng đối với các vấn đề môi trường và xã hội, cũng như các thuộc tính,

Trang 11

chức năng của sản phẩm xanh là hai động cơ chính thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanhcủa họ.

Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua sản phẩm xanh củagiảng viên đại học ở Ấn Độ, Rajyalakshmi Nittala (2014) có bài nghiên cứu với cácbiến dự báo giúp phân biệt giảng viên sẵn sàng hay không muốn mua sản phẩmxanh Các phát hiện cho thấy việc tái chế sản phẩm có ảnh hưởng tích cực và sựthoải mái, việc dán nhãn sinh thái và thiếu thông tin có ảnh hưởng tiêu cực đến sựsẵn lòng mua các sản phẩm xanh của giáo viên đại học Chuyển đổi sản phẩm vì lý

do sinh thái, ưu tiên chất lượng sinh thái và việc cân nhắc rằng túi nhựa mang theotiện lợi hơn và không nên bị cấm là những người phân biệt đối xử tốt giữa các nhómsẵn sàng mua và không sẵn sàng mua các sản phẩm xanh Các giảng viên nhận thứcđược hoạt động bảo vệ môi trường, mặc dù mối quan tâm của họ không phải lúc nàocũng chuyển thành hành vi tiêu dùng xanh

Nora Amberg & Csaba Foragassy (2018) đã thực hiện nghiên cứu nhằm xácđịnh những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhóm người tiêu dùng khi mua sản phẩmxanh Điểm mới của các phân tích chủ yếu là người tiêu dùng được sắp xếp thànhtừng nhóm, dựa trên việc tiêu thụ thực phẩm sinh học và ưa chuộng mỹ phẩm thiênnhiên Phân tích cụm có nhiều biến, cụ thể là: Hành vi của người tiêu dùng dựa trênsản phẩm sinh học, nhãn hiệu mỹ phẩm thiên nhiên mới hoặc sở thích về nhận thức

về sức khỏe và môi trường Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến, độcquyền ở Hungary và 197 người đã tham gia trả lời Kết quả thống kê mô tả và phântích cụm cho thấy có người tiêu dùng thích mỹ phẩm thiên nhiên, trong khi một sốlại mua mỹ phẩm truyền thống Nhóm thứ ba sử dụng cả mỹ phẩm thiên nhiên vàthông thường Kết quả cho thấy rằng trên thị trường mỹ phẩm, nhận thức về sứckhỏe và môi trường sẽ là một xu hướng quan trọng đối với cả hành vi của người sảnxuất và người tiêu dùng, kể cả trong tương lai Tuy nhiên, nó không nhất thiết phảituân theo xu hướng của ngành thực phẩm, vì phổ ảnh hưởng đến sức khỏe của mỹphẩm ngắn hơn rất nhiều Trong tương lai, bảng màu của mỹ phẩm thiên nhiên sẽ trởnên rộng rãi hơn rất nhiều Nguyên nhân chính của việc này sẽ là sự xuất hiện củanguyên liệu mỹ phẩm xanh và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường (chủyếu là bao bì) Người tiêu dùng cũng sẽ có khả năng lựa chọn những thứ phù hợp với

họ nhất

Trang 12

Trong một nghiên cứu gần đây, Aradhana Vikas Gandhi (2020) đã khám phácác thông số ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng xanh Một nghiêncứu đồng thời về phương pháp luận hỗn hợp đã được thông qua liên quan đến nghiêncứu thực nghiệm dựa trên bảng hỏi cùng với một nghiên cứu định tính để nắm bắtnhững kinh nghiệm sống của những người được hỏi Trong khi thực hiện các cuộcphỏng vấn sâu, nhiều chủ đề lặp lại đã xuất hiện, chẳng hạn như thân thiện với môitrường, ý thức về sức khỏe, giá cả, các sáng kiến của chính phủ, khuynh hướng củagiới trẻ, nhận thức chung, ảnh hưởng/truyền thống của gia đình, chất lượng, quảngcáo và mối quan tâm xã hội Một nghiên cứu định lượng đồng thời đã được thựchiện, trong đó xác định lòng vị tha, nhận thức về môi trường, ảnh hưởng xã hội là cácthông số quan trọng, có tác động đến hành vi tiêu dùng xanh.

Ali A & Ahmad I (2012) thực hiện nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cácyếu tố khác nhau đến ý định mua hàng xanh của người tiêu dùng Pakistan Để đạtđược mục tiêu này, một mô hình khái niệm đã được đề xuất và xác minh thựcnghiệm với việc sử dụng một cuộc khảo sát Kết quả khảo sát thu được trong haichính Các thành phố của Pakistan hỗ trợ hợp lý cho hiệu lực của mô hình đề xuất.Đặc biệt, những phát hiện từ ma trận tương quan, hồi quy đơn giản theo sau là hồiquy bội phân tích xác nhận ảnh hưởng của hình ảnh xanh của tổ chức, kiến thức vềmôi trường, mối quan tâm về môi trường, giá cả và chất lượng sản phẩm cảm nhậnđối với ý định mua hàng của người tiêu dùng hướng tới các sản phẩm xanh Đặc biệt,hình ảnh xanh của tổ chức, kiến thức về môi trường và mối quan tâm về môi trườngdường như cũng ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thông quavai trò kiểm duyệt của giá và chất lượng của một sản phẩm xanh

Một nghiên cứu của Qian Gao và cộng sự (2014) phát triển khung lý thuyết vềhành vi tiêu dùng xanh để xác định tác động của ảnh hưởng cá nhân, kiến thức vềtiêu dùng xanh, thái độ đối với tiêu dùng xanh, người điều hành bên trong và bênngoài và xem xét liệu những tác động này có khác biệt đáng kể giữa các hành vimua, sử dụng và tái chế hay không Phân tích tương quan hồi quy bội được áp dụng

để đánh giá dữ liệu được thu thập bằng điều tra bảng hỏi Kết quả chỉ ra rằng thái độ

là yếu tố dự đoán quan trọng nhất đối với hành vi mua hàng Hành vi sử dụng chủyếu được xác định bởi thu nhập, hiệu quả cảm nhận của người tiêu dùng và độ tuổi,trong khi hành vi tái chế bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hành vi sử dụng

Trang 13

Ramayah T và cộng sự (2010) thực hiện bài nghiên cứu xem xét các giá trị cóthể ảnh hưởng như thế nào đến thái độ đối với ý định mua hàng có trách nhiệm vớimôi trường Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu thu thập từ 257 người trả lời đang làmviệc, những người được hỏi quan điểm của họ về bộ giá trị, thái độ và ý định mua tãvải của họ bằng cách sử dụng kỹ thuật lập mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Cáckết quả chỉ ra những kết quả riêng lẻ liên quan đến sự nỗ lực và sự tiện lợi của ngườitiêu dùng có liên quan tiêu cực đến ý định mua sản phẩm xanh Bài nghiên cứu này

đã chỉ ra rằng TRA mở rộng có thể áp dụng và bài nghiên cứu cũng đã nâng cao hiểubiết về các yếu tố dự báo về ý định mua hàng có trách nhiệm với môi trường trongbối cảnh các nước đang phát triển

2.3 Khoảng trống nghiên cứu

Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấynhững khoảng trống nghiên cứu để tiếp tục nghiên cứu như sau:

 Một số nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu định lượng, không thiên về địnhtính, do đó còn có những hạn chế trong việc giải thích hết được các khái niệm củacác nhân tố Việc đo lường các khái niệm nghiên cứu còn khá đơn giản, chỉ sửdụng từ một nguồn duy nhất là phiếu khảo sát với thang đo khoảng để thu thậpnhận thức và thái độ của người tiêu dùng nên độ chính xác chưa cao

 Một số thang đo chủ yếu được xây dựng và vận dụng rất nhiều trên các nghiêncứu ở nước ngoài nên đôi lúc Một số thang đo chủ yếu được xây dựng và vậndụng rất nhiều trên các nghiên cứu ở nước ngoài

 Sự hạn chế về mặt thời gian, chi phí, khả năng tiếp cận khách hàng, nghiên cứuthực hiện trong một phạm vi cụ thể nên nghiên cứu chỉ được thực hiện với sốmẫu hạn chế và đối tượng khảo sát chỉ mang tính chất đại diện, chưa mang tínhchất khái quát, phương pháp chọn mẫu phi xác suất, lấy mẫu thuận tiện nên tínhđại diện thấp, do đó chưa phản ánh đầy đủ và chính xác nhất cho toàn bộ tổng thểcác yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng

 Mẫu khảo sát chưa có sự phân bổ cân đối về độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấnnên chưa phản ánh hết thị trường thực tế trong kiểm định

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu

Trang 14

Y Hành vi tiêu dùng xanh Hoàng Thị Bảo Thoa (2016); Nguyễn

Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2015); Wencan Zhuang và cộng sự (2020); Qian Gao và cộng sự (2014),

X1 Niềm tin sản phẩm xanh Hồ Huy Tựu và cộng sự (2018); Phan

Thị Ân Tình (2021); Wencan Zhuang và cộng

sự (2020)

X2 Định vị sản phẩm xanh Ao Thu Hoài và cộng sự (2019); Yatish

Joshi & Zillur Rahman (2015); Nora Amberg & Csaba Foragassy (2018); Ali

A & Ahmad I (2012),

X3 Chuẩn chủ quan Phan Thị Ân Tình (2021); Phùng Mạnh

Hùng (2021); Nombulelo Dilotsotlhe (2020); Wencan Zhuang và cộng sự (2020)

X4 Thái độ đối với môi

trường

Hoàng Trọng Hùng và cộng sự (2018); Hoàng Thị Bảo Thoa (2016); Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2015); Phùng Mạnh Hùng (2021); Darmayanti (2012); Wencan Zhuang và cộng sự (2020); Yatish Joshi & Zillur Rahman

(2015); Ali A & Ahmad I (2012)

X5 Nhận thức kiểm soát hành

vi

Hồ Huy Tựu và cộng sự (2018); Phan Thị Ân Tình (2021); Phùng Mạnh Hùng (2021); Nombulelo Dilotsotlhe (2020);

Trang 15

Wencan Zhuang và cộng sự (2020)

3.2 Phương pháp thu thập tài liệu

Bài nghiên cứu sử dụng 2 nguồn dữ liệu: nguồn dữ liệu thứ cấp (dữ liệu đãđược thu thập trước đó và đã được xuất bản) và nguồn dữ liệu sơ cấp (dữ liệu dochính nghiên cứu sinh thu thập được)

3.2.1.Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu ở các nguồn sau: Google scholar, Báocáo kết quả nghiên cứu (KQNC): Cơ sở dữ liệu thư mục lớn nhất Việt Nam vể cácbáo cáo kết quả của các đề tài nghiên cứu KH&CN các cấp đăng ký và giao nộptại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Tài liệu khoa học và công nghệ Việt Nam(STD) là cơ sở dữ liệu toàn văn về tài liệu KH&CN Việt Nam, do Cục Thông tinKH&CN Quốc gia xây dựng và cập nhật từ năm 1987; Science@Direct: Bộ sưutập toàn văn bao trùm các tài liêụ khoa học nòng cốt với nhiều tạp chí có chỉ sốảnh hưởng cao , ISI Web of Knowledge: Các công trình khoa học trên cơ sở dữliệu trích dẫn khoa học từ hơn 12.000 tên tạp chí hàng đầu thế giới được cập nhậthàng tuần, Proquest Central: Bô ̣cơ sở dữ liệu lớn bao gồm 25 cơ sở dữ liệu đangành, xử lý trên 19.000 tạp chí, trong đó hơn 13.000 tạp chí toàn văn

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra khảo sát nhằm tìm ra các nhân

tố có thể ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên thành phố Hà Nội.Trong đó cách thức thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành như sau:

- 300 phiếu điều tra được phát cho sinh viên 3 trường đại học tại thành phố HàNội Mỗi sinh viên đã được hướng dẫn kỹ về phiếu điều tra và cách thức điều tra

- Các sinh viên sẽ được khảo sát ở trường hoặc qua online

3.3.Phương pháp phân tích tài liệu

3.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh

Nghiên cứu sinh tiến hành thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giácác tài liệu từ các nghiên cứu trước, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này đểnghiên cứu về khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh, cáckinh nghiệm triển khai thành công các chính sách khuyến khích tiêu dùng xanhcủa các quốc gia khác trên thế giới

Trang 16

3.3.2.Phương pháp phân tích thống kê, đánh giá tác động

Dựa vào các tài liệu, số liệu thu thập được thông qua thực hiện khảo sát,nghiên cứu sinh tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa các chỉ tiêu phù hợp với đề tài.Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên chương trình Excel Công cụnày được kết hợp với phương pháp thống kê mô tả để phản ánh thực trạng tiêudùng xanh của sinh viên thông qua các số tương đối, số tuyệt đối được thể hiệnqua bảng số liệu Ngoài ra, nhóm tác giả còn sử dụng phần mềm SPSS 20 để phântích và đánh giá tác động của các nhân tố tới hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Thống kê mô tả

Về thông tin nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu, mô tả về các yếu tố nhânkhẩu học của đối tượng được khảo sát như giới tính và mức thu nhập bình quânđược thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng thống kê đặc tính nhân khẩu của mẫu nghiên cứu

Ngày đăng: 08/02/2023, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w