1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài giảng xã hội học

51 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Xã Hội Học
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Đức Thành
Trường học hcmuaf
Chuyên ngành xã hội học
Thể loại đề cương chi tiết
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 849,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà xã hội học hướng sự chú ý của mình vào những khía cạnh xã hội ở cá nhân nhưng không phải các cá nhân đơn lẻ với những thuộc tính riêng mà vào những mối quan hệ và những mô hình

Trang 1

Một cách tự nhiên, các vấn đề xã hội là rất phức tạp Để hiểu và xử lý, giải quyết một cách

thành công với các vấn đề này đòi hỏi các kiến thức, kỹ năng, và kinh nghiệm cả về lĩnh vực khoa học chuyên môn lẫn lĩnh vực kinh tế – văn hóa – xã hội

Thông thường, trong trường học, sinh viên được dạy các môn học thuộc những lĩnh vực gần

nhau, có liên quan với nhau Tuy nhiên, sự thành công trong tất cả các môn học có thể không dẫn tới thành công trong suốt cả quá trình học tập hoặc thực tiễn nếu sinh viên không hội nhập kiến thức từ các môn học khác nhau Môn học này chú trọng đến việc

khuyến khích phát triển mối liên kết giữa kiến thức chuyên môn (khoa học) và các kiến thức khoa học xã hội để giải quyết các vấn đề đặt ra

Đây là một lớp học tương tác: lớp học này sử dụng phương pháp sinh viên thuyết trình, thảo

luận, và tình huống (case studies) để giúp cho học viên có được những tiếp cận và viễn cảnh rộng lớn hơn trong việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến xã hội Sử dụng phương pháp thảo luận tình huống còn nhằm để phát triển các nhận biết về một loạt các kỹ năng được đòi hỏi cho sự thành công của học viên trong năm học chính khóa cũng như trong tương lai

Trang 2

Số tiết chuẩn bị ở nhà: khơng hạn chế

Phương

pháp h ọc

Sưu tầm tài liệu, đọc, phân tích vấn đề, thảo luận nhóm, brain storming (hội não), mind map, chú trọng đến việc hiểu + khả năng áp dụng các kiến thức hay quyết định tình huống Không yêu cầu học thuộc lòng từng câu chữ trong sách

Cách th ức

thi và ki ểm

tra

Trình bày thảo luận hoặc cá nhân thường xuyên trong các buổi học Thi giữa kỳ và Thi cuối kỳ

1 Trình bày theo nhóm, khung thực hiện theo quy định (25%)

3 Kiểm tra giữa kỳ:trắc nghiệm/tự luận (25%)

4 Thi cuối khóa: Trắc nghiệm, theo lịch chung của trường (50%)

Một số phương pháp, kỹ năng học tập sẽ được áp dụng trong lớp:

o Kỹ năng nĩi trước đám đơng, bài giảng

o Mind map: “mạng nhện”, handout

o Brain storming: “hội não”, handout

o Students-centered discussion: thảo luận lấy sinh viên là trung tâm

o Suy luận biện chứng

o SWOT Analysis: SWOT là chữ viết tắt của những từ chỉ Thế mạnh

(Strengths), Thế yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats, hoặc Constraint) Nó là một kỹ thuật nổi tiếng để xác định các chiến lược tương lai hoặc phương thức giải quyết vấn đề

o Các kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong việc đọc, viết, sưu tầm tài liệu

Tài liệu tham khảo chuẩn bị cho môn học

1 Tài liệu chung theo quy định của khoa Khoa học

2 Cẩm nang tự học dành cho sinh viên, tài liệu internet

http://www.studygs.net/vietnamese/ !!!

3 Mind Mapping (Phương pháp bản đồ não) cùng phần mềm vận dụng (Mindjet

Mindmanager 6.0 Pro)

4 SWOT analysis: Phân tích các thế mạnh (Strength), yếu (Weak), Cơ hội

(Opportunities) và Thách thức (Thread, Constrain)

5 Brainstorming: Hội não

6 Cause & Effect Analysis: Phân tích nguyên nhân và kết quả

Nguồn: www.mindgenius.com @ Gale Limited 2005

Trang 3

7 Cẩm nang về văn phong tiếng Việt, nguồn Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:C%E1%BA%A9m_nang_v%E1%BB%81_v%C4

%83n_phong Rất có ích cho việc viết bài tiểu luận hay trình bày các bài viết bất kỳ

Các tài li ệu tham khảo của môn học theo danh sách nêu ở phần bài giảng Sinh viên có thể tham kh ảo thêm các tài liệu khác trên mạng, hoặc vào trang web của giảng viên để tải về

Trang 4

Phần sau là tĩm tắt ngắn gọn 1 số kiến thức được trình bày trên lớp Sinh viên c ần theo học đầy đủ và tham khảo các tài liệu để cĩ cách nhìn tổng quát

nh ất về những vấn đề liên quan đến mơn học

CHƯƠNG

I KHÁI LƯỢC VỀ XÃ HỘI HỌC

II VĂN HOÁ

III XÃ HỘI HÓA & QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH

IV CÁC TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH CHẾ (THIẾT CHẾ) XÃ HỘI

V GIAI CẤP VÀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

VI BIẾN CHUYỂN XÃ HỘI (SOCIAL CHANGE)

VII VẤN ĐỀ GIỚI, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

VIII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC

IX THẢO LUẬN

Chương I Khái lược về Xã hội học

I Xã hội học là gì?

1 Định nghĩa:

- Xã hội họclà “những nghiên cứu có mục tiêu và hệ thống về xã hội và hành vi xã hội”

2 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học

Đối tượng nghiên cứu chính của xã hội họclà “Mối tương tác giữa người với người” thông qua hai cấp độ: Vĩ mô (các qui luật chung để vận hành xã hội) và vi mô (các mối quan hệ xã hội, giai cấp và tầng lớp xã hội )

3 Chức năng và Nhiệm vụ của xã hội học

a Chức năng

- Nhận thức

- Thông tin, dự báo

- Tư tưởng

b Nhiệm vụ của xã hội học

- Tìm ra các qui luật vận động và phát triển chung của xã hội

- Nghiên cứu các hình thái kinh tế xã hội, các yếu tố đặc thù trong sự phân bố khu vực của các quốc gia

- Đối với riêng Việt Nam, xã hội học “nghiên cứu thực trạng xã hội Việt Nam để làm tiền đề xây dựng chính sách kinh tế – xã hội” (Nghị quyết Đại hội Đảng CSVN lần 9)

Trang 5

c Ý nghĩa của xã hội học

Hữu ích, cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống xã hội vì xã hội học giúp chúng ta có được những tri thức, những hiểu biết về những qui luật khách quan của thực tiễn xã hội, và trang bị những nhận thức cần thiết về con người và các biện pháp để đạt được mục đích cải tạo xã hội, phục vụ con người

4 Xã hội học và các ngành khoa học khác

Khi những phương pháp khoa học được áp dụng lên nghiên cứu hành vi của con người, người ta gọi đó là khoa học xã hội

- Kinh tế học: Khoa học nghiên cứu về cách mà hàng hóa hay dịch vụ được sản xuất, phân phối, và tiêu dùng

- Chính trị học: tập trung vào hoạt động của chính phủ và cách sử dụng quyền lực chính trị

- Lịch sử học: nhìn về quá khứ trong một nổ lực tìm kiếm nguyên nhân, hệ quả và ý nghĩa của các sự kiện trong quá khứ

- Tâm lý học: quan tâm đến yếu tố tâm thần của con người

- Nhân chủng học: nghiên cứu về sinh thái con người và văn hóa ở tất cả thời gian và địa điểm

5 Xã Hội Học là một môn khoa học - khoa học xã hội

XHH quan tâm tìm hiểu về hành vi của con người, một đối tượng vốn được quan tâm bỡi các nhà văn, soạn kịch, nhà thơ, nhà tâm lý, Tuy nhiên, khác với các môn học khác, ví dụ như văn học cố gắng sáng tạo ra hành vi, thái độ, tu duy, tình cảm để sáng tạo nên nhân vật; nhà thơ đưa ra những hình tượng khái quát xúc tích để thí vị hóa hình tượng con người; thì nhà xã hội học lại tìm cách áp dụng những phương pháp khoa học để tìm hiểu hành vi của con người Các đặc điểm để có thể kết luận xã hội học là một môn khoa học bao gồm:

- Tính khách quan: đánh giá vấn đề thông qua các cách tiếp cận khác nhau, cố gắng loại

bỏ các nhận định chủ quan của người nghiên cứu

- Phải có bằng chứng: Những vấn đề khi được phát biểu luôn phải có những chứng cứ

thuyết phục mạnh và chính xác

II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC

1 Điều kiện và tiền đề ra đời của xã hội học

Ngành xã hội học đã ra đời khi hội đủ 3 điều kiện sau:

 Các cuộc cách mạng công nghiệp và chính trị: Xã hội học phát triển thông qua tìm hiểu đấu

tranh giai cấp và những thay đổi cần thiết phải có của xã hội (theo Karl Marx, Max Weber, Emile Durkheim, Georg Simmel)

 Sự hình thành chủ nghĩa xã hội và các vấn đề về đô thị hóa

 Sự phát triển của Khoa học kỹ thuật

2 Các nhà xã hội học tiền bối:

a August Comte (1798-1857)

Agust Comte là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “xã hội học”

Trang 6

Comte phát triển vật lí học xã hội (social phisics), hoặc cái mà năm 1822 ông gọi là xã hội học, để chiến đấu với các triết thuyết tiêu cực và chế độ quân chủ mà theo quan điểm của ông đã lan tràn khắp xã hội Pháp lúc bấy giờ Nền tảng của phương pháp tiếp cận của A Comte

– Lý thuyết tiến hóa xã hội, hay còn gọi là “qui luật ba giai đoạn”

- Giai đoạn thần học: định tính trên thế giới từ trước đó cho đến năm 1300, tin tưởng rằng

các lực lượng siêu nhiên, các nhân vật tôn giáo được hình tượng bởi loài người, là cội nguồn của mọi sự vật đặc biệt, thế giới xã hội và vật lí được coi là do Thượng đế sáng tạo ra

- Giai đoạn siêu hình: 1300 – 1800 Tin rằng các lực lượng trừu tượng như “tự nhiên” chứ

không phải là những thần thánh đã được nhân cách hóa đã giải thích một cách hiển nhiên mọi điều

- Giai đọan thực chứng: từ năm 1800 trở đi, tin vào khoa học mọi người giờ đây có xu

hướng ngưng tìm kiếm các nguyên nhân tuyệt đối (Thượng đế hay tự nhiên) và thay vào đó tập trung vào quan sát thế giới xã hội và thế giới tự nhiên để tìm kiếm các qui luật vận hành của chúng

b Herbert Spencer (1820-1903)

Herbert Spencer là nhà xã hội học người Anh, do ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Darwin (1809-1882), ông đưa ra quan điểm tiến hoá xã hội Theo ông, chỉ có các cá nhân nào, hệ thống xã hội nào có khả năng thích nghi nhất với môi trường xung quanh thì mới có thể tồn tại được trong cuộc đấu tranh sinh tồn, “survival of the fittest” Cũng như mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội vận động và phát triển theo quy luật

c Emile Durkheim (1858-1917)

Durkheim, là nhà xã hội học người Pháp, xem xã hội như là một thực thể bao gồm nhiều bộ phận- hệ thống chính trị, hệ thống tôn giáo, hệ thống gia đình Khi xem xét bản chất của một xã hội phải xem một cách toàn bộ chứ không thể xem các bộ phận một cách riêng lẽ Theo Durkheim, nhóm hoặc xã hội là đối tượng trung tâm của nghiên cứu xã hội học chứ không phải là cá nhân Durkheim đã thấy rằng cá nhân con người là một sinh vật bị động họ có cách cư xử, suy nghĩ bị chi phối, ảnh hưởng bởi sự mong chờ, luật tục, phong tục của nhóm Cách tổ chức và thiết kế của mỗi xã hội đều có ảnh hưởng đến con người sống trong xã hội đó Ví dụ, ông ghi nhận rằng tự tử xảy ra ở các xã hội đô thị hiện đại nhiều hơn các xã hội nông thôn, nông nghiệp Ông giả thiết rằng sư khác biệt này là do các xã hội nông thôn, nông nghiệp được tổ chức đồng nhất và ít thay đổi hơn điều đó làm cho các nhân cảm nhận rõ hơn về ý nghĩa hành động của họ và mối liên hệ với những người khác, cuộc sống của họ ổn định hơn

d Karl Marx (1818- 1883)

Karl Marx là nhà kinh tế – chính trị – xã hội người Đức, là một trong những người đầu tiên và là người tiêu biểu quan trọng của lý thuyết xung đột Lý thuyết xung đột, conflict theory, rất khác so với trường phái chức năng Những nhà theo trường phái chức năng có xu hướng xem xã hội ở trạng thái cân bằng, hợp tác, hoà đồng, trong khi đó những nhà học thuyết xung đột xem sự cạnh tranh, xung đột xã hội tạo thành nền tảng của nhóm và đời sống xã hội

- Về quy luật phát triển của lịch sử, Marx đã chỉ ra rằng, lịch sử xã hội loài người trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa

e Max Weber (1864-1920)

Trang 7

M.Weber là nhà xã hội học người Đức, cho đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên là các sự kiện vật lý của thế giới tự nhiên, còn đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội là hoạt động xã hội của con người Tri thức khoa học tự nhiên là sự hiểu biết về thế giới tự nhiên có thể giải thích nó bằng các quy luật khách quan, chính xác Còn tri thức khoa học xã hội là sự hiểu biết về xã hội do con người tạo ra

Có 4 loại hành động xã hội:

- Hành động duy lý-công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa

chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả nhất: hành động kinh tế;

- Hành động duy lý-giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động Loại

hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý: hành vi tín ngưỡng;

- Hành động duy lý truyền thống: là hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong

tục, tập quán được truyền từ đời này sang đời khác: “hành động theo người xưa”, “ các cụ dạy”,…

- Hành động duy cảm (cảm xúc): là hành động do cảm xúc hoặc tình cảm bộc phát gây ra

mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích: như hành động đám đông quá khích…

Trang 8

CHƯƠNG II: VĂN HÓA & XÃ HỘI

Dưới con mắt của các nhà xã hội học, con người là một “sinh vật của xã hội”, tức là con người với

tư cách là một thành viên của một nhóm, của một xã hội nào đó Các nhà xã hội học hướng sự chú

ý của mình vào những khía cạnh xã hội ở cá nhân nhưng không phải các cá nhân đơn lẻ với những thuộc tính riêng mà vào những mối quan hệ và những mô hình ứng xử cá nhân như là thành viên trong nhóm đó Họ quan niệm cá nhân là sản phẩm của các thiết chế văn hoá và xã hội của họ Hay nói cách khác, ứng xử của con người chịu ảnh hưởng của tác động tương hỗ trong xã hội (các mối quan hệ trong nhóm, giữa các tầng lớp xã hội như giới tính, dân tộc, giai cấp xã hội, nghề nghiệp…) Con người khác động vật ở chỗ họ hành động và ứng xử có ý thức và theo các chuẩn mực, giá trị của xã hội với tư cách họ là thành viên Đây là biểu hiện của nét văn hoá của xã hội đó

I VĂN HOÁ LÀ GÌ?

Văn hóa là phương tiện ứng xử của con người, với tư cách là một phản ánh các nét truyền

thống của các cá nhân trong một xã hội hay mọi tiến bộ xã hội nào đó Văn hóa là những nét giống nhau, những cái mà mọi người cùng nhất trí đồng tình cho là đúng và có cách nhìn giống nhau Mỗi xã hội hoặc một nhóm xã hội nhất định có một nét văn hóa riêng đặc thù (chỉ phù hợp với nó) và có thể không phù hợp với những xã hội hay nhóm xã hội khác Do đó, không có những đánh giá “đúng/sai” đối với văn hóa, và xã hội học cho rằng cái đúng – cái sai được xác định bởi hệ thống giá trị và hệ thống tín ngưỡng của nhóm

Vậy văn hoá là gì? Nó là tổng thể những hành vi học hỏi được, là “những giá trị, niềm tin, ngôn ngữ, luật pháp và kỷ luật” của các thành viên sống trong một xã hội nhất định nào đó Thuật ngữ “văn hóa” được bắt nguồn từ chữ Latin “Cultus”, nghĩa là gieo trồng, như gieo trồng trên ruộng đất hoặc là gieo trồng tinh thần, tức là giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người Thuật ngữ này ngụ ý rằng việc bồi dưỡng con người ngay từ khi còn bé cũng giống như ươm mầm và chăm sóc cây non, luôn dành cho nó những cái gì quý báu và quan tâm cẩn thận nhất

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hoá Ví dụ, các nhà tâm lí học cho rằng văn hoá là toàn thể những môn học cho phép cá nhân trong một xã hội nhất định đạt tới sự phát triển nào đó về bản năng, ý thức phê phán, các năng lực nhận thức và khả năng sáng tạo Trong khi đó, các nhà triết học thì cho văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội và đặc trưng cho trình độ đạt được trong

sự phát triển lịch sử của xã hội Dưới góc độ xã hội học, văn hóa là sản phẩm của con người, là các quan niệm về cuộc sống, cách tổ chức cuộc sống ấy Nó là đặc trưng cho một xã hội nhất định và đem lại diện mạo, bản sắc riêng của nó.

Hay nói cách khác, văn hóa là các giá trị có tính chân lí, các chuẩn mực và mục tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và trải dài theo thời gian

II CÁC LOẠI HÌNH VĂN HOÁ

Xét về các mối quan hệ giữa người và người, có thể tạm chia ra làm 4 loại hình văn hoá sau:

Trang 9

 Hành động: là các mô hình ứng xử giữa các cá nhân tương ứng và các chuẩn mực giá trị

của xã hội Ví dụ: nhường chỗ ngồi trên xe buýt cho cụ già và phụ nữ có thai là một hành động văn hoá

 Đồ vật: Là những sản phẩm do con người tạo ra, bao gồm tất cả những gì do một nhóm

hay tập thể xã hội tạo ra và sử dụng Ví dụ: Chùa Một Cột là một di tích (đồ vật) văn hóa, ghe bầu Nam bộ là một phương tiện/công cụ văn hóa

 Tư tưởng: Bao gồm các tín ngưỡng và kiến thức được truyền lại trong xã hội hay những

cái mà chúng ta biết, hay tin là có thật đều thuộc khía cạnh tư tưởng của văn hóa Ví dụ: thờ cúng ông bà là tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam nhưng tin vào thần lửa là tín ngưỡng của người Ba Tư xưa

 Tình cảm: Thái độ và giá trị liên quan đến cảm xúc, dùng để đánh giá về cái tốt – cái

xấu, cái đúng – cái sai Ví dụ: Có hiếu với bậc sinh thành là nét văn hóa tình cảm của người Việt Nam Nhưng đối với một số vùng ở Nhật Bản, người con có hiếu phải là người giúp đưa cha mẹ đã già yếu đến những ngọn núi giá lạnh hoang vu để tự sinh tự diệt Nhìn chung, văn hoá là sản phẩm của con người, do đó nó bao gồm cả hai khía cạnh: vật chất và phi vật chất Các nhà xã hội họccho rằng, một nền văn hóa có hai bộ phận, hay hai loại

hình văn hóa: đó là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần:

 Văn hóa tinh thần: là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn

mực… tạo nên một hệ thống

 Văn hóa vật chất: đó là những vật phẩm do con người tạo ra để phân biệt họ với người

khác (như công cụ sản xuất, nhà ở…) Nó luôn đặt trong một nội dung tinh thần Mỗi nền văn hóa đều bắt rễ trên một mảnh đất sinh, tử, phát triển và phụ thuộc vào một môi trường sinh thái Nó qui định các kỹ thuật được tạo ra, lẫn việc sáng tạo ra các sản phẩm

Ví dụ, trống đồng được tạo ra với các biểu tượng là hoa văn chim lạc

III CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HOÁ

Hành động của con người là hành động có ý thức và rất phức tạp Để hiểu bản chất của một hành động bất kỳ, cần phải xem xét các khía cạnh sau: bản năng, sinh tồn, văn hoá, truyền đạt biểu tượng, phong cách sống, cơ hội sống

1 Bản năng: Là ứng xử mang tính bẩm sinh, không cần qua quá trình học hỏi Ví dụ: trẻ

đói thì khóc, vui => cười, nóng => rụt tay Mọi hành động thuộc bản năng đều giống nhau ở mọi con người (có tính rập khuôn)

2 Sinh tồn: Người ta thường cho rằng con người có “bản năng” sinh tồn Tuy nhiên, nếu

khát vọng sinh tồn là phổ biến ở nhiều người thì các hành động nhằm sinh tồn lại khác nhau Ví dụ: ăn để sinh tồn, nhưng người Việt và Hàn có thể ăn thịt chó, còn người châu Aâu thì không Người Mỹ thường ăn gà rán (KFC), người Pháp ăn gà nấu rượu vang, người Aán Độ ăn cà ri gà, còn người Việt ăn … tất cả các món đó

Ngay từ khi mới sinh, con người phải phụ thuộc vào người khác (cha mẹ, ông bà…) để sinh tồn Khi đứa trẻ dần dần lớn lên thì cũng là lúc chúng dần dần học được cách sinh tồn Những hành động để sinh tồn này phản ánh truyền thống và môi trường của xã hội mà chúng lớn lên Ví dụ, một đứa trẻ lớn lên ở miền quê thường phải biết làm ruộng để sinh tồn, nhưng đứa trẻ giống

ở miền hoang mạc Mông cổ phải biết cưỡi ngựa chăn nuôi trâu bò để tính kế sinh nhai Con người ngay nay muốn sống phải làm việc để có tiền mua lương thực, khác với con người 10.000 năm trước đây phải đi săn bắt hái lượm để tồn tại

Trang 10

3 Khả năng truyền đạt: Một điều kiện quan trọng để đánh dấu con người tách khỏi

động vật là khả năng thông đạt Chính nhờ sự giao tiếp bằng biểu tượng mà con người dễ dàng hấp thụ văn hoá và thực hiện việc truyền văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác

Sự truyền đạt bằng biểu tượng được thể hiện qua 3 hình thức: ngôn ngữ nói, viết, và hành

vi không lời:

 Ngôn ngữ nói: là các khuôn mẫu âm thanh chứa đựng những ý nghĩa gắn liền với nhau

Ngôn ngữ bằng lời nói đem lại thuận lợi nhất cho việc giáo dục và truyền đạt cho nhau

Ví dụ: thử tưởng tượng bạn nhờ một người khác nhặt giùm một món đồ khi hai tay đang bận Nếu không dùng lời nói, thì có lẽ tốt hơn hết là bạn tự thân nhặt lấy vì như thế còn dễ dàng hơn là tìm cách cho đối phương hiểu bạn nhờ họ giúp gì?

 Ngôn ngữ viết: là sự ghi lại những lời nói hay những ý nghĩ thành ngững kí tự/hình vẽ

theo một qui tắc nào đó Đây chính là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo cho việc học hỏi và bảo tồn di sản văn hóa Ngôn ngữ viết có từ thời rất xa xưa với những chữ tượng hình trên vách đá Hiện nay, chữ viết đã được phát triển thành những hệ thống quy tắc khá chặt chẽ Tuy nhiên, giống như ngôn ngữ nói, chữ viết cũng không ngừng phát triển và biến đổi để phù hợp với mục đích sử dụng con người (Ví dụ: có thể thể tạm chấp nhận các thông tin lưu giữ dưới dạng băng từ, đĩa CD, máy vi tính, internet… là một dạng ngôn ngữ viết mới Các dạng này thậm chí lấn át chữ viết truyền thống Vấn đề đặt ra là những thông tin này tồn tại không những ở dạng chữ viết (điện tử) mà còn là hình ảnh, âm thanh, biểu tượng…

 Hành vi không lời: là việc trao đổi các ý nghĩa thông qua các yếu tố phi ngôn ngữ và chỉ

sử dụng các điệu bộ, cử chỉ hay tư thế (như chuyển động tay chân, mắt, môi, nụ cười, nhếch mép…) Những hành vi không lời này có khi giống nhau nhưng khác nghĩa nhau (ví dụ hành vi gật đầu thường biểu thị là đồng ý, nhưng đối với một số nước Châu Mỹ La Tinh (Columbia) và Đông Aâu (Bungary) thì có nghĩa là không

3 Phong Cách sống: Là lối sống được qui định bởi nội dung truyền thống được mệnh danh là

văn hoá, hay nói cách khác, đó là cách ứng xử của các thành viên đã được qui định khác nhau về văn hoá Điều này có nghĩa là mọi người phải có cách sống, cách ứng xử với các việc sao cho phù hợp với đòi hỏi của mọi người (Ví dụ: bà mẹ dù rất lo lắng cho con những vẫn đè nén tình cảm động viên con đi đánh giặc) Và rõ ràng là tình cảm và cách ứng xử của con ngươi không phải lúc nào cũng tương xứng nhau Sự sai biệt giữa lí tưởng và hành động hiện thực này đưa đến một tập hợp những phong cách sống rất khác biệt giữa những người trong xã hội Tuy nhiên, trong mỗi nền văn hoá nhất định đều có những phong cách sống chung mà mọi người đều noi theo

IV NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA

1 Văn hóa là cái được học tập

Văn hóa không mang tính bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình học hỏi: học những cách mô hình ứng xử tương ứng với hoàn cảnh đã được xác định với sự chờ đợi của người khác Khi xảy ra một sự việc thì mọi người chờ ở ta một cách ứng xử với xu hướng chung theo mô hình chung Ví dụ, hai người quen gặp nhau, ứng xử được mong đợi ít nhất là hai người chào nhau; Hoặc khi một người nào đó chưa quen với việc xếp hàng khi mua sắp, có thể họ sẽ chen lấn giành mua trước gây cãi cọ, tranh giành Có thể anh ta nhận ra chen ngang không là ứng xử tốt, và bắt đầu học cách xếp hàng khi mua sắm Dần dần, việc xếp hàng trở thành thói quen và dễ dàng trở thành truyền thống nếu có nhiều người cũng trải qua tình trạng giống như anh ta vậy

Trang 11

Sự tương đồng trong các hành động cho thấy rằng các thành viên của xã hội đều học giống như nhau về các mô hình ứng xử truyền thống của xã hội Quá trình học hỏi ấy diễn ra trong mối tác động qua lại trong xã hội và phụ thuộc vào khả năng ngôn ngữ trừu tượng

2 Văn hóa có thể truyền đạt được

Văn hóa có bản tính tích lũy qua thời gian do nội dung của nó có thể truyền đạt lại từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác (ví dụ: Văn Miếu, Quốc Tử Giám có từ lâu đời, tư tưởng trọng nam khinh nữ có từ đời chiến quốc và tồn tại đến gần đây ) Và vì vậy,

văn hóa có tính chất xã hội, thường không có sẳn, không luôn trùng khớp với ứng xử hiện thực và mang tính chất làm thỏa mãn và thích ứng với môi trường xã hội

Văn hóa có tính chất xã hội vì nó đi theo xã hội một cách liên tục Nó có được là do quá

trình tác động qua lại giữa các cá nhân với nhau trong xã hội thông qua hoạt động học hỏi và tích lũy kinh nghiệm Trong quá trình tác động qua lại này các mô hình được phát triển từ những cái đã được xác lập thành quy tắc hay là những cách hành động đã được mọi người chấp nhận Khi đã xác lập được các mô hình này thì văn hóa xuất hiện Quá trình này diễn ra thông qua sự đồng tình giữa các thành viên (dù không phải là 100%)

Vì là một quá trình học hỏi và tích lũy, văn hóa không phải là cái có sẳn Mỗi cá nhân

khi hòa mình vào xã hội luôn phải học hỏi và thích ứng với những quy tắc hay mô hình hành động mới Điều này có thể minh chứng thông qua sự hòa nhập của người Việt Nam (ăn cơm bằng đủa) khi sang sống ở các nước phương Tây (ăn bằng thìa và nĩa) và ngược lại

Văn hóa ký túc xá: Một ví dụ gần hơn, các sinh viên mới nhập học thường được cho ở trọ tại Ký

Túc Xá Họ có thể đầu tiên phải học kỹ nội quy của Ký túc xá, phải ở giường tầng, phải cùng sống chung với nhiều bạn mới đến từ những vùng quê khác nhau, phải tự nấu cơm hoặc ăn cơm bụi, phải chịu sự quản lý về giờ giấc Những điều này có thể hòan toàn trái ngược với mô hình văn hóa ở gia đình hay quê nhà Và họ ta buộc phải học hỏi và thích nghi Và dần dần giữa những con người trong KTX hình thành một mô hình hành động mới: ăn, uống, ngủ nghỉ, học tập, vui chơi, bạn bè, yêu đương, v.v Những cái này gộp lại thành một loại văn hóa, vừa cũ lại vừa

mới, văn hóa ký túc xá

Bên cạnh đó, các tư tưởng về văn hóa không luôn trùng khớp với ứng xử hiện thực Ví dụ người Việt Nam có tinh thần yêu nước, nhưng vẫn có kẻ làm tai sai cho giặc Trong văn hóa, những quan niệm của chúng ta về cái gì nên làm và cái gì không nên làm thường mang hình thức lý tưởng Những cái gì được gọi là văn hóa thì được mọi người quan niệm là đúng nhưng trong thực tế không phải ai cũng thực hiện theo quan niệm đó

Văn hóa có tính chất thỏa mãn nhu cầu vì các mô hình ứng xử thường đưa ra những phương thức làm thỏa mãn nhu cầu (ăn, uống, xây nhà, lập gia đình ) Để thỏa mãn cơn đói thì

ta phải ăn, muốn có cuộc sống tiện nghi thì ta phải xây nhà đẹp và hiện đại Hoặc trước đây, muốn bảo tồn tài sản thì anh em họ người Trung Quốc có thể cưới nhau, hay thậm chí gần đây ở Ấn Độ người em trai chồng phải cưới chị dâu sau khi anh trai mình mất Vấn đề là văn hóa luôn thích ứng với sự thay đổi của thời đại và môi trường xã hội Tìm hiểu được sự thay đổi về văn hóa của một xã hội nhất định, chúng ta có thể phần nào đánh giá được những biến chuyển trong các giai đoạn phát triển của xã hội đó

Trang 12

V VĂN HÓA PHỤ

1 Văn hóa phụ là gì?

Các nhóm xã hội luôn luôn có những mô hình ứng xử riêng biệt mang nét đặc thù của mình, tức là có nét văn hóa riêng, hay ta còn gọi là văn hóa phụ Ví dụ: văn hóa phụ của nhóm sử dụng ma túy, của một băng cướp, hoặc của một nhóm sinh viên chuộng xe Vespa, một nhóm thành viên của diễn đàn online Ngoài ra, còn có thể kể đến các hình thức văn hóa phụ khác như phương ngôn, tiếng lóng, y phục, món ăn, âm nhạc

Chúng ta có thể tìm thấy sự đồng tình trong lòng những văn hóa phụ Nhưng chúng ta cũng có thể tìm thấy nhiều bất dồng giữa những văn hóa phụ với nhau hoặc giữa văn hóa phụ với toàn xã hội nói chung Sự tương tác hay xung đột giữa các văn hóa này có thể là điểm mấu chốt để tìm hiểu về hành vi con người, ví dụ để nghiên cứu tại sao một nhóm đối tượng có khuynh hướng phạm tội, hoặc khuynh hướng quậy phá trong nhà trường

2 Một số loại hình văn hóa phụ

Văn hóa phụ ma túy (của giới hút ma túy) hay văn hóa phụ mafia là những dạng văn hóa

đối nghịch với những giá trị và nguyên tắc của xã hội Không phải mọi văn hóa phụ đều là văn

hóa đối nghịch Do đó, cần tìm hiểu kỹ về sự khác biệt về văn hóa, phân tích những hệ quả và nguyên nhân của chúng để tránh đưa ra những đánh giá sai lầm khi gặp những khác biệt về văn hóa trong giao lưu giữa các truyền thống văn hóa khác nhau

Trang 13

CHƯƠNG III: XÃ HỘI HĨA VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH

I XÃ HỘI HĨA LÀ GÌ?

1 Khái niệm

Một đứa trẻ sinh ra khơng mang sẵn bản chất xã hội, mà chỉ cĩ các phản xạ bẩm sinh Theo

thời gian, cùng với quá trình phát triển thể chất, đứa trẻ dần dần học được từ bố mẹ và những người xung quanh cách sử sự Quá trình hình thành ý thức trong cách ứng xử của đứa trẻ này được gọi là quá trình xã hội hĩa Hay nĩi cách khác, quá trình xã hội hĩa là quá trình mà trong đĩ chúng ta cĩ thể

tiếp nhận nền văn hĩa của xã hội, cĩ thể học được cách suy nghĩ và ứng xử hợp với đặc trưng của xã

hội

Trong quá trình xã hội hĩa, cá nhân thu thập kinh nghiệm xã hội và học các chuẩn mực, khuơn mẫu một cách tự nhiên mà khơng chống đối lại được Ví dụ: một đứa trẻ được cha mẹ dạy cho cách ăn uống, tư thế ngồi, ăn, giao tiếp như khi ai cho cái gì phải cảm ơn, nếu khơng sẽ bị khiển trách Mỗi cá nhân được xã hội mặc cho một chiếc áo văn hĩa phù hợp theo cách nhìn của xã hội với từng nơi, từng thời điểm và từng giai đọan của cuộc sống Tuy nhiên, cá nhân khơng cĩ quyền tự

chọn chiếc áo văn hĩa đĩ

Khi cá nhân phát triển đến một lúc nào đĩ, cá nhân khơng chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã

hội mà cịn tham gia vào quá trình sáng tạo ra các kinh nghiệm xã hội

2 Định nghĩa xã hội hĩa

Theo Neil Smelser (Mỹ), xã hội hĩa là “quá trình mà trong đĩ cá nhân học cách thức hành

động tương ứng với vai trị của mình để phụ vụ tốt cho việc thực hiện các mơ hình hành vi tương ứng

v ới hệ thống vai trị mà cá nhân phải đĩng trong cuộc đời mình”

Trong định nghĩa này, vai trò cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực Neil Smelser chưa đề cập đến khả năng sáng tạo của cá nhân mà lịch sử đã chứng minh Những nhà tư tưởng đã tạo ra hàng loạt những chuẩn mực, giá trị…có những giá trị được thể hiện trong quốc gia, có những giá trị được thể hiện trên toàn thế giới, đó là những nhà chính trị, nhà giáo dục học, những nhà văn hoá nổi tiếng

Fichter ( nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ khác) đã xem “ xã hội hoá là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động

và sự thích nghi với những khuôn mẫu”

Nhà xã hội học người Nga G.Andreeva, đã nêu được cả hai mặt của quá trình xã hội hoá Theo bà, xã hội hoá là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào xã hội, vào hệ thống xã hội ; Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động bằng các mối quan hệ thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các quan hệ xã hội

Như vậy cá nhân trong xã hội hoá, không chỉ là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyển hoá nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo “sản xuất” chúng trong xã hội Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hoá, là sự thu thập kinh nghiệm xã hội để hình thành nhân cách, cá tính của mình Mặt thứ hai của quá trình xã hội hóa là cách con người thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hành động của mình, đó là lúc con người thể hiện nhân cách, hay cái tôi của họ

Như ta đã nói ở trên, xã hội hoá là một quá trình, vậy thì nó có bắt đầu, có diễn biến và có kết thúc

3 Các giai đoạn của quá trình xã hội hoá

Các nhà xã hội học gần như đã thống nhất với nhau 3 giai đoạn của xã hội hoá (tuy nhiên, mỗi trường phái có sự đánh giá khác nhau về tầm quan trọng của từng giai đoạn):

Trang 14

Giai đoạn xã hội hoá ban đầu của đứa trẻ trong gia đình: Môi trường gia đình là môi

trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của cá nhân, bởi vì hầu hết cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình, chịu sự giáo dục về những quan niệm đúng, sai của riêng gia đình và các phương cách ứng xử chuẩn bị cho việc gia nhập xã hội lớn hơn Có thể xem gia đình như một tiểu văn hóa, với nền giáo dục, lối sống, truyền thống của gia đình, v.v mà cá nhân sẽ tiếp nhận các đặc điểm này Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của gia đình thường là không chính thức và không có chủ đích, vì nó là sản phẩm của sự tương tác qua lại giữa những người sống gần gũi nhau về mặt tinh thần và thể chất Sự tiếp thu trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa này không đơn thuần thông qua những lời răn dạy, mà còn thông qua các hành vi của thành viên trong gia đình1

Giai đoạn xã hội hoá diễn ra trong nhà trường: Dưới mái trường, trẻ con được học tập

và vui chơi và dần dần trở thành một con người của xã hội thông qua hoạt động thu nhận những kiến thức ban đầu về ý thức trách nhiệm và xã hội, thông qua giao tiếp và dần dần hình thành các mối quan hệ xã hội Theo các nhà xã hội học, trường lớp không chỉ đơn thuần là cơ sở để truyền đạt kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên, văn hóa – kinh tế – xã hội làm nền tảng cho cuộc sống sau này, mà còn là các cơ quan xã hội chính yếu Khi đứa trẻ đến trường, nó không chỉ học các kiến thức, mà học cả những qui tắc và cách thức xác định hành vi

Giai đoạn con người thực sự bước vào xã hội để đảm nhận vai trò mà hai giai đoạn

trước đã được chuẩn bị đầy đủ Lúc này, cá nhân tham gia vào xã hộ thường dưới dạng thành viên của nhóm (từ nhóm sinh viên, nhóm có cùng sở thích, nhóm nghiên cứu, sáng tác, nhóm lập trình viên trẻ đến thành viên của các hội đoàn, các tổ chức chính thống của xã hội) Lúc này, quá trình xã hội hóa của cá nhân được thể hiện thông qua các chuẩn mực chính thức (của xã hội) hay không chính thức (của nhóm) Đây là một quá trình phức tạp và chồng chéo hơn nhiều so với hai giai đoạn trước, và thường là một quá trình liên tục và kéo dài đến suốt đời Trong quá trình này, cá nhân thực hiện một lúc nhiều vai trò khác nhau trong các nhóm xã hội và trong toàn xã hội (làm chồng, vợ, hay trở thành cán bộ công chức nhà nước…) Chính giai đoạn này cá nhân phát huy khả năng sáng tạo của mình nhiều nhất

Ranh giới giữa các giai đoạn trên không phải lúc nào cũng rõ ràng mà chỉ mang tính ước lệ Tức là nó không được phân chia một cách rạch ròi theo kiểu giai đoạn này kết thúc thì giai đoạn khác mới được bắt đầu Vì trong thực tế cuộc sống, cá nhân có thể đã đi làm, đã có gia đình, nhưng vẫn tiếp tục học tập và có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ quan hay trong quan hệ vợ chồng, họ vẫn tìm đến cha mẹ để tìm một lời khuyên Như vậy, quá trình xã hội hoá chỉ chấm dứt khi cuộc sống của chúng ta chấm dứt mà thôi

II SỰ HÌNH THÀNH CÁI TƠI CỦA CÁ NHÂN

Thơng qua quá trình xã hội hĩa, mỗi cá nhân dần dần nhập tâm những giá trị và chuẩn mực xã hội và

dần dần biến chúng thành những giá trị chuẩn mực của riêng mình Sự cá nhân hĩa các giá trị chân

lý, xã hội và qui tắc ứng xử để biến con người thành chủ thể xã hội này chính là quá trình hình thành

“cái tơi” của con người, hay nĩi cách khác, “cái tơi” chính là kết quả của quá trình xã hội hĩa

1 Cơ sở hình thành cái tơi của con người

Người ta thường đề cập đến “Cái tơi” nhằm nĩi kinh nghiệm của các cá nhân trong quá trình xã

hội hĩa cũng như những đặc trưng nhân cách của cá nhân ấy trong quá trình tương tác xã hội Theo

1 Điều này giải thích tại sao có hiện tượng “sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó”, hay cha mẹ đối xử thế nào đối với cha mẹ mình thì con cái sau này cũng đối xử với mình theo cách như vậy

Trang 15

lý thuyết biểu tượng của George H Mead, những tương tác biểu tượng là trung tâm của các tác động

hỗ tương trong xã hội và chính nó qui định kinh nghiệm xã hội đối với cá nhân Theo Talcot Parsons (1954), ứng xử của con người thường dựa trên 4 cấp độ:

 Cấp độ văn hóa, liên quan đến những truyền thống, chẳng hạn như thiết chế hay các giá trị

chuẩn mực

 Cấp độ xã hội, liên quan đến tổ chức và bao hàm những khái niệm như nhóm, địa vị, vai

trò…

 Cấp độ nhân cách, gắn liền với cái tôi và những khái niệm mô tả về cái tôi cũng những

những kinh nghiệm cá nhân

 Cấp độ cá nhân, liên hệ tới sinh vật sinh lý, cơ thể

Bốn cấp độ trên đều thuộc khía cạnh ứng xử của con người, và qua quá trình xã hội hóa, con người sẽ không ngừng học tập, cải thiện mình để lĩnh hội được những kỳ vọng đối với hành vi và giá trị mà xã hội đó thừa nhận Tuy nhiên, sự kiểm soát của xã hội bằng các chế tài chỉ là từ bên ngoài (ngọai tại), các thành viên trong xã hội luôn tự tìm cách điều chỉnh hành vi của mình để phù hợp với những phản ứng đã được trù liệu trước

2 Sự phát triển của cái tôi

Sự phát triển của cái tôi, theo lý thuyết biểu tượng, là quá trình cá nhân học hỏi để đáp ứng

lại các kì vọng của người khác về cách thức họ đánh giá bản thân và thể hiện mình Cái tôi được phát triển thông qua sự tác động qua lại với những người khác, được họ đánh giá, hướng dẫn Cái tôi mang tính phản chiếu và được Cooley (1922) mô tả thông qua hình tượng cái tôi trong gương: “cá

nhân th ực hiện hành vi nào đó và có thể tự quan sát hành vi của mình thông qua phản ứng của

cá nhân khác, sau đó lí giải những đánh giá phản ứng đó về những hành vi của mình” Nhờ đó,

cá nhân hiểu được cái tôi của mình và phản ứng tương đối với những đánh giá (dù chính xác hay không), bằng sự xấu hổ hoặc giận dữ (khi nhận được những phản ứng tiêu cực), hoặc tự hào (khi

nhận được phản ứng tích cực Những phản ứng của người khác là cơ sở cho sự đánh giá lại bản thân mình, và cũng là cơ sở để cá nhân ý thức về chính bản thân mình (cái tôi)

4 Một số lí thuyết về sự hình thành cái tôi

- Lý thuyết sinh học xã hội: cho rằng những yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định hành động

con người, ví dụ như quan điểm về phân loại chủng tộc cho rằng sự khác biệt chủng tộc quyết định sự khác biệt trong trí lực, sức kkhỏe của con người và vì vậy có người thông minh, có người ngu đần Những quan điểm này dễ dàng bị bác bỏ bằng phát triển phản xạ có điều kiện, và những nghiên cứu về lí thuyết hành vi cho thấy quá trình xã hội hóa mới là quan trọng (ví dụ: những đứa trẻ bị cô lập không phát triển bình thường được), yếu tố sinh vật chỉ đóng vai trò là điều kiện cần nhưng chưa đủ quyết định hành vi của con người

- Lý thuyết hình thành hân cách theo lứa tuổi: Theo Jean Piaget (1896-1980), quá trình hình

thành nhân cách của con người trải qua 4 giai đoạn: (1) Giai đọan cảm giác (0-2 tuổi), nhận thức

thị giác bằng các giác quan qua tiếp xúc mang tính vật chất; (2) Giai đoạn tiền thao tác (2-7

tu ổi), nhận thức thông qua biểu tượng và ngôn ngữ, đứa trẻ phân biệt tư tưởng và thực tại khách

quan bằng cách cho mình là trung tâm; (3) Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi), bắt đầu lý luận

nhưng dựa vào những tình huống cụ thể chứ chưa nâng lên mức trừu tượng; (4) Giai đoạn lý

lu ận hình thức (11 tuổi trở lên), có tư duy trừu tượng cao, có thể hình dung khả năng của thực

tế

- Lý thuyết Freud: do Etik Emikson sáng lập (ông là học trò của Freud), chú ý đến quá trình học

hỏi trong việc hình thành nhân cách con người Ông cho rằng sự hình thành cái tôi của con người

là một quá trình xã hội, trong đó cá nhânlựa chọn và cố gắng bắt chước hành vi người lớn hoặc

những người mình ngưỡng mộ (quá trình cố gắng đồng nhất hóa – Identification) Quá trình này kéo dài suốt cuộc đời của con người, nhưng những khía cạnh cơ bản nhất và quan trọng nhất được hình thành từ thời ấu thơ

- Lý thuyết về đạo đức, do Lowtence Kolbeng (học trò của Jean Piaget) sáng lập, chú ý quá trình

hình thành nhân cách về mặt đạo đức, thông qua 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn tiền qui ước, trong

đó hành vi đạo đức cá nhân chịu sự chi phối của các tiêu chuẩn chế tài (khen thưởng hay trừng

Trang 16

phạt); (2) Giai đọan qui ước, hiểu được cái đúng cái sai của luật lệ hay luật pháp; (3) Giai đoạn

hậu qui ước, cá nhân phân biệt được những qui chuẩn của luật pháp và các nguyên tắc đạo đức

Lí thuyết này bị phê phán là khơng chú trọng đến sự khác biệt giữa các nền văn hĩa và khác biệt giới tính

- Lý thuyết tương tác biểu tượng về sự hình thành cái tơi (George Herbert Mead khởi xướng

năm 1934): đưa ra sự giải thích về cách thức cá nhân học tập để đáp ứng lại các kỳ vọng của

người khác và cách thức họ tự đánh giá về bản thân mình mỗi khi bị phản ứng Cái tơi hình thành nhờ sự tương tác với người khác và nĩ quyết định cách thức hành động trong quan hệ xã hội cái tơi vừa là chủ thể (vì là tác nhân của hành động), vừa là đối tượng (vì cĩ thể nhìn chính mình qua

phản ứng của người khác) Quá trình này được phân tích thơng qua khái niệm phản ứng “cái tơi trong gương”, theo đĩ (1) cá nhân thực hiện hành vi và được mọi người xung quan quan sát và

phản ứng lại, (2) cá nhân tiếp nhận và lý giải những phản ứng của người khác đối với ứng xử của mình, (3) sau đĩ, cá nhân phản ứng lại với những đánh giá của những người khác bằng sự kiêu hãnh hay xấu hổ

- Trong khuơn khổ của lý thuyết tương tác biểu tượng, G Mead cịn đề ra những khái niệm về

“nh ững người khác nĩi chung”, và “những người khác cĩ ý nghĩa”: Khi cá nhân sống trong

xã hội và được kì vọng một số vai trị nào đĩ Kết hợp những vai trị được kỳ vọng này được gọi

là “những người khác nĩi chung”, theo đĩ khi cá nhân đĩng một vai trị nào đĩ, cá nhân cũng coi mình như người khác (ví dụ: cơ bé đĩng vai cơ bảo mẫu để chăm sĩc các búp bê) và thơng qua

đĩ làm cá nhân hiểu người khác hơn (cơ bé khi đĩng vai cơ bảo mẫu phải làm những cơng việc phù hợp với vai trị bảo mẫu, từ đĩ hình thành ý niệm về thái độ, hành vi ứng xử của người bảo mẫu) Tuy nhiên, đối với những người cĩ khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với hành vi của cá nhân (cha mẹn, anh chị, bản thân, thầy cơ), cá nhân ý thức về những người này như là “những người khác cĩ ý nghĩa”, và cố gắng làm điều gì đĩ để vừa lịng họ, mong muốn tuân theo lời khuyên hay hướng dẫn của họ, từ đĩ hình thành nhân cách

III VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ XÃ HỘI

Liên quan chặt chẽ với sự hình thành về cái tôi, ý thức của con người về địa vị và vai trò của mình trong xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến hành vi của họ

1 Địa vị xã hội:

Theo quan niệm xã hội học, địa vị xã hội là vị thế phản ánh một vị trí trong xã hội của cá nhân nào đó Mỗi vị thế quyết định chỗ đứng của mỗi cá nhân trong xã hội và mối quan hệ của cá nhân đó với những người khác Nó là sự đánh giá của cộng đồng xã hội đối với cá nhân, biểu thị sự kính nể, trọng thị của cộng đồng đối với cá nhân do thâm niên nghề nghiệp, tài năng, đức độ, tuổi tác tạo nên Một cá nhân có thể có nhiều vị thế xã hội tuỳ theo cá nhân đó tham gia hoạt

động trong nhiều tổ chức xã hội khác nhau Tuy nhiên, vị thế xã hội bao giờ cũng có một vị trí then chốt mà cá nhân gắn bó hoặc chuyên trách

Theo quan niệm xã hội học thì địa vị xã hội có thể chia thành hai loại:

Địa vị gán: là vị thế tự nhiên thế mà con người được gắn bởi những thiên chức, những đặc

điểm cơ bản mà họ không thể tự kiểm soát được như trẻ hay già, nam hay nữ…

Địa vị đạt được: là vị thế xã hội, phụ thuộc vào những đặc điểm mà trong một chừng

mực nhất định cá nhân có thể kiểm soát được, nó phụ thuộc vào sự nỗ lực phấn đấu và nghị lực của bản thân như anh có thể trở thành kỹ sư hay bác sĩ hay giám đốc…

Trang 17

2 Vai tròxã hội

Vai trò của cá nhân như là một vai diễn trên sân khấu, trong đó hàm chứa một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội Vai trò tức là tập hợp các chuẩn mực hành

vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Có 5 loại vai trò xã hội mà cá nhân thường đảm trách: (1) Vai trò định chế là vai trò cá nhân đóng phải theo cách thức nhất định mang tính chế tài của hành động theo khuôn mẫu đã được vạch sẵn của một tổ chức chính trị-xã hội nào đó (2) Vai trò thông thường là vai trò cá nhân bắt chước học hỏi một cách đơn giản (3) Vai trò kỳ vọng là vai trò cá nhân đảm nhiệm thì được nhiều người mong đợi và cá nhân đó cần phải đáp ứng sự mong đợi đó (4) Vai trò gán là vai trò do một tổ chức xã hội hay một nhóm xã hội gán cho cá nhân (5) Vai trò tự chọn là vai trò tuỳ theo ý muốn của cá nhân

Khi cá nhân thực hiện vai trò, tức là anh ta đang thực hiện những hành vi thực tế ứng với một địa vị xã hội đang chiếm giữ (ví dụ: sinh viên học bài, đi học, nghiên cứu tìm hiểu thêm) Và người ta sẽ không giông nhau trong việc thực hiện các vai trò của mình (ví dụ: không phải sinh viên nào cũng chăm chỉ học hành) Mỗi cá nhân có thể có nhiều vai trò, tạo thành tập hợp những vai trò (ví dụ: giảng viên vừa có vai trò của người thầy, người nghiên cứu, đồng nghiệp, thành viên trong gia đình…) Đôi khi, trong cuộc sống cá nhân buộc phải đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau cùng một lúc (ví dụ: một nữ giám đốc vừa điều hành một công ty, vừa là người mẹ, người vợ…) Mâu thuẩn có thể phát sinh khi các vai trò này xung đột với nhau về yêu cầu thời gian,

hiệu quả làm việc… gây nên sự xung đột vai trò (khi cùng lúc nắm giữ nhiều vai trò) hoặc căng

thẳng vai trò (khi cá nhân nhận thấy không thể đảm nhiệm nổi vai trò được trông đợi)

Nhìn chung, vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bao gồm thu nhập, uy thế nghề nghiệp, trình độ học vấn, chủng tộc, …

Chương IV: TỔ CHỨC VÀ THIẾT CHẾ XÃ HỘI

I Nhóm xã hội

Nhóm xã hội là một tập hợp người có liên hệ với nhau, về vị thế, vai trò, nhu cầu lợi ích và những định hướng giá trị nhất định Mỗi nhóm xã hội được hình thành có một kiểu đặc trưng quan hệ khác nhau

Nhóm là những bộ phận hữu cơ, để cấu thành nên xã hội Tuỳ theo cách phân chia, xã hội học phân theo nhiều loại hình, các độ khác nhau Nhóm theo nghĩa hẹp là nhóm nhỏ, nhóm theo nghĩa rộng là nhóm lớn Để thành lập nhóm, trước hết phải có 2 tiêu chuẩn:

- Số đông cá nhân: hai hoặc ba người trở lên

- Hành động của mỗi cá nhân trong nhóm phải có ý nghĩa với phản ứng của những người khác (sự tác động tương hỗ)

Tất cả cá nhóm đều có các đặc trưng bao gồm: tư cách thành viên, vai trò, địa vị, chuẩn mực, chế tài và mục tiêu rõ ràng Trong đó, ứng với mỗi nhóm, các đặc trưng này là hoàn tòan

Trang 18

đặc trưng và khác biệt nhau Theo GS TS C.H.Cooley (1999, người đầu tiên phân lọai nhóm), thì nhóm có thể bao gồm nhóm sơ cấp hoặc thứ cấp, nhóm tự nguyện hay không tự nguyện:

Nhóm sơ cấp: Nhóm tương đối nhỏ, các cá nhân có quan hệ trực tiếp gần gũi (ví dụ: gia

đình, bạn bè ngang hàng) Đặc trưng của nhóm này là có sự đồng nhất giữa các thành viên của nhóm, hành động mang tính tự phát, các chế tài không chính thức, quan hệ mang tính cá nhân và mục tiêu không rõ ràng

Nhóm thứ cấp: Nhóm có số lượng thành viên lớn hơn, mối quan hệ giữa các thành viên

không trực tiếp Các chuẩn mực và qui tắc ứng xử, tổ chức dựa trên quan hệ vai trò và địa vị Sự đồng nhất giữa cá thành viên thấp hơn nhóm sơ cấp Chế tài mang tính chính thức, mục tiêu rõ ràng, sự biến thiên bị hạn chế Ví dụ: công đòan, đòan thanh niên, tập thể…

Trong sự hình thành nhóm, thủ lĩnh được xem là thành viên có uy tín nhiều nhất và quan trọng nhất đối với nhóm Có hai hình thức thủ lĩnh:

- Thủ lĩnh công việc: là người trực tiếp điều hành nhóm, tổ chức, hướng dẫn các thành viên

nhóm hoàn thành nhiệm vụ của mình Đó là những người có kinh nghiệm và năng lực tổ chức, không nhất thiết là người có chuyên môn giỏi nhất

- Thủ lĩnh tinh thần: là người có khả năng tạo được bầu không khí vui vẻ, thỏai mái, làm dịu

đị không khí căng thẳng trong tập thể, là người có khả năng giải quyết các mâu thuẩn giữa các thành viên nhóm Thủ linh tinh thần không nhất thiết là thủ lĩnh công việc

Trong thực tế, ở mỗi nhóm hay tập thể có thể đồng thời tồn tại song song hai dạng thủ lĩnh trên, nhưng cũng có thể chí có một người đứng đầu đảm đương cả hai việc Vấn đề này liên quan cách thức lãnh đạo một nhóm, theo đó người ta chia ra làm 3 loại:

- Lãnh đạo kiểu độc đóan: lãnh đạo chủ yếu bằng các mệnh lệnh, buộc mọi thành viên trong nhóm phải thực hiện Kiểu lãnh đạo này thường chỉ có thể đảm nhiệm vai trò thủ lĩnh trong công việc mà thôi

- Lãnh đạo kiểu dân chủ: lãnh đạo không bằng mệnh lệnh, người thủ lĩnh chỉ hướng dẫn, gợi ý các ý tưởng, còn các quyết định dựa trên sự lựa chọn và quyết định của cả nhóm Đây là cách lãnh đạo có thể đảm nhiệm cả hai vai trò thủ lĩnh công việc và tinh thần

- Lãnh đạo thụ động: là kiểu lãnh đạo chung chung, không có sự quyết đóan Sự quan tâm đôi khi không liên quan đến mục tiêu của nhóm, tạo nên thiếu ý thức tự giác của các thành viên trong việc thực hiện mục tiêu của nhóm

Nhìn chung, trong xã hội hiện đại và phức tạp, các tổ chức thường lớn và chứa đựng nhiều nhóm nhỏ khác nhau Các nhà xã hội học không những quan tâm đến hoạt động của từng nhóm nhỏ mà còn quan tâm đến sự phối hợp và liên quan lẫn nhau Điều này liên quan đến các thiết chế xã hội, mà trong đó mỗi cá nhân phải tự điều chỉnh ứng xử của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của bản thân, của nhóm, và của tập đòan lớn hơn

II Thiết chế xã hội ( social institution)

Theo quan niệm xã hội học thì khái niệm thiết chế xã hội hay còn gọi là thể chế xã hội có thể thể hiện theo hai cách:

- Cách thức tổ chức xã hội với toàn bộ bộ khung của xã hội do luật pháp tạo nên

- Thiết chế xã hội dùng chỉ một tập hợp những giá trị chuẩn mực, quy tắc, thói quen hay tập tục được áp dụng trong xã hội và được thừa nhận

Thiết chế xã hội là một tập hợp bền vững các giá trị chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội Nó là một tổ chức nhất định của sự hoạt động xã hội và các quan hệ xã hội được thực hiện bằng một hệ thống của các hành vi con người với

Trang 19

các chuẩn mực và quy phạm xã hội Tất cả các thiết chế đều có các quy tắc chuẩn mực, điều luật và cả cơ chế vật chất của nó mà các nhóm xã hội phải tôn trọng, nó là chất kết dính giữa các cá nhân, các nhóm xã hội và sự điều tiết hoạt động của chúng

Trong một xã hội, thường tồn tại 5 loại thiết chế cơ bản làm nền móng cho toàn xã hội đó là: gia đình, giáo dục, tôn giáo, kinh tế và nhà nước ( chính trị) Mỗi một thiết chế đều có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng của nó Các thiết chế này tồn tại trong mọi xã hội, nhưng hình thức của các thiết chế này khác nhau trong các xã hội khác nhau Đó là những hiện tượng văn hoá, đã phản ánh được những đặc trưng riêng của mỗi xã hội

Sự nảy sinh thiết chế xã hội, là do điều kiện khách quan nhất định, biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế xã hội

Bản thân thiết chế xã hội, có sự độc lập tương đối và có sự tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế, xã hội Tồn tại trong xã hội, các thiết chế tuy có những đặc trưng riêng về chức năng và nhiệm vụ, nhưng lại liên quan rất chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống

Thuật ngữ hệ thống, ám chỉ các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau Vì vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, cái gì xảy ra ở bộ phận này có thể kéo theo sự biến đổi trong các bộ phận khác (xem sơ đồ 1)

Trang 20

Sơ đồ 1: Mối quan hệ tương hỗ giữa các thiết chế cơ bản trong xã hội

1 Thiết chế tôn giáo (Religious Institution):

Tồn tại ở hầu hết các xã hội, thiết chế tôn giáo đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người mà các thiết chế khác không thực hiện được Thiết chế tôn giáo đáp ứng mối quan tâm cơ

bản của con người về sự sống và cái chết Đáp ứng nhu cầu căn bản của con người là giải thích ý nghĩa của sự sống Thiết chế tôn giáo có các chức năng sau đây:

- Cung cấp một hệ thống các đức tin ( set of beliefs) nhằm giải thích, làm sáng tỏ các sự kiện

trong môi trường tự nhiên và xã hội mà không thể giải thích bằng cách khác

- Thoả mãn nhu cầu căn bản của bằng cách cung cấp cho con người các tôn chỉ xử thế, đạo

đức, và các nguyên tắc chủ đạo của một hành vi phù hợp

- Cung cấp một hệ thống các đức tin để giải thích các nguyên nhân và kết quả của tư cách của con người ở quá khứ, hiện tại và tương lai Nó trả lời câu hỏi tại sao con người tồn tại

- Hỗ trợ về mặt tinh thần và an ủi khi con người đối mặt với sự bấp bênh, lo lắng, thất bại, sự

chán nản, thất vọng

Các nhà xã hội học xem tôn giáo như là một sản phẩm của con người Emile Durkheim, người đã nghiên cứu tôn giáo của các bộ tộc ở Úc nhấn mạnh rằng tôn giáo hoàn toàn là một hiện tượng xã hội ( social phenomenon) Ông cho rằng nguồn gốc của tôn giáo là đời sống cộng đồng, và các tư tưởng, nghi thức tôn giáo biểu trưng cho đời sống cộng đồng Tôn giáo có thể được định nghĩa là hệ thống các đức tin và nghi lễ liên quan đến các vật linh thiêng (“ system of beliefs and practices relating to sacred things”) Marx có cách nhìn về tôn giáo khác hẳn với Durkheim Durkheim quan niệm tôn giáo, với các nghi lể, nghi thức của nó, như là thực hiện một chức năng cần thiết cho xã hội Marx cho rằng, tôn giáo là một dạng của nhận thức sai lầm và là một công cụ để biện minh, hợp thức hoá quyền lực của giai cấp thống trị Đối với Marx, một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở bất kỳ xã hội nào cũng là tôn giáo của giai cấp thống trị Tôn giáo phát triển như là một sự biện minh cho sự tồn tại của bấ bình đẳng xã hội và ủng hộ cho vị trí đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị của giai cấp cầm quyền Marx xem tôn giáo như là “thuốc

TÔN GIÁO

Khẳng định và củng cố hệ

thống quốc gia

NHÀ NƯỚC Quy định và sự tôn trọng pháp luật, phối hợp các hoạt động và dịch vụ

GIA ĐÌNH Xã hội hoá- thoả mãn nhu cầu bảo

vệ và hỗ trợ

KINH TẾ Sản xuất và phân phối hàng hoá nhằm

thoả mãn nhu cầu của các thành viên

trong xã hội

GIÁO DỤC Huấn luyện các thành viên câu hỏi về những địa vị: người trưởng thành, nghề nghiệp

Trang 21

phiện của quần chúng-opiate of people” phát triển giữa những người nghèo và người bị áp bức nhằm thích nghi với cuộc sống mà có ít thuận lợi hơn là khó khăn Hứa hẹn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn ở kiếp sau, giai lao động bị làm mù quán, không tin vào việc có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn ở kiếp hiện tại Mọi thiết chế tôn giáo đều kiềm chế sự thay đổi bằng cách ủng hộ và biện minh hiện trạng

Một số nhà xã hội học cho rằng tư tưởng của Marx đã không xem xét đến trạng thái độc lập của tôn giáo như là một sự kiện xã hội độc lập trong mối quan hệ của nó với cấu trúc giai cấp; hơn nữa, Ông đã không xem xét đến các nhiều chức năng khác mà tôn giáo đảm nhận trong xã hội

- Bài đọc tham khảo: Giới thiệu về các tôn giáo chính trên thế giới

Kh ảo luận về ảnh hưởng của các học thuyết triết học Phương Đơng

đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam

Th.S Nguyễn Đức Thành

Việt Nam là quốc gia nơng nghiệp, vị trí địa lý nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng giao thoa của các nền văn hĩa và tư tưởng triết học lớn trên thế giới – đặc biệt là triết học Ấn Độ và Trung

Quốc Trải qua lịch sử phát triển 4000 năm, với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau (như thời

kỳ Hùng Vương với văn minh đồng thau, thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, thời kỳ độc lập tự trị dưới

chế độ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc và chống Mỹ, và thời kỳ xây dựng đất nước tiến lên xã

hội chủ nghĩa như hiện nay) người dân Việt Nam ít nhiều tiếp thu các tư tưởng triết học của nhân

loại để phục vụ cho đời sống kinh tế - văn hĩa – tinh thần của riêng mình Trong đĩ, những tư tưởng triết học được xem là cĩ ảnh hưởng sâu rộng nhất là sự kết hợp của hệ tư tưởng Nho – Thích – Lão, kết hợp và dung hịa trên cơ sở bản địa hĩa các triết lý của Nho giáo, Phật Giáo và Lão giáo để ứng dụng vào đời sống kinh tế - văn hĩa – tinh thần thực tế của người dân Việt Nam

Phật giáo là một trường phái thuộc Triết học Ấn Độ cổ, ra đời vào cuối thế kỷ thứ VI trước cơng nguyên, do Phật Thích Ca Mâu Ni ( Siddhatta Gautama) sáng lập Đây là trường phái triết học khơng thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao và chi phối vũ trụ (Phật giáo cĩ quan điểm trái với quan điểm của kinh Veda, do đĩ bị các trường phái triết học cổ Ấn Độ xem là

tà giáo) Đạo Phật cho rằng vũ trụ là vơ thủy, vơ chung, là dịng biến hĩa vơ thường, vơ định nên khơng cĩ cái gọi là bản ngã, khơng cĩ thực thể, tất cả theo luật nhân quả biến đổi khơng ngừng

Tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ từ cái vơ cùng nhỏ đến cái vơ cùng lớn đều khơng thốt ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bổi hai thành phần - thể xác và tinh thần - được taọ nên từ ngũ uẩn, do đĩ cũng

biến đổi khơng ngừng Tuy nhiên, do khơng nhận thức được sự biến ảo, vơ thường của vạn vật

mà con người lầm tưởng mình tồn tại mãi, cái gì cũng trường định, của ta, là ta từ đĩ đi đến tham – sân – si – hỉ - nộ - ái– dục làm con người mắc vào bể khổ triền miên khơng dứt

Từ sự lý giải về nổi khổ của con người như trên, Phật giáo đề ra thuyết “Tứ diệu đế” (tức bốn chân lý) và “Thập nhị nhân duyên” để giải thốt chúng sinh mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân

hồi Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế (đời là bể khổ, khổ do các nguyên nhân về sinh, lão, bệnh, tử,

biệt ly, yêu, ghét, được, mất ), Tập đế (căn nguyên nổi khổ của con người là do lịng tham, sân,

si, cứ muốn mọi vật cĩ mãi nhưng thực tại lại luơn biến đổi khơng ngừng), Diệt đế (cách lần theo

Thập nhị nhân duyên, con người tìm ra cội nguồn nổi khổ và tìm cách dứt bỏ mọi hình thức đau

khổ, đưa chúng sinh thốt khỏi nghiệp chướng luận hồ, đạt tới cảnh trí niết bàn – một trạng thái thanh tĩnh, khơng ham muốn, khơng vọng động, diệt được nọi ái dục, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não ) và Đạo đế (con đường phải theo để diệt khổ, bằng cách đi theo trung đạo thơng qua

Trang 22

các phép tu Giới – Luật – Đạo để phá bỏ sự u mê, dứt bỏ được vô minh, nhận thức rõ về bản thân

và thế giới vạn vật và đạt tới cảnh giới niết bàn

Phật giáo được truyền từ Việt Nam từ khá sớm từ phía Bắc thông qua Trung Quốc (và phía Nam thông qua các nước Đông Nam Á) và sau đó là từ phía Nam Phật giáo phát triển cực thịnh tại

Việt Nam vào đầu thế kỷ thức X sau công nguyên, và được Nhà Lý tôn lên hàng quốc giáo Sau

đó, với sự thay thế của Nho giáo nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp phong kiến, Phật Giáo bị

giảm vai trò trong bộ máy chính quyền, nhưng nó đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân Phật giáo góp phần giúp người Việt Nam thức ngộ về đời sống thực tế của mình, đặc biệt là trong hoàn cảnh chịu sự đô hộ của ngoại xâm và sự áp bức bóc lột của tầng lớp địa chủ phong

kiến Nó giúp họ thức ngộ về cuộc sống dưới chế độ xã hội bất công, đòi tư tưởng bình đẳng xã

hội, giải thoát con người khỏi nỗi bi kịch của cuộc đời Tuy nhiên, do tư tưởng Phật giáo mạng

nặng tính yếm thế, bi quan, không đấu tranh tích cực cho cuộc sống mà chủ trương cuộc sống

“xuất thế”, “siêu thoát” nên nó cũng ảnh hưởng đến mặt được và mất trong đời sống tinh thần

của người Việt Nam: chuộng hòa bình, hiền hòa, sống tương thân tương ái nhưng khá thụ động

và không có tính đấu tranh cho một cuộc sống vật chất – tinh thần – xã hội tốt đẹp hơn, tuy cần

cù lao động nhưng dễ thõa mãn và tâm lý hưởng thụ còn nặng

Nho giáo phát sinh từ Trung Quốc từ thế kỷ thứ 3-4 trước công nguyên và du nhập vào Việt Nam cùng với sự biến đổi về cấu trúc thượng tầng xã hội thể hiện ở chế độ phong kiến cơ bản định hình vững chắc ở Việt Nam, giai cấp thống trị cần một hệ thống lý luận vững chắc phục vụ cho

lợi ích của mình Sau khi Nhà Lý diệt vong, nhà Trần thay thế, Nho giáo được xem như hệ tư tưởng chính của Việt Nam thời bấy giờ Nó tiếp tục phát triển và ăn sâu vào đời sống người dân thông qua các quy cách ứng xử, nhân, lê, nghĩa, trí, tín cũng như điều tiết các mối quan hệ trong

cuộc sống Nho giáo phát triển cực thịnh ở Việt Nam vào thời nhà Lê và kết hợp với Phật giáo

tiếp tục có ảnh hưởng sâu rộng đến tận ngày nay Những nhà tư tưởng tiên phong của Nho Giáo

là Khổng tử, Mạnh tử, và Tuân Tử

Khổng tử được xem là cha đẻ của Nho giáo, Ông cho rằng vạn vật trong vũ trụ luôn sinh thành,

biến hóa không ngừng theo mối liên hệ và tương tác giữa hai lực “âm” và “dương” trong một thể

thống nhất là Thái cực – hay là Đạo, hoặc Thiên lý Đạo hay Thiên lý có tính huyền vi, mạnh mẽ, lưu hành khắp vũ trụ nên con người không thể cưỡng lại được, và Khổng tử gọi đó là Thiên

Mệnh – mệnh trời Con người phải hiểu biết mệnh trời và nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận

lực thì mới là con người hoàn thiện Bên cạnh đó, quan điểm về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội

là một vấn đề cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Khổng từ, thông qua lý luận về “Thiên nhân tương đồng” Khổng tử là người đề ra hệ thống quan điểm về nhân, lễ, trí, dũng, “nhân trị”,

“chính danh”, “thượng hiền”, “tiểu nhân” tạo nên hệ thống nguyên lý đạo đức cơ bản quy định

bản tính con người và những quan hệ giữa người với người tính từ gia đình cho đến ra ngoài xã

hội

Chính điều trên đã tạo nên một hệ thống có quy cũ, nề nếp, và nhìn chung ổn định với những sắc

thái riêng trong đời sống xã hội của các nước Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Ví dụ,

Khổng tử lấy chữ “nhân” để làm nguyên tắc đạo đức quy định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người: con người phải giữ thái độ Trung Dung, tức là trung hòa giữa

âm và dương, trời và đất, sống đúng với mình và sống phải với người, dùng nhân đức để giáo hóa con người Từ nguyên lý đạo đức này, trong chính trị xã hội Khổng tử chủ trương không dùng pháp chế, hình pháp trị dân mà dùng “nhân trị” theo chủ nghĩa “chính danh, định phận” trong đó lấy việc làm ngay thẳng làm đầu, ai cũng có địa vị, bổn phận và khung cách hành xử chính đáng của người ấy (ví dụ như quan hệ vua tôi, quan hệ cha con, vợ chồng ) Ông quan

niệm một nước muốn thịnh trị phải là một nước có lễ nghĩa, đức, danh phận vẹn toàn Muốn

Trang 23

được như thế phải học đạo sửa mình để đạt được đức nhân, đạo sửa mình ở đây là phải học và làm theo “lễ” Lễ trước kia là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức có từ nhà Chu Lễ ở Khổng

tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật nhà nước như sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, triều sinh, luật lệ, hình pháp Lễ quan hệ mật thiết với nhân, khi đạt được cả lễ lẫn nhân thì xã hội ổn định, quan hệ người và người trong xã hội đều

“chính danh định phận”

Mạnh tử là người kế thừa và phát huy tư tưởng của Khổng tử, xây dựng hệ thống triết học duy tâm của Nho gia Tư tưởng chủ yếu nhất trong học thuyết của Mạnh tử là vấn đề triết lý nhân sinh với trọng tâm là học thuyết “Tính thiện”, cho rằng “bản tính con người ta là thiện” Con người có làm điều bất thiện, “chẳng qua là họ theo tự dục của mình” Tính thiện của con người

thể hiện ở 4 đức lớn: nhân – nghĩa – lễ - trí, bắt nguồn từ “tứ đoan” tức 4 đầu mối của thiện là :

biết thương xót, biết thẹn ghét, biết cung kính và biết phải trái Bản tính của con người là thiện vì

“tính là cái chung, cái bản chất của một loài”, ai sinh ra cũng biết nhận biết, phân biệt phải, trái,

tốt xấu như nhau Tính thiện của người xuất phát từ tâm, là chủ thể của tinh thần, là thần minh được trời phú cho con người Con người phải “tồn tâm dưỡng tính”, giữ gìn và bồi dưỡng tâm đức mới có thể giữ mình và không hại người Trên cơ sở học thuyết về Tính thiện, Mạnh tử đề ra

tư tưởng “nhân chính” trong phương pháp trị nước và đề cao dân quyền Ông cho rằng “dân vi quý, xã tắc thức chi, quân vi khinh”, có dân mới có nước, có nước mới có vua, đề cao sự ủng hộ

của nhân dân Điều này có thể nói phù hợp với tầng lớp nhân dân lao động ở mọi thời đại, cả ở Trung Quốc – Việt Nam lẫn ở các nước khác, đặc biệt trong thời đại dân chủ hiện nay Tuy nhiên, triết học của Mạnh tử còn mang nhiều yếu tố hạn chế như duy tâm, thần bí và đặc biệt là các quan niệm về luân lý đạo đức chủ yếu phục vụ cho giai cấp quý tộc thống trị đương thời Tuân tử là người theo học thuyết của Khổng tử, đề cao nhân nghĩa, lễ nhạc, chính danh nhưng ông lại đưa ra thế giới quan duy vật, vô thần, cho rằng tự nhiên gồm ba bộ phận: trời, đất, và người tách bạch nhau Sự biến hóa của vạn vật, sự thay đổi của vũ trụ do đạo Trời chi phối không liên quan đến sự sáng suốt hay hôn muội của giai cấp thống trị, Trời không thể quyết định

vận mệnh của con người Nếu ý chí con người hành động thuận theo trật tự của giới tự nhiên thì

sẽ được hạnh phúc, trái lại sẽ gặp tại họa Tuân tử khuyên con người hãy tự tin ở mình, biết làm

chủ mình, ra sức làm việc và tiết kiệm tiền của, con người có thể cải tạo được tự nhiên dựa vào tài trí và khả năng của mình chứ không chờ tự nhiên ban phát Về quan niệm đạo đức, ông cho

rằng bản tính con người là ác, việc đi tìm sự thỏa mãn về dục vọng sinh lý là bản tính của con người Do quan niệm “tính người là ác, thiện là do người làm ra” nên Tuân tử mặc nhiên công

nhận các “lễ nghĩa hình phạt” của giai cấp quý tộc và thể chế nhà nước phong kiến là tất yếu tồn

tại Tuy nhiên, điểm tích cực trong học thuyết “Tính ác” của Tuân tử là ông cho rằng hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành, phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã

hội và kết quả của sự học tập – giáo dục lâu ngày mà nên

Đạo gia (hay Lão Giáo) là một trong những trào lưu triết học cổ đại lớn của Trung Quốc Cùng

với nho giáo, ý thức hệ của đạo gia từng bước thâm nhập vào đời sống tinh thần và mối quan hệ

giữa người với người trong xã hội Việt Nam, thể hiện qua các tư tưởng về “Vô vi” của Lão tử, tư tưởng “vị ngã-con người vì mình” của Dương Chu, hay các quan điểm về đạo, về tự nhiên của Trang tử

Lão tử được coi là ông tổ của đạo gia Tư tưởng chủ đạo của ông thể hiện ở tác phẩm “Đạo đức kinh” thông qua các vấn đề cơ bản về học thuyết về đạo, tư tưởng về phép biện chứng, và học thuyết vô vi Ông cho rằng đạo là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới, là thực thể vật chất của

khối hổn độn, mập mờ, không đặc tính, không hình thể tồn tại tuyệt đối, vĩnh viễn trong vũ trụ

Nó là một phạm trù khái quát, là cái tất cả mọi vật từ đó sinh ra, vừa biến hóa vừa bất biến Đạo

Trang 24

sinh ra vạn vật nhưng không cho vạn vật là của mình, không chí phối vạn vật mà thuận theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật Từ đó, ông tìm ra quy luật của sự vật phát triển và biến hóa Ông cho rằng toàn thể vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là luật quân bình và luật phản phục

Luật quân bình luôn giữ cho vận động được thăng bằng, không có gì là thái quá Luật phản phục quy định vạn vật biến hóa nối tiếp nhau theo vòng tuần hoàn đều đặn, bất tận Từ đó, Lão tử dạy cho con người hành động theo quy luật tự nhiên, nhưng cho rằng con người không cần làm gì cả trước tự nhiên, không phải tích cực đấu tranh, cải tạo tự nhiên Trong xã hội, ông chủ trương

sống theo học thuyết “vô vi”, tức không làm gì, thuận theo bản tính tự nhiên của mình, không can thiệp vào guồng máy tự nhiên Từ đó, ông rút ra các điểm căn bản về nghệ thuật sống của con người là các đức tính: từ ái, cần kiệm khiêm nhường, khoan dung, tri túc và kiến vi Nhìn chung, đây là những đặc điểm tích cực thể hiện khá rõ nét trong đặc điểm tích cách con người

Việt Nam

Dương Chu, tuy xuất phát từ đạo gia, nhưng không bắt đầu từ “đạo” mà bắt đầu từ con người và đạo sống theo bản tính tự nhiên của con người Ông chủ trương con người hãy sống vì mình Con người sinh ra từ đạo tự nhiên, thuận theo bản tính tự nhiên con người phải biết bảo tồn sự sống

của mình bằng khả năng, bản tính tự nhiên vốn có của mình Khi phải dựa vào ngoại vật để nuôi

sống mình thì phải dùng mưu trí, chứ không ỷ lại vào sức mạnh được Từ đó, ông kêu gọi đề cao

tự do cá nhân, đòi quyền được sống cho mình, dẫn đến đề cao chủ nghĩa cá nhân, tự do vo chính

phủ, ước vọng thỏa mãn đến mức tối đa những tình cảm và ước muốn của mình, tận hưởng cuộc

sống Điều này khiến ta liên hệ đến những biểu hiện của đức tính anh hùng cá nhân và chủ nghĩa hưởng lạc ở một số bộ phận dân cư Việt Nam

Trang tử được coi là nhà tư tưởng lớn của Đạo gia, tư tưởng thể hiện chủ yếu ở tác phẩm “Nam Hoa Kinh” Ông chủ trương học thuyết “Trời đất cùng ta đồng sinh, vạn vật cùng ta là Một”, đạo

và mọi vật sinh ra từ đạo đều có bàn tính và khả năng tự nhiên của mình Ông cho rằng, những

hiện tượng thiện ác, đẹp xấu, lớn nhỏ, sang hèn, sống chết đều là những thứ như nhau Từ đó, Ông khuyên người ta nên xóa bỏ sự khác nhau và sự đối lập của thế giới thực tại và đi tìm trong

một tinh thần một thế giới thần bí, hư ảo không có sự khác nhau Điều này có thể thấy ở thái độ

“làm ngơ” trước bất cứ điều gì trong xã hội của một số người trong xã hội Việt Nam, làm ngơ dể

mặt cho sự vật phải trái tự nhiên phát triển, không cần phân biệt chân lý và sai lầm Điều này ngăn cản con người có sự phán đoán về mặt lý luận, thủ tiêu đấu tranh trong thực tiễn

Nhìn chung, Việt Nam trải qua một quá trình phát triển và biến đổi về hình thái kinh tế - xã hội khá phức tạp và lâu dài, đặc biệt là trải qua nhiều thời kỳ bị lệ thuộc – sau đó tự chủ - rồi lại bị lệ thuộc – tự chủ Do đó sự giao thoa và tiếp tiếp thu ảnh hưởng của các nền văn hóa, tư tưởng của các quốc gia khác là một tất yếu khách quan Một điều cần khẳng định là người Việt Nam có tinh

thần dân tộc rất cao, biết học tập và cái hay của thiên hạ, lược bỏ bớt các mặt tiêu cực trên cơ sở văn hóa ý thức dân tộc của mình, hòa đồng nhưng không hòa nhập2

Tuy nhiên, dù ích hay nhiều, các tư tưởng triết học Nho – Thích – Lão cũng bị giai cấp phong kiến thống trị sử dụng cho quyền lợi của mình, nên các nét tiêu cực và tích cực phần nhiều ảnh hưởng đến tính cách, đặc điểm lối sống của con người Việt Nam mà không phải một sớm một chiều có thể thay đổi được

Để kết thức bài này, người viết xin trích lại một số ý kiến trao đổi với các bạn học về những mâu thuẫn trong tính cách của con người Việt Nam như sau:

Người Việt Nam cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng

2

Tính riêng v ề tôn giáo, điều này có thể thấy thông qua cách tiếp cận và giải thích đạo lý của Đạo Cao Đài ở Tây Ninh – Việt Nam: “Tam giáo quy nguyên, ngũ chi hiệp nhất” (ba tôn giáo quy về một mối gốc, năm chi phái hợp lại thành một)

Trang 25

Thơng minh, sáng tạo, song chỉ cĩ tính chất đối phĩ, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động Khéo léo, song khơng duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hồn thiện cuối cùng của sản

Xởi lởi, chiều khách, song khơng bền

Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vơ bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời)

Cĩ tinh thần đồn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hồn cảnh, trường

hợp khĩ khăn, bần hàn Cịn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu cĩ hơn thì tinh thần này rất ít

2 Thiết chế giáo dục (Educational institution)

Một điểm khác biệt của xã hội hiện đại là giáo dục được tách rời ra khỏi tôn giáo và gia đình Mục tiêu cơ bản của thiết chế giáo dục là xã hội hoá thế hệ trẻ Durkheim nhấn mạnh vai trò của giáo dục chính thức như là một công cụ bảo tồn văn hoá Thiết chế xã hội của giáo dục phản ảnh hơn là làm biến đổi cấu trúc xã hội Lester Ward xem thiết chế này là phương tiện của sự tiến bộ xã hội, ở đó người được giáo dục tìm được niềm vui hạnh phúc như là một sản phẩm phụ quí giá Nó cũng có thể được xem là phương tiện để đạt được, nắm giữ quyền lực, sự giàu có và uy tín

Thể chế giáo dục rất cần thiết bởi hai sự thật không thể thay đổi được đó là: Văn hoá của loài người không phải là được kế thừa về mặt sinh học mà là được học hỏi; và đứa trẻ phát triển tính cách xã hội thông qua sự dạy dỗ và nuôi dưỡng chăm sóc của người lớn

Tài liệu tham khảo:

- Luật giáo dục nước cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2005

- Đề án đổi mới giáo dục

3 Thiết chế kinh tế (Economic Institution)

Là sự sản xuất hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ xã hội Nó bao gồm sự sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ sản phẩm Nó cũng đồng thời bao gồm các thiết chế phụ thuộc như tín dụng, ngân hàng, quảng cáo…

Bài đọc tham khảo:

- Việt Nam gia nhập WTO: Những Thỏa Thuận Và Thực Hiện Của Việt Nam Trong Các Hiệp Ước/Quy Định Quốc Tế Và Lợi Ích Của Chúng Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp, Nguyễn Đức Thành, 2003

Ngày đăng: 01/12/2022, 20:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Mối quan hệ tương hỗ giữa các thiết chế cơ bản trong xã hội - Bài giảng xã hội học
Sơ đồ 1 Mối quan hệ tương hỗ giữa các thiết chế cơ bản trong xã hội (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w