1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng môn Xã hội học

170 421 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự mong đợi của xã hội về hành vi được coi là thích hợp cho từng giới, giới không ám chỉ các đặc trưng về vật lý để phân biệt nam và nữ, mà ám chỉ đặc điểm nữ tính và nam tính đã được h

Trang 2

MỤC LỤC

THUẬT NGỮ CƠ BẢN 3

LỜI NÓI ĐẦU 12

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG XÃ HỘI HỌC 13

1.1 Xã hội học là gì ? 13

1.2 Phạm vi của xã hội học 13

1.3 Ngữ cảnh giao tiếp xã hội hay quá trình 14

1.4 Phát triển triển vọng xã hội 25

1.5 Liệu xã hội học có phải là một khoa học? 26

1.6 Lợi ích của xã hội học 27

1.7 Xã hội học tầm vi mô và vĩ mô, đối tượng nghiên cứu của chúng 28

1.8 Những vấn đề chính khi phát triển xã hội học 28

1.9 Định nghĩa tổ chức xã hội, cộng đồng và xã hội 30

1.10 Cộng đồng và lý thuyết học thuyết hệ thống xã hội liên quan tới cộng đồng 33

1.11 Các kiểu xã hội khác nhau 53

1.11.1 Xã hội trước hiện đại 53

1.11.2 Xã hội truyền thống, xã hội hiện đại trong quá trình phát triển 58

1.11.3 Xã hội trong thế giới hiện đại 59

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN KT, HIỆN ĐẠI HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÂN TẦNG XH 62

2.1 Các vấn đề của phát triển xã hội học 62

2.2 Các loại hình chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 62

2.3 Quyền sử dụng nguồn và các cơ hội, bất bình đẳng và sự cơ động xã hội 72

2.4 Sự thay đổi nghề và cấu trúc thu nhập do phát triển kinh tế xã hôi 76

2.5 Thay đổi về phân công lao động trong gia đình, cộng đồng và xã hội 83

2.6 Không có việc làm và thiếu việc làm ở nông thôn 85

CHƯƠNG 3 XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG CHUYỂN ĐỔI 96

3.1 Đặc điểm chung của xã hội Việt nam 96

3.2 Cá nhân, gia đình/ bộ tộc , làng và nhà nước trong xã hội chuyển đổi 104

3.3 Làng như một đơn vị pháp lý, hành chính và xã hội 106

3.4 Nông dân, làng và nhà nước trong xã hội nông thôn hợp tác 107

3.5 Sự thay đổi về các hình thức sở hữu và sử dụng đất 108

3.6 Tác động lên các kiểu nghề nghiêp và phân chia lao động ở nông thôn Việt Nam 113

CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, VĂN HOÁ VÀ KINH TẾ XÃ HỘỊ CỦA CÁC VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM 121

4.1 Thiếu đa dạng hoá kinh tế 121

4.2 Cơ sở nguồn hạn hẹp ở nông thôn 132

4.3 Sự khác biệt giữa các vùng ven biển 141

4.4 Hạ tầng cơ sở và cung cấp dịch vụ xã hội tại các vùng Ven biển 146

BÀI TẬP 169

Bài 1 Phát triển nguồn nhân lực 169

Bài 2 Di dân và tác động của nó 169

Bài 3 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nhóm quan tâm và các cơ quan phát triển .170

Trang 3

THUẬT NGỮ CƠ BẢN

Chức trách Quyền hợp pháp của một người hay một nhóm người Yếu tố hợp pháp rất

quan trọng đối với khái niệm chức trách Đây cũng là điểm chính để phân biệt chức trách với khái niệm quyền lực nói chung Quyền có thể thực thi bằng sức mạnh hay vũ lực Chức trách, trái lại, phụ thuộc vào sự chấp thuận của người dưới quyền về quyền của những người ra lệnh hay chỉ thị cho họ từ phía trên

Chế độ quan liêu Bộ máy có tính tôn ti trật tự, chức trách có dạng kim tự tháp Max

Weber đã phổ cập khái niệm này Theo đó, chế độ quan liêu là hình thức tổ chức quy mô lớn về người hiệu quả nhất Weber tranh cãi rằng, cùng với sự lớn mạnh về quy mô chế

độ này không tránh khỏi việc ngày càng quan liêu hơn

Giai cấp Đây là một trong những khái niệm hay dùng nhất trong xã hội học Tuy nhiên

nên định nghĩa khái niệm này thế nào là đúng nhất lại chưa có sự nhất trí rõ ràng Phần lớn các nhà xã hội học đều sử dụng khái niệm này để chỉ sự khác nhau về kinh tế xã hội giữa các nhóm người tao ra sự cách biệt về của cải vật chất và quyền lực

Cấu trúc xã hội Sự phân bố các tầng lớp trong xã hội Tầng lớp được dựa chủ yếu lên sự

bất bình đẳng về kinh tế mà sự bất bình đẳng này không bao giờ ngẫu nhiên Phần lớn các xã hội đều có một số lượng tầng lớp nhất định Chẳng hạn, trong xã hội hiện đại có các tầng lớp chính là tầng lớp trên, tầng lớp giữa, tầng lớp lao động và tầng lớp dưới

Hành động tập thể Hành động tự phát của nhiều người tập trung lại ở một điểm hay một

khu vực Một trong những dạng thức quan trọng nhất của hoạt động tập thể là cách cư xử của đám đông Trong đám đông, cá nhân có thể tìm cách đạt được mục tiêu mà họ không làm được trong hoàn cảnh bình thường

Giao tiếp Sự truyền đạt thông tin từ một người hay nhóm người sang người khác hay

nhóm khác Giao tiếp là cơ sở cần thiết của mọi tương tác xã hội Trong tình huống mặt đối mặt việc giao tiếp được thực hiện qua ngôn ngữ Tuy nhiên người ta cũng có thể dùng tay chân để hiểu điều người khác nói và làm Cùng với sự phát triển của chữ viết và các phương tiện như đài, vô tuyến truyền hình hay hệ thống máy tính, việc giao tiếp đã trở thành một bộ phận tách khỏi quan hệ xã hội trực diện

Xung đột Sự đối kháng giữa các cá nhân hoặc nhóm người trong xã hội Xung đột có thể

xảy ra khi có sự bất đồng về lợi ích giữa hai cá nhân hay nhóm người trở lên Xung đột cũng có thể xảy ra khi mọi người hoặc tập thể tham dự vào cuộc đấu tranh tích cực với nhau Sự xung đột về lợi ích không phải lúc nào cũng dẫn đến cuộc đấu tranh mở, trong khi xung đột tích cực đôi lúc xảy ra giữa các đảng phái với cách suy nghĩ lầm là lợi ích của họ đối nghịch nhau

Sự tuân thủ hành động làm theo những chuẩn mực đã được xác lập Không phải lúc nào

người ta cũng tuân theo những quy tắc xã hội Điều này là do người ta chấp nhận những giá trị tồn tai dưới nó Họ có thể cư xử theo những cách nào đó đơn giản vì động cơ cá nhân hoặc sự thừa nhận

Sự đồng lòng Sự nhất trí về các giá trị xã hội cơ bản của các thành viên trong một nhóm,

trong cộng đồng hay trong xã hội Một số nhà tư tưởng về xã hội học đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đồng lòng như cơ sở cho sự ổn định xã hội Những người này tin

Trang 4

rằng mọi xã hội trải qua một thời kỳ đáng kể đều có một hệ thống đồng tâm nhất trí chung của đa số dân chúng

Tội ác Hành động vi phạm phát luật bị nhà chức trách phát hiện Cho dù chúng ta vẫn

thường cho rằng bọn tội phạm là một phân đoạn của dân chúng, có rất ít người không vi phạm luật trong suốt cuộc đời của mình dưới hình thức này hay hình thức khác Trong khi một số cơ quan của nhà nước ra văn bản luật, một số cơ quan vi phạm luật khác lại không biết tí gì về luật

Mô phỏng văn hoá Sự truyền lại các giá trị hay chuẩn mực văn hoá từ thế hệ này sanh

thế hệ khác Nói tới mô phỏng văn hoá là người ta muốn chỉ cơ chế đảm bảo kinh nghiệm văn hoá được duy trì liên tục theo thời gian Dạy học trong xã hội hiện đại là nằm trong cơ chế của tái tạo văn hoá.Tái tạo văn hoá xảy ra một cách sâu rộng hơn thông qua chương trình giấu mặt- các hành vi các cá nhân học một cách qua con đường chính thức tại trường

Văn hoá Các giá trị, các chuẩn mực và các đặc trưng về vật chất của một nhóm nhất

định Giống như khái niệm về xã hội, khái niệm văn hoá được sử dụng rất rộng rãi trong

xã hội học cũng như trong các môn khoa học xã hội khác (đặc biệt là nhân chủng học) Văn hoá là một trong những đặc tính rõ nhất để phân biệt xã hội loài người

Dân chủ Hệ thống chính trị cho phép các công dân tham gia vào việc ra quyết định hoặc

bầu người đại diện tham gia vào các cơ quan của chính phủ

Sự lệch lạc Kiểu ứng xử không tuân thủ các chuẩn mực hay giá trị của đa số thành viên

của một nhóm hay xã hội Thế nào thì bị coi là lệch lạc Câu trả lời cũng đa dạng không kém gì các giá trị và chuẩn mực phân biệt nền văn hoá này với nền văn hoá khác Nhiều cách ứng xử được coi trọng trong hoàn cảnh hay một nhóm người này lại không được nhóm khác chấp thuận

Phân biệt đối xử Hành động không cho thành viên của một nhóm sử dụng nguồn hoặc

giải thưởng như thành viên nhóm khác Phải phân biệt,đối xử với thành kiến, cho dù hai hành động này có quan hề mật thiết với nhau Có những cá nhân mang định kiến với những người khác nhưng không kỳ thị họ; ngược lại người ta có thể phân biệt đối xử với người khác ngay cả khi người ta không có định kiến gì với họ

Phân công lao động Sự phân chia hệ thống sản suất thành các công việc hay nghề nghiệp

mang tính chuyên môn hoá, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế Xã hội nào cũng có ít nhất một hình thức phân công lao động sơ khai nào đó, nhất là việc phân công lao động giữa nam giới và nữ giới Tuy nhiên sự phát triển của công nghiệp hoá đã làm cho việc phân công lao động trở nên phức tạp hơn bao giờ hết Trong thế giới hiện đại sự phân công lao động mang tính toàn cầu

Nền kinh tế Hệ thống sản xuất và trao đổi cung cấp nhu cầu vật chất cho mọi người trong

xã hội Thể chế kinh tế có tầm quan trọng then chốt trong mọi trật tự xã hội Những gì diễn ra trong nền kinh tế thường ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Điểm khác nhau căn bản giữa xã hội hiện đại và xã hội truyền thống là phần lớn dân chúng không tham gia vào sản xuất nông nghiệp nữa

Giáo dục Sự truyền đạt kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua việc dạy trực

tiếp Mặc dù quá trình giáo dục có ở mọi xã hội chỉ trong xã hội hiện đại phần lớn giáo

Trang 5

dục có dạng đến trường - tức là dạy học trong môi trường giáo dục đặc biệt mà mỗi cá nhân sự ở một vài năm trong cuộc đời mình

Gặp gỡ Cuộc gặp nhau của hai hay nhiều cá nhân trong tình huống mặt đối mặt Cuộc

sống hàng ngày của chúng ta có thể xem như hàng hoạt các cuộc gặp khác nhau trải ra trong suốt cả ngày Trong xã hội hiện đại chúng ta thường gặp mặt với người lạ hơn là với những người quen biết

Tính dân tộc Các giá trị và chuẩn mực để phân biệt thành viên của nhóm này với thành

viên của nhóm khác Dân tộc là một nhóm mà mọi thành viên trong đó có chung nhận thức về đặc thù văn hoá chung, phân biệt họ khỏi các nhóm xung quanh Trong bất kỳ xã hội nào sự khác biệt về dân tộc gắn liền với sự đa dạng về quyền lực hay của cải vật chất.Ở đâu sự khác biệt về dân tộc cũng là sự khác biệt về chủng tộc, sự phân chia như vậy đôi khi rất dễ nhận biết

Gia đình Nhóm người có quan hệ huyết thống, kết hôn hay nhận con nuôi hình thành

nên một đơn vị kinh tế, các thành viên lớn trong gia đình có trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ

em Mọi xã hội đều bao gồm một kiểu gia đình nào đó, mặc dù bản chất của các mối quan hệ trong gia đình rất khác nhau Trong khi trong xã hội hiện đại kiểu gia đình chính

là gia đình hạt nhân, thì người ta cũng vẫn tìm thấy các quan hệ gia đình khác

Quan hệ chính thức Quan hệ tồn tại trong các nhóm và tổ chức thiết lập bởi chuẩn mực

hoặc quy tắc của hệ thống chức trách chính thức

Giới tính Sự mong đợi của xã hội về hành vi được coi là thích hợp cho từng giới, giới

không ám chỉ các đặc trưng về vật lý để phân biệt nam và nữ, mà ám chỉ đặc điểm nữ tính và nam tính đã được hình thành trong xã hội trong những năm gần đây việc nghiên cứu quan hệ về giới đã trở thành một trong những lính vực quan trọng nhất trong xã hội học mà trước đây chúng ít được chú ý đến

Toàn cầu hoá Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa con người, giữa các khu vực

và giữa các quốc gia trên thế giới

Chính quyền Quá trình ban hành các chính sách và quyết định trong một bộ máy chính

trị Chúng ta có thể nói chính quyến như một quá trình hoặc chính quyền để gọi giới viên chức chịu trách nhiệm áp đặt các quyết định chính trị Trong khi tất cả các chính quyền trước đây đều do quốc vương hoặc hoàng đế điều hành, trong xã hội hiện đại chính phủ

do các quan chức không thừa kế quyền lực điều hành Họ được bầu ra hoặc được bổ nhiệm trên cơ sở kinh nghiệm và trình độ

Nhận dạng Đặc điểm phân biệt trong tính cách của một người hay đặc tính một nhóm

Cả cá nhân lẫn nhóm đều được nhận dạng bằng các dẫu mang tính xã hội Một trong những dấu quan trọng nhất để nhận dạng một người là tên của người đó Tên là phần cá nhân quan trọng nhất của một người Đặt tên cũng rất quan trọng để nhận dạng nhóm Chẳng hạn, việc nhận dạng một quốc gia được chi phối bởi người đó là “ người Anh” “ người Pháp “ “ người Mỹ “ v.v …

Hệ tư tưởng Tư tưởng hay tín ngưỡng chung phục vụ cho việc chứng minh lợi ích của

nhóm chiếm đa số Người ta tìm thấy hệ tư tưởng trong mọi xã hội có sự bất công có hệ thống và thâm căn cố đế giữa các nhóm Khái niệm hệ tư tưởng luôn gắn liền với khái

Trang 6

niệm quyền lực, bởi vì hệ tư tưởng dùng để hợp pháp hoá quyền lực mà nhóm này nắm giữ

Công nghiệp hoá Sự phát triển các hình thức công nghiệp hiện đại - nhà máy, máy móc

và quá trình sản xuất quy mô lớn Công nghiệp hoá là một trong những bộ quá trình chính ảnh hưởng tới thế giới xã hội trong hai thế kỷ qua Các xã hội được công nghiệp hoá có những đặc trưng khác biệt hoàn toàn với những xã hội của các nước kém phát triển Thí dụ, khi công nghiệp hoá tiến triển chỉ có một bộ phận nhỏ dân chúng làm nông nghiệp Đây chính là điểm tương phản chính với các nước tiền công nghiệp

Công nghiệp hoá chiến tranh ứng dụng các kiểu sản xuất công nghiệp vào ngành sản xuất

vũ khí, kết hợp với tổ chức các lực lượng chiến đấu thành các “cỗ máy quân đội” Công nghiệp hoá chiến tranh là một khía cạnh nền tảng trong việc phát triển xã hội hiện đại cũng như nền công nghiệp tiến triển vì mục đích hoà bình Nó cũng gắn liền với sự xuất hiện của chiến tranh toàn cục trong thế kỷ 20, đưa vào cuộc hàng chục ngàn hay hàng triệu binh lính cộng với tổng động viên nền kinh tế phục vụ cho chiến tranh

Xã hội công nghiệp Xã hội trong đó phần lớn lực lượng lao động làm việc trong sản xuất

công nghiệp

Mối quan hề không chính thức Quan hệ trong nhóm hoặc tổ chức phát triển dựa trên liên

kết cá nhân; cách thực hiện công việc khác với trình tự chính thức

Quan hệ thân thích Mối quan hề gắn các các nhân qua huyết thống, kết hôn hay nhận

con nuôi Theo định nghĩa quan hệ huyết thống liên quan đến kết hôn và gia đình nhưng được mở rộng nhiều hơn thế nhiều Trong khi trong phần lớn xã hội hiện đại một số nghĩa vụ xã hội có liên quan đến quan hệ thân thích thì trong nhiều nền văn hoá khác quan hệ thân thích có vai trò đặc biệt quan trọng trong phần lớn các lĩnh vực của đời sống

xã hội

Kết hôn Mối quan hề tình dục được xã hội chấp thuận giữa hai cá thể Kết hôn hầu như

lúc nào cũng liên quan đến hai người thuộc hai giới khác nhau Tuy nhiên trong một số nền văn hoá kiểu kết hôn đồng tính cũng được chấp nhận Thông thường việc kết hôn tạo

cơ sở cho một gia đình sinh sản Điều đó có nghĩa là cặp vợ chồng sẽ sinh thành và nuôi dưỡng con cái Nhiều xã hội cho phép chế độ đa thê, một người có thể có đồng thời nhiều

vợ hoặc chồng

Phương tiện thông tin đại chúng Các hình thức giao tiếp như báo chí, đài và vô tuyến,

được thiết kế để đến được với khán thính giả

Quốc gia Kiểu nhà nước, đặc trưng của thế giới hiện đại, trong đó chính phủ có chủ

quyền trong một khu vực lãnh thổ nhất định Đại bộ phận dân chúng là công dân biết mình là một bộ phận của một quốc gia Quốc gia gắn chặt với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, mặc dù lời cam kết trung thành với chủ nghĩa dân tộc không phải lức nào cũng tuân thủ những ranh giới hiện có giữa các quốc gia quốc gia phát triển như một bộ phận của hệ thống quốc gia, bắt nguồn từ Châu Âu, nay đã lan rộng ra toàn cầu

Tự nhiên đặc tính vật lý hoặc của thế giới bên ngoài hoặc của cơ thể, không chịu ảnh hưởng sự can thiệp của con người Sự kiện hoặc tình huống được coi là tự nhiên nếu nó

tồn tại hoặc xảy ra không phụ thuộc vào sự điều khiển của con người Nhiều hiện tượng xảy ra trong môi trưởng nơi chúng ta đang sống không còn là một bộ phận của tự nhiên

Trang 7

nữa, bởi vì con người đã can thiệp vào nhiều mặt của nó Sự nóng lên của trái đất là một thí dụ của quá trình này : đó không phải là một tình trạng tự nhiên mà có nguyên nhân từ

sự ô nhiễm do con người gây ra Nhiều điều xảy ra với cơ thể chúng ta cũng không còn là

tự nhiên nữa Thí dụ, kết quả của nhiều công nghệ sinh sản mới, thụ thai nhân tạo hoặc

kỹ thuật gen, cơ thể chúng ta ngày càng ít bị chi phối bởi các quá trình tự nhiên

Tổ chức Nhóm nhiều cá nhân tham gia vào loạt quan hệ chức trách nhất định Trong xã

hội công nghiệp có nhiều hình thức tổ chức, ảnh hưởng tới đa số các lĩnh vực của cuộc sống Trong khi không phải tổ chức nào cũng quan liêu theo đúng nghĩa vẫn có mối liên

hệ chặt chẽ giữa sự phát triển của tổ chức và xu hướng quan liêu

Chính trị Phương tiện chính quyền sử dụng để tác động đến tự nhiên và các hoạt động

của chính phủ Phạm vi của chính trị không chỉ bao gồm hoạt động của các thành viên chính phủ mà còn có cả hoạt động của nhiều nhóm và cá nhân khác Có nhiều cách để những người không nằm trong bộ máy nhà nước tác động đến nó

Văn hoá quần chúng Giải trí dành cho số đông khán thính giả như điện ảnh, biểu diễn,

âm nhạc, video và các chương trình truyền hình Người ta thường đối chiếu văn hoá quần chúng với văn hoá “đỉnh cao” Nói đến điều này là người ta ám chỉ sở thích của thiểu số được đào tạo Nhạc cổ điển, opera và hội hoạ là những thí dụ của loại hình văn hoá này

Xã hội hậu công nghiệp Những người tin rằng quá trình thay đổi xã hội đưa chúng ta

vượt ra ngoài trật tự công nghiệp hoá thường ủng hộ khái niệm này Xã hội hậu công nghiệp thường dựa vào sản xuất thông tin hơn là sản xuất ra của cải vật chất Theo những người tán đồng khái niệm này, chúng ta đang trải qua một loạt các thay đổi xã hội sâu sắc không khác nào những thay đổi đã khởi xướng kỷ nguyên công nghiệp diễn ra khoảng hai trăm năm trước

Quyền lực Khả năng của cá nhân hay thành viên của một nhóm đạt được mục đích hoặc

tăng quyền lợi đang nắm Quyền lực là một khía cạnh lan toả của tất cả mối quan hệ giữa con người Nhiều tranh chấp trong xã hội là các cuộc đấu tranh giành quyền lực, bởi vì một các nhân hay nhóm càng nắm nhiều quyền thì học càng có khả năng bắt những người khác thực thi các ý muốn của họ

Thành kiến Nhận thức trước về một cá nhân hay một nhóm Những nhận thức này khó

thay đổi ngay cả khi đối mặt với thông tin mới Định kiến có thể tích cực hoặc tiêu cực

Tôn giáo Loạt tín ngưỡng mà thành viên của một cộng đồng tôn thờ Chúng bao gồm các

biểu tượng mang ý nghĩa kính sợ hay kỳ diệu, kèm theo là việc hành lễ mà các thành viên của cộng động này tham gia Tôn giáo không bao gồm niềm tin vào thực thể siêu tự nhiên

ở khắp mọi nơi Cho dù khó có thể phân biệt tôn giáo và ma lực, người ta vẫn thường cho rằng trò phù thuỷ ban đầu do cá nhân tiến hành hơn là trọng tâm của hành lễ

Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu khác nhau dùng để thu thập các

tài liệu thực nghiệm (có thực) Trong xã hội học có rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng làm việc tại hiện trường (hay quan sát những người tham gia) có lẽ là phương pháp được sử dụng nhiều nhất Trong một dự án nghiên cứu nên kết hợp hai hay nhiều phương pháp để phục vụ cho nhiều mục đích

Cuộc cách mạng Quá trình thay đổi chính trị bao gồm động viên phong trào xã hội của

quần chúng Họ sẽ dùng vũ lực lật đổ thành công chế độ đang tồn tại và thiết lập chính

Trang 8

phủ mới Cuộc cách mạng khác với cuộc đảo chính bởi đó là phong trào của quần chúng

và diễn ra sự thay đổi căn bản trong toàn bộ hệ thống chính trị Đảo chính là cướp chính quyền thông qua bàn tay của các cá nhân Những người này sau đó sẽ thay thế những người đang nắm quyền, tuy nhiên họ lại không thay đổi tận gốc rễ chế độ chính trị Cũng cần phân biệt cuộc cách mạng với cuộc nổi dậy Nổi dậy là thách thức đối với những người cầm quyền, tuy nhiên một lần nữa vẫn lại đặt mục tiêu là thay thế con người hơn là chuyển cấu trúc chính trị

Lễ Kiểu cư xử được trọng thể hoá mà các thành viên của một nhóm hay cộng đồng thường xuyên tham gia Tôn giáo là một trong những bối cảnh chính của việc hành lễ, tuy nhiên phạm vi của hành vi hành lễ vượt ra ngoài lĩnh vực này Phần lớn mỗi nhóm đều có kiểu hành lễ riêng

Khoa học Khoa học liên quan đến việc sắp xếp theo nguyên tắc các thông số thu được

bằng thực nghiệm, kết hợp với xây dựng cách tiếp cận mang tính lý thuyết và lý thuyết minh hoạ hoặc giải thích cho các số liệu này Hoạt động khoa học kết hợp việc tạo ra cách nghĩ mới cùng với kiểm tra kỹ lưỡng các giả thuyết và ý tưởng Điểm chính để phân biệt khoa học với các hệ tư tưởng (như hệ tư tưởng trong tôn giáo) là các giả định mà mọi

ý tưởng khoa học được mở ra để giới làm khoa học phê phán và sửa đổi

Thế tục hoá Quá trình làm giảm ảnh hưởng của tôn giáo Cho dù xã hội hiện đại ngày

càng ít dựa trên tôn giáo, truy nguyên việc thế tục hoá là một vấn đề phức tạp Thế tục hoá chỉ mức liên quan với các tổ chức tôn giáo (tỷ lệ đi lễ nhà thờ chẳng hạn), ảnh hưởng

về xã hội và vật chất các tổ chức tôn giáo nắm và sử dụng cũng như mức tin của người dân

Tự nhận thức Nhận thức của một người, con người không phải sinh ra đã tự nhận thức

được mà nhận thức sẽ có được nhờ xã hội hoá sớm Học tiếng có vai trò tối quan trọng trong quá trình một đứa trẻ học để có thể tự nhận thức

Giới tính Sự khác nhau về giải phẫu giữa đàn ông và đàn bà Các nhà xã hội học thường

so sánh giới tính với giới Giới tính chỉ đặc điểm tự nhiên của cơ thể; giới liên quan tới các dạng hành vi xã hội Sự phân biệt giới tính và giới khôn giống nhau Người đồng cô chẳng hạn là người về cơ thể là đàn ông nhưng đôi khi lại coi mình là đàn bà

Sự thay đổi xã hội Sự thay đổi cơ bản về cấu trúc của một nhóm xã hội hay xã hội Sự

thay đổi xã hội là hiện tượng luôn có mặt trong đời sống xã hội Hiện tượng này đặc biệt mạnh mẽ trong kỷ nguyên hiện đại Có thể truy nguyên nguồn gốc của xã hội hiện đại là

nỗ lực hiểu sự thay đổi phá vỡ thế giới truyền thống và thúc đẩy trật tự xã hội mới

Nhóm xã hội Tập hợp các cá nhân tương tác với nhau một cách hệ thống Nhóm có thể

dao động từ hiệp hội nhỏ cho đến những tổ chức có quy mô lớn Cho dù quy mô của nó thế nào thì mỗi nhóm đều có đặc trưng xác định Đó là mọi thành viên trong nhóm đều mang nhận thức về nhận dạng chung Đa phần cuộc sống của chúng ta đều diễn ra trong các nhóm; trong xã hội hiện đại đa số mọi người đều thuộc nhóm này hay nhóm khác

Sự giao lưu trong xã hội Bất kỳ mọi cuộc gặp gỡ giữa các cá nhân Cuộc sống của chúng

ta bao gồm sự tương tác ở dạng này hay dạng khác Sự tương tác này chỉ các tình huống gặp nhau chính thức và không chính thức Một minh hoạ cho sự giao lưu xã hội một cách

Trang 9

chính thức là lớp học; thí dụ của giao lưu không chính thức là hai người gặp nhau trên phố hay trong buổi tiệc

Xã hội hoá Quá trình xã hội thông qua đó trẻ em phát triển nhận thức về chuẩn mực và

giá trị xã hội và có được cảm nhận của riêng mình Xã hội hoá là một quá trình đặc biệt quan trọng ở tuổi niên thiếu, tuy nhiên quá trình này sẽ vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời Không có một cá nhân nào lại miễndịch không bị ảnh hưởng hay thay đổi cách cư xử bởi phản ứng của những người xung quanh trong tất cả các giai đoạn của đời sống

Sự cơ động xã hội Sự dịch chuyển của cá nhân hay nhóm giữa các vị trí xã hội khác

nhau Chuyển động dứng là chuyển động lên trên hay xuống dưới một trật tự trong hệ thống phân tầng Chuyển động ngang là sự di chuyển vật lý của cá nhân hay nhóm từ vùng này tới vùng khác Khi phân tích chuyển động đứng các nhà xã hội học phân biệt khoảng cách cá nhân chuyển động theo hướng nghề nghiệp của mình và khoảng cách người đó đạt được sơ với cương vị của cha mình

Phong trào xã hội Nhóm đông những người tìm cách hoàn thành hoặc cản trở quá trình

thay đổi xã hội Phong trào xã hội thường tồn tại dưới dạng xung đột giữa các tổ chức có mục tiêu và triển vọng đối kháng nhau Tuy nhiên phong trào thách thức quyền lực khi có thể phát triển thành tổ chức

Địa vị xã hội Nhận dạng xã hội của một cá nhân trong một nhóm hay xã hội nhất định

Địa vị xã hội có thể rất chung về bản chất (như những người liên quan tới vai trò giới tính) hoặc có thể mang tính đặc thù (như chức vụ)

Vai trò xã hội Hành vi của một cá nhân có địa vị xã hội nhất định Ý tưởng vai trò xã hội

có nguồn gốc từ nhà hát, chỉ các vai diễn của các diễn viên trên sân khấu ở xã hội nào cá nhân cũng đóng một loạt ác vai trò xã hội khác nhau tuỳ theo tình huống hoạt động của

họ

Phân tầng xã hội Sự tồn tại sự bất bình đẳng giữa các nhóm trong xã hội về quyền của

họ đối với nguồn và các giải thưởng tượng trưng Mọi xã hội đều có sự phân tầng Tuy nhiên chỉ có sự phát triển của hệ thống dựa trên nhà nước mới mở rộng sự khác biệt về sự tăng lên của của cải và quyền lực Kiểu phân tầng dễ phân biệt nhất trong xã hội hiện đại

là phân chia giai cấp

Cấu trúc xã hội Kiểu giao lưu giữa các cá nhân hay nhóm Cuộc sống xã hội không xảy

ra theo kiểu ngẫu nhiên Đa số hoạt động của chúng ta đều được cấu trúc: chúng được tổ chức một cách thường xuyên và lặp đi lặp lại Sự so sánh có thể khập khiễng nhưng sẽ hữu ích khi nghĩ về cấu trúc xã hội của một xã hội như xà nhà chống đỡ cho toà nhà và nối chúng với nhau

Xã hội Xã hội là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong xã hội học Xã hội là

một nhóm người sống trên một rãnh thổ riêng , là đối tượng của một hệ thống chính trị chung, nhận thức được sự khác biệt với những nhóm khác quanh họ Một vài xã hội như

xã hội của những người săn bắn và hái lượm rất nhỏ không vượt quá vài chục người Những nhóm khác rất lớn gồm hàng triệu như xã hội Trung quốc có hơn một tỷ người

Xã hội học Nghiên cứu nhóm và xã hội loài người, đặc biệt nhấn mạnh phân tích thế giới

công nghiệp hoá Xã hội học là một một môn trong nhóm khoa học xã hội gồm nhân chủng học, kinh tế, chính trị học và địa nhân học Không có sự phân chia rõ ràng giữa các

Trang 10

môn khoa học xã hội khác nhau Tất cả đều có chung mối quan tâm, khái niệm và phương pháp

Nhà nước Bộ máy chính trị (Chính phủ cùng các viên chức) cầm quyền theo trật tự xã

hội nhất định Họ được luật pháp và khả năng sử dụng cảnh sát, quân đội làm hậu thuẫn Không phải xã hội nào cũng đều có nhà nước Nền văn hoá săn bắn và hái lượm hay các

xã hội trồng trọt nhỏ đều không có nhà nước Sự xuất hiện của nhà nước đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử loài người bởi vì sự tập trung lực lượng chính trị trong việc hình thành nhà nước đưa ra động lực mới trong quá trình thay đổi xã hội

Địa vị Danh tiếng hay uy tín các thành viên khác trong xã hội trao cho một nhóm Nhóm

có uy tín thường có lối sống - cách cư xử khác biệt, được các thành viên trong nhóm noi theo Danh tiếng có thể tích cực hoặc tiêu cực Nhóm “Pariah ‘ bị phần lớn dân chúng khinh thường, bị đối xử như một kẻ bị ruồng bỏ

Phương pháp lý thuyết Viễn cảnh về cuộc sống xã hội có tín ngưỡng lý thuyết riêng Một

số tín ngưỡng lý thuyết chính trong xã hội học là chủ nghĩa chức năng, chủ nghĩa cấu trúc, tương quan tượng trưng và chủ nghĩa Mác Các tín ngưỡng lý thuyết cung cấp triển vọng tổng thể trong đó các nhà xã hội học làm việc và tác động đến các lĩnh vực nghiên cứu khác cũng như cách nhận diện và giải quyết vấn đề

Lý thuyết Nỗ lực nhận diện các đặc tính cung giải thích cho các hiện tượng thường xuyên

quan sát thấy Việc xây dựng lý thuyết hình thành nên một phần tử quan trọng của xã hội học Trong khi lý thuyết thường gắn với các tín ngưỡng lý thuyết rộng hơn, chúng cũng

bị tác động bởi kết quả nghiên cứu mà chúng tạo ra

Tiềm thức Động cơ và ý tưởng mà trí óc của một người không biết Cơ chế tâm lý quan

trọng quan trọng trong tiềm thức là sự ức chế - phần của tâm thần bị ngăn khỏi nhận thức trực tiếp của các nhân Theo lý thuyết Freud các ý muốn và xung vô thức được hình thành ở tuổi thơ tiếp tục đóng vai trò khi lớn lên

Thất nghiệp Tình trạng một cá nhân muốn có việc làm được trả lương nhưng không làm

được điều đó Thất nghiệp là một khái niệm phức tạp so với khi thoạt nhìn Một người không có việc làm chưa hẳn đã là người thất nghiệp với nghĩa không có gì để làm Người nội trợ không nhận lương nhưng họ thường phải làm việc rất vất vả

Chủ nghĩa thành thị Thuật ngữ của Louis Wirth để định rõ các đặc trong cuộc sống xã

hội ở thành thị chẳng hạn sự lạnh lùng

Giá trị ý tưởng của cá nhân hay nhóm về những ước muốn, chính đáng, đúng hoặc xấu Phân biệt giá trị là chìa khoá biến dạng của nền văn hoá loài người Những điều mà các nhân đánh giá chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hoá đang sống

Bạo lực Việc sử dụng hoặc đe doạ vũ lực lên cơ thể của cá nhân hay nhóm này đối với

nhóm khác Chiến tranh là đỉnh điểm của bạo lực Tuy nhiên, bạo lực là chuyện thường xuyên xảy ra trong nhiều hoàn cảnh không chính thức Thí dụ, nhiều cuộc hôn nhân được đặc trưng bởi lịch sự bạo hành của chồng (vợ) đối với người kia

Việc làm Hoạt động loài người sản xuất từ thiên nhiên và đảm bảo cho cuộc sống của họ

Không nên nghĩ việc làm chỉ là công việc được trả lương Trong các nền văn hoá truyền thống , khi chỉ có hề thống tiền tệ sơ khai và chỉ có rất ít người làm việc được trả công

Trang 11

bằng tiền Trong xã hội hiện đại, vẫn còn nhiều kiểu việc làm không được trả lương trực tiếp (như việc nhà)

Trang 12

LỜI NÓI ĐẦU

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công trình nghiên cứu, khảo sát điều tra xã hội học, nhiều tập giáo trình bài giảng đi sâu vào lĩnh vực khoa học mới mẻ này Những phân tích chuyên sâu vào nhiều lĩnh vực của xã hội, xã hội học nông thôn, xã hội học vùng ven biển, đặc biệt là những quan hệ cộng đồng, xã hội, gia đình, họ tộc là rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những cái mới đang nảy sinh và phát triển, những giá trị truyền thống về xã hội học nông thôn và vìng ven biển vẫn được duy trì và củng cố Xã hội học nghiên cứu các phong tục tập quán, tín ngưỡng, cơ cấu xã hội, quan hệ xã hội…trên cưo sở đó hoạch định những chính sách xã hội phù hợp nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân luôn là mục tiêu của các nhà nghiên cứu Xã hội học nói riêng, Đảng và Nhà nước ta nói chung

Trong khuôn khổ dự án hợp tác”Nâng cao năng lực đào tạo ngành kỹ thuật bờ biển” được phía chính phủ Hà Lan tài trợ tác giả đã có dịp được sang làm việc, học tập tại Trường Đại học Công nghệ Delft, Viện Nghiên cứu xã hội Hague, và trực tiếp dưới sự giúp đỡ của TS Nguyễn Ngọc Lưu đã hoàn thành cuốn bài giảng Xã hội học Cuốn bài giảng này lần đầu tiên được viết bằng tiếng Anh và được nhiều Giáo sư, Tiến sỹ của Đại học Công nghệ Delft, Viện Nghiên cứu xã hội Hague góp ý và chỉnh sửa, sau đó được dịch sang tiếng Việt và hiện nay đã trở thành tài liệu giảng dạy chính thức cho Khoa Kỹ thuật bờ biển

Nhân đây cho phép tác giả được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Ngọc Lưu đã tận tình giúp đỡ tác giả trong việc tìm kiếm tài liệu và trao đổi về học thuật đặc biệt các kiến thức về xã hội học Mặc dù đã đi xa nhưng TS Nguyễn Ngọc Lưu luôn là người thầy tận tình, chu đáo chỉ bảo cho bao lớp thê hệ sinh viên, nghiên cứu sinh học tập tại Viện Nghiên cứu xã hội Hague

Tác giả cũng chân thành cám ơn TSKH Nguyễn Trung Dũng đã đọc bản thảo tiếng Việt và góp ý nhiều ý quý báu để tác giả chỉnh sửa cuốn bài giảng này

Trong lúc biên soạn lại tập thể tác giả có sử dụng một số tư liệu của một số tác giả được ghi trong tài liệu tham khảo, tác giả xin chân thành cám ơn

Mặc dù đã được biên soạn công phu, nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót, mong bạn đọc góp ý kiến nhận xét để nội dung bài giảng lần sau sẽ được phong phú và hoàn chỉnh hơn

Hà nội, ngày 15 tháng 12 năm 2005

TÁC GIẢ

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG XÃ HỘI HỌC 1.1 Xã hội học là gì ?

Ngày nay ở đầu thế kỷ 21 chúng ta đang sống trong một thế giới nhiều nỗi lo nhưng cũng mang nhiều hứa hẹn cho tương lai Đó là thế giới tràn ngập sự thay đổi, đánh dấu bằng các xung đột sâu sắc, sự căng thẳng và phân chia xã hội cũng như sự tấn công dữ dội mang tính huỷ diệt của công nghệ lên môi trường sinh thái Tuy nhiên chúng ta có khả năng điều khiển vận mệnh của mình và phát triển cuộc sống theo hướng tích cực, những điều mà các thế hệ trước không tưởng tượng nổi

Thế giới đã diễn ra thế nào? Tại sao điều kiện sống của chúng ta lại khác xa với ông cha

ta ngày trước? Tương lai sẽ phát triển theo hướng nào? Những câu hỏi này là mối quan tâm đầu tiên của xã hội học, một lĩnh vực nghiên cứu đống vai trò nền tảng trong nền văn hoá trí thức hiện đại

Xã hội học nghiên cứu về cuộc sống xã hội của con người, nhóm người và xã hội Đây là

sự nghiệp rực rỡ và hấp dẫn, bời vì đối tượng của nó hà hành vi của chính chúng ta với tư cách là sinh vật trong xã hội Xã hội học có phạm vi nghiên cứu khá rộng, từ việc phân tích các cuộc gặp gỡ giữa các cá nhân ngoài đường phố đến việc nghiên cứu các quá trình

xã hội trên toàn cầu Một thí dụ ngắn gọn sẽ cung cấp sự tinh tế đầu tiên về bản chất và mục tiêu của xã hội học

1.2 Phạm vi của xã hội học

Giddens lấy tình yêu làm ví dụ để nhấn mạnh phạm vi của xã hội học Ông viết:

“Bạn đã bao giờ yêu chưa? Chắc hẳn bạn đã từng Ngay từ tuổi thanh niên đa số đều biết một người đang yêu sẽ thế nào Tình yêu và sự lãng mạn mang lại cho nhiều người trong

số chúng ta cảm giác mãnh liệt chưa từng có Vì sao người ta lại yêu? Thoạt nhìn câu trả lời là hiển nhiên Tình yêu biểu lộ sự gắn kết về cơ thể và riêng tư giữa hai con người có cảm tình với nhau Ngày nay chúng ta có thể nghi ngờ về ý tưởng một tình yêu vĩnh cửu Tuy nhiên chúng ta vẫn thường cho rằng yêu là một thứ tình cảm bắt nguồn từ cảm xúc của con người Với hai người yêu nhau lẽ tự nhiên là họ muốn ở bên nhau và có quan hề tình dục, có thể ở dạng kết hôn”

Tình huống có vẻ không cần phải giải thích gì thêm, trên thực tế lại không bình thường Không phải tất cả mọi người trên khắp thế giới đều đã được trải qua cảm xúc yêu Nơi nó hiện diện hiếm khi lại có quan hệ với hôn nhân Mãi đến gần đây ý tưởng về một tình yêu lãng mạn mới phổ biến Trong nhiều nền văn hoá khác nó chưa bao giờ tồn tại

Chỉ trong thời hiện đại tình yêu và tình dục mới được xem là có quan hệ mật thiết John Boswell, một nhà lịch sử về Châu Âu thời trung cổ đã có nhận xét về sự bất thường của những ý tưởng về một tình yêu lãng mạn

Thời Trung cổ ở châu Âu trên thực tế không ai kết hôn vì tình yêu Có một câu nói thời đó: ” yêu vợ bằng cảm xúc là ngoại tình” Thời đó và hàng thế kỷ từ đó về sau người đàn ông và người đàn bà kết hôn chủ yếu để giữ tài sản của gia đình hay dạy con trông coi trang trại của gia đình Một khi đã kết hôn hai người có thể trở thành những người bạn đồng hành gần gũi Sau khi lấy nhau điều này thường xảy ra Đôi khi người ta cũng có mối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng những người này cảm nhận những cảm xúc

Trang 14

mà ngày nay chúng ta gắn với tình yêu Tình yêu lãng mạn may mắn lắm mới được coi là yếu ớt và tệ hại nhất là bị coi là bệnh hoạn

Ngày nay chúng ta có thái độ gần như hoàn toàn ngược lại Boswell đề cập hoàn toàn đúng về một nỗi ám ảnh thực sự về một “nền văn hoá công nghiệp hiện đại” với tình yêu lãng mạn

Những người chìm trong “ bể tình yêu “ thường cho rằng rất ít nền văn hoá trước thời hiện đại hay không không nghiệp hoá nhất trí với ý kiến này- một ý kiến không còn gây tranh cãi ở Phương Tây rằng “ mục đích của một người đàn ông là yêu một người đàn bà

và mục đích của một người đàn bà là yêu một người đàn ông “ Phần lớn loài người ở khắp mọi nơi mọi lúc đều thấy điều này là một cách đo tồi tệ về giá trị của con người !

Do vậy tình yêu lãng mạn không thể chỉ hiểu như một phần tự nhiên của cuộc sống con người; mà nó được hình thành do những ảnh hưởng xã hội và lịch sử rộng lớn Chính những ảnh hưởng này là điều mà các nhà xã hội học nghiên cứu ( Giddens )

Theo lời của Giddens thí dụ giúp chúng ta hiểu được phạm vi của xã hội học:

“Phần lớn chúng ta nhìn thế giới về những đặc điểm quen thuộc với đời sống Xã hội học minh hoạ cho sự cần thiết phải có cách nhìn rộng lớn hơn lý giải vì sao chúng ta lại thế này, vì sao chúng ta lại hành động như vậy Xã hội học cho chúng ta thấy điều mà chúng

ta coi là tự nhiên, không tránh khỏi, tốt hay đúng cũng có thể không hẳn là như vậy và những điều cuộc sống mang lại cho chúng ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các lực lượng

xã hội và lịch sử Điều cơ bản đối với quan điểm xã hội học là hiểu được cách phản ánh tinh tế nhưng cũng rất phức tạp sự trải nghiệm xã hội của chúng ta

1.3 Ngữ cảnh giao tiếp xã hội hay quá trình

Hai người đi ngang qua nhau trên đương phố Khi còn cách xa một khoảng họ liếc nhìn nhau, người này nhìn thoáng qua diện mạo của người kia Khi tới gần và đi ngang qua, hai ngươi nhìn sang hướng khác, tránh ánh mắt của người kia Điều này diễn ra hàng triệu lần trong một ngày ở khắp mọi nơi trên thế giới cả thành thị lẫn nông thôn

Khi những người đi qua liếc nhìn nhau để rồi lại nhìn sang hướng khác, họ đang biểu thị cái mà Erving Coffrnan (1967, 1971) gọi là sự không tập trung và chúng ta cần có trong nhiều tình huống Sự thiếu chú ý dân sự không giống như là bỏ qua một người khác Mỗi

cá nhân đều biểu lộ sự nhận biết của mình khi ai đó có mặt, nhưng lại tránh có những cử chỉ có thể bị coi là quá xâm phạm Sự thiếu cú ý này là một cái gì đó ít nhiều vô thức nhưng nó lại có một tầm quan trọng nền tảng trong cuộc sống hàng ngày

Cách tốt nhất để lý giải tại sao lại như vậy là nghĩ ra những thí dụ mà khi một người nhìn chằm chằm vào người khác, để khuôn mặt của họ biểu đạt tình cảm riêng một cách công khai, điều này chỉ xảy đến với người yêu, thành viên trong gia đình hay bạn bè thân thiết Người là hay làm quen tình cờ, cho dù là quen ngoài đường , ở nơi làm việc hay buổi tiệc, trên thực tế không bao giờ nhìn ngắm người khác theo cách này Nếu làm như vậy

có thể bị nghi là có dấu hiệu thù địch có chủ định Chỉ khi nào hai nhóm đối địch mạnh

mẽ với nhau, thì người lạ mới có thể cho phép mình làm những việc như vậy Do vậy, ở nước Mỹ trước đây người da trắng được biết đến là có cài nhìn căm ghét với người da đen đi ngang qua

Trang 15

Ngay cả những người bạn khi nói chuyện thân mật cũng nên cẩn thận khi nhìn người đối thoại Mỗi cá nhân đều biểu lộ sự chăm chú tham gia vào cuộc nói chuyện bằng cách thường xuyên nhìn người đối diện, nhưng đừng nhìn xoáy vào họ Nhìn quá chăm chú có thể bị xem như dấu hiệu của sự ngờ vực hay ít ra là không hiểu người khác nói gì tuy nhiên nếu không nhìn vào mắt người khác tí nào thì cũng có thể bị coi là lảng tránh, gian giảo nếu không thì cũng là kỳ cục

Nghiên cứu cuộc sống hàng ngày

Vì sao chúng ta lại quan tâm đến những khía cạnh tưởng như vặt vãnh như vậy của các hành vi xã hội? Vượt qua một ngời trên phố và nói vài lời với một người bạn dường như

là việc nhỏ, chẳng có gì làm thú vị, những điều mà mỗi ngày chúng ta làm vô số lần mà

chẳng cần suy nghĩ Trên thực tế việc nghiên cứu các dạng giao lưu xã hội tưởng chừng

không có ý nghĩa gì lại đặc biệt quan trọng trong xã hội học, còn xa mới không thú vị là một trong những cuốn hút trong mọi lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học Có hai nguyên nhân

Thứ nhất, những điều diễn ra hàng ngày cùng với sự giao tiếp gần như không đổi với

người khác sẽ cho chúng ta cấu trúc và dạng thức về điều chúng ta sẽ làm Chúng ta có thể học được nhiều điều về bản thân mình với tư cách là một cá thể trong xã hội và nghiên cứu cuộc sống xã hội sẽ cho chúng ta kiến thức về nó Cuộc sống của chúng ta được tổ chức quanh việc lặp đi lặp lại các kiểu ứng xử tương tự từ ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác, tháng này sang tháng khác và năm này sang năm khác hãy nghĩ lại những điều bạn làm hôm qua và hôm kia Nếu cả hai ngày này đều là ngày làm việc, thì có rất nhiều khả năng hầu như ngày nào bạn cũng dậy vào giờ đó (một công việc thường nhật quan trọng) Có thể bạn đến trường khá sớm vào buổi sáng Cũng có thể bạn hẹn ai đó cúng đi ăn trưa Buổi chiều lại trở vào lớp hay học thêm Sau đó bạn lại đi những bước chân về nhà; buổi tối cũng có thể bạn đi chơi cũng những người bạn

Lẽ dĩ nhiên, công việc thường nhật chúng ta tiến hành ngày ngày không giống nhau và các hoạt động vào ngày nghỉ cuối tuần thường khác xa vời ngày thường và nếu chúng ta thay đổi căn bản cuộc sống chúng ta giống như thôi học để đi làm, sự thay đổi trong cuộc sống thường nhật thường là cần thiết Tuy nhiên sau đó chúng ta lại thiết lập loạt thói quen mới và khá thường xuyên

Thứ hai, việc nghiên cứu giao tiếp xã hội hàng ngày chiếu tia sáng vào hệ thống xã hội

rộng lớn hơn Mọi hệ thống xã hội quy mô lớn trên thực tế đều phụ thuộc vào các dạng thức giao thiếp xã hội hàng ngày của chúng ta Minh hoạ điều này rất dễ Cùng nhìn lại trường hợp hai người không quen biết đi ngang qua nhau ngoài đường Sự kiện như vậy

có rất ít mối quan hệ trực tiếp với các dạng thức tổ chức xã hội quy mô lớn và thường xuyên Nhưng nếu chúng ta tính đến nhiều sự giao tiếp như vậy, thì nó không còn như thế nữa Trong xã hội hiện đại, nhiều người sống ở thành thị thường xuyên giao tiếp với những người mà bản thân họ không biết Sự không chú ý dân sự là một trong số các cơ chế cho cuộc sống thị thành cùng với những đám đông hối hả và thoáng qua, những cuộc tiếp xúc lạnh lùng đặc trưng của nó

Trong chương này, trước hết chúng ta sẽ nghiên cứu cách sử sự không dùng ngôn ngữ (biểu lộ trên nét mặt hoặc cử chỉ tay chân) mà chúng ta sử dụng khi giao tiếp Sau đó

Trang 16

chúng ta sẽ chuyển sang phân tích lời nói hàng ngày - cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt cho người khác những ý nghĩ muốn biểu đạt Cuối cùng chúng ta sẽ tập trung vào cách thức mà cuộc sống của chúng ta cấu trúc những hoạt động thường nhật, đặc biệt chú ý đến cách chúng ta phối hợp hành động theo thời gian và không gian

Giao tiếp phi ngôn ngữ

Giao tiếp xã hội đồi hỏi nhiều dạng giao tiếp không dùng ngôn ngữ khác nhau - sự trao đổi thông tin và ý nghĩa thông qua biểu lộ sắc mặt, cử chỉ hay chuyển động của cơ thể Đôi khi giao tiếp phi ngôn ngữ còn được gọi là “ngôn ngữ của cơ thể” Tuy nhiên điều này dễ gây lầm lẫn bởi vì chúng ta sử dụng một cách đặc trưng các cử chỉ này để loại bỏ hay mở rộng những điều được nói thành lời

Khuôn mặt, cử chỉ và cảm xúc

Một khía cạnh quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ là biểu thị cảm xúc qua sắc mặt Paul Ekman và các đồng nghiệp đặc phát triển một hệ thống có tên là Hệ mã hành động trên nét mặt ( FACS ) để miêu tả chuyển động của các cơ mặt là nguyên nhân gây ra sự biểu lộ đặc biệt (Ekman & Friesen 1978) Bằng cách này họ cố đưa sự chính xác vào lĩnh vực mà có tiếng là biểu đạt không nhất quán hoặc đầy mâu thuẫn- bởi vì ít có sự thống nhất về cách nhận dạng và phân loại cảm xúc Charles Darwin, người sáng lập ra học thuyết tiến hoá, tuyên bố rằng loài người có kiểu biểu lộ cảm xúc cơ bản giống nhau Cho

dù một số người không nhất trí với lời tuyên bố này, những nghiên cứu của Ekman đến từ mọi nền văn hoá khác biệt nhau dường như lại khẳng định lời tuyên bố của Darwin là đúng Ekman và Friesen đã tiến hành nghiên cứu một cộng đồng sống biệt lập ở New Guinea Trước đây các thành viên của cộng đồng này hầu như không tiếp xúc với người ngoài Khi cho họ xem các bức tranh vẽ cách biểu lộ 6 cảm trúc trên khuôn mặt (hạnh phúc, buồn, tức giận, căm ghét, sợ hãi, kinh ngạc), những người dân này đều nhận ra các cảm xúc này

Theo Ekman, kết quả nghiên cứu của ông và các nghiên cứu tương tự ủng hộ cho luận điểm biểu lộ cảm xúc qua nét mặt và ý nghiã của nó là bẩm sinh đối với loài người Ông cũng thừa nhận là bằng chứng của ông chưa thể chứng minh cho điều này, cũng có thể là điều này liên quan đến kinh nghiệm văn hoá chung; tuy nhiên các dạng nghiên cứu khác

đã ủng hộ cho kết luận của ông

Không có một cử chỉ hay tư thế nào dặc trưng cho tất cả, thậm chí đa số các nền văn hoá

Ở một số xã hội, người ta gật đầu khi nói không, điều này hoàn toàn trái ngược với người Anh Mỹ Các cử chỉ mà người châu Âu và châu Mỹ rất hay dùng như chỉ tay dường như không có trong số các dân tộc khác (Bull 1983) Tương tự, ngón tay trỏ đặt vào giữa má

và xoay ở một số vùng của ý là cử chỉ khen ngợi, nhưng ở nơi khác thì không biết có ý nghĩa gì

Giống như sắc mặt, cử chỉ hà tư thế được sử dụng để lọc lời phát biểu cũng như chuyển tải nội dung khi không nói gì Cả ba điều này có thể sử dụng để trêu đùa, biểu lộ sự mỉa mai hay nghi ngờ Cách biểu lộ phi ngôn ngữ mà chúng ta truyền đạt một cách tình cờ thường chỉ ra rằng điều chúng ta nói không hoàn toàn giống như điều chúng ta muốn nói

Đỏ mặt có lẽ là thí dụ hiển nhiên nhất, còn có rất nhiều dấu hiệu tinh tế mà người khác có thể nhìn thấy Biểu lộ thực thường mất đi sau khoảng 4-5 giây Một nụ cười kéo dài lâu

Trang 17

hơn có thể bị coi là giả dối Cách biểu lộ ngạc nhiên quá lâu có thể là sự khôi hài có chủ định chưa biết trên thực tế người ta không hề bị bất ngờ, ngay cả khi người đó có lý lẽ để

bị bất ngờ

‘Khuôn mặt ‘ và văn hóa

Từ “mặt” cũng có thể là sự quý trọng một người Trong cuộc sống xã hội hàng ngày chúng ta thường chú ý rất nhiều để “cứu bộ mặt” Nhiều điều trong cái chúng ta gọi là phép lịch sự trong các buổi tụ tập đông người bao gồm việc bỏ qua các khía cạnh của phép cư xử có thể làm mất mặt Chúng ta không nói đến các giai thoại trong quá khứ hay đặc trưng của cá nhân Chúng có thể làm họ bối rối nếu nhắc tới Chúng ta nhịn không đùa về cái đầu hói nếu chúng ta nhận ra ai đó đội tóc giả trừ khi chúng ta là bạn thân Tế nhị là một thiết bị bảo vệ mà mỗi người sử dụng khi nghĩ đến việc một ngày nào đó điểm yếu cuả họ sẽ bị phơi bày trước mọi người Cuộc sống của chúng ta không chỉ diễn ra Khi không nhận ra nó phần lớn thời gian chúng ta kiểm soát liên tục và kỹ lưỡng sắc mặt,

cử chỉ và tư thế khi giao lưu với người khác

Một số người là chuyên gia trong việc kiềm chế biểu lộ trên khuôn mặt và cư xử tế nhị với người khác Một nhà ngoại giao giỏi nhất thiết phải có vẻ thoải mái khi tiếp xúc với người khác, cho dù họ bất đồng quan điểm hay kinh tởm Mức độ điều khiển thành công việc này có thể ảnh hưởng đến số phận của cả quốc gia Khôn khéo có thể làm giảm căng thẳng giữa các nước và tránh được chiến tranh

Quy tắc và nói chuyện

Mặc dù chúng ta sử dụng các cử chỉ không dùng lời khi cư xử và khi suy luận hành vi của người khác, nhiều giao tiếp diễn ra thông qua sự trao đổi thông thường bằng lời nói qua các cuộc đối thoại không chính thức Các nhà xã hội học luôn luôn chấp nhận là ngôn ngữ là nền tảng của cuộc sống xã hội Tuy nhiên gần đây, người ta phát triển một phương pháp mới, gắn với cách người ta sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống hàng ngày Việc nghiên cứu các mẩu đối thoại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi công trình của Erving Goffman Nhưng gây ảnh hưởng quan trọng nhất trong kiểu nghiên cứu này là Harold Garfinkens, người sáng lập ra phương pháp nhân chủng học

Phương pháp nhân chủng học là nghiên cứu các phương pháp nhân chủng - văn hoá dân gian, phương pháp mọi người sử dụng để luận nghĩa điều người khác làm và nhất là điều người khác nói Tất cả chúng ta đều áp dụng phương pháp này, thường không phải chú ý đến chúng Thường chúng ta chỉ có thể luận nghiã của những điều nói trong cuộc đối thoại nếu chúng ta biết tình huống xã hội.Tình huống này không xuất hiện trong các từ Hãy xem đoạn hội thoại sau:

A: Tôi có một cậu con trai 14 tuổi

B: Được

A: Tôi cũng còn có một con chó

B: Ô, tôi rất lấy làm tiếc

Theo bạn điều gì đang xảy ra ở đây? Hai người nói chuyện là thế nào với nhau Biết rằng đây là đoạn đối thoại giữa một người có khả năng sẽ thuê nhà và chủ nhà thì đoạn hội thoại trên có thể hiểu được Nhiều chủ nhà chấp nhận trẻ nhỏ nhưng không cho phép người thuê nuôi súc vật Tuy nhiên, nếu chúng ta không biết được tình huống xã hội, câu

Trang 18

trả lời của B dường như chẳng có mối liên hệ gì với câu B kể Một phần của ý nghĩa nằm trong từ ngữ và một phần trong cách tình huống xã hôi cấu trúc những điều người đối thoại nói

Dạng nói chuyện tầm phào nhất là sự hiểu biết tinh tế và kiến thức do những người có liên quan đưa vào Trên thực tế cuộc nói chuyện nhỏ của chúng ta phức tạp để nỗi không thiết lập trình được ngay cả những máy tính tinh vi nhất để trò chuyện với con người Từ ngữ sử dụng trong các cuộc nói chuyện thông thường không phải lúc nào cũng có ý nghĩa chính xác và chúng ta cố định những điều muốn nói thông qua giả định Nếu Nguyễn Văn A hỏi Lý Văn B “Hôm qua cậu làm gì ?”, thì bản thân từ ngữ không đưa ra câu trả lời hiển nhiên nào Ngày là một khoảng thời gian dài và sẽ là hợp lý khi Văn B trả lời

“Tôi thức dậy vào 7h16 Lúc 7h18 tôi ra khỏi giường, vào nhà tắm và bắt đầu đánh răng Lúc 7h19 tôi vặn vòi hoa sen…” Chúng ta hiểu kiểu trả lời khi biết Văn A, các hoạt động

mà Nguyễn Văn A hỏi Lý Văn B thường tiến hành cùng nhau và việc Lý Văn B thường làm vào những ngày đặc biệt trong tuần

Thí nghiệm của Garfinkel

Garfinkel đã tiến hành một số thí nghiệm cùng với các sinh viên tình nguyện Kết quả đã nhấn mạnh sự mong chờ nền mà chúng ta tổ chức các cuộc đối thoại thông thường Người ta yêu cầu các sinh viên đưa một người bạn hoặc người thân vào cuộc nói chuyện

và đòi hỏi có những nhận xét thông thường hay bình luận chung chung để đưa ra được ý nghĩa chính xác Nếu ai đó nói “Chúc một ngày tốt lành”, người sinh viên phải trả lời

“Chính xác là tốt lành theo nghĩa nào”, “Bạn định ám chỉ buổi nào trong ngày ?”, v.v…

Vì sao người ta lại buồn phiền khi những quy ước có vẻ là nhỏ lại không được tuân thủ? Câu trả lời là sự ổn định và ý nghĩa cuộc sống hàng ngày của chúng ta phụ thuộc vào việc chia sẻ những giả định văn hoá không nói ra về những điều đã nói và nguyên nhân Nếu chúng ta không chấp nhận điều này, sẽ không thể có những sự giao tiếp có ý nghĩa Bất

kỳ câu hỏi hay sự đóng góp nào vào cuộc nói chuyện sẽ được tiếp nối bằng “một chu trình tìm kiếm dày đặc” dạng như người ta yêu cầu đối với các đối tượng trong nghiên cứu của Garfinkel và sự giao lưu sẽ đổ vỡ Cái điều thoạt nhìn tưởng là thông lệ nói chuyện không quan trọng hoá ra lại là nền tảng cho từng cấu trúc của xã hội Vi phạm điều này thật là nghiêm trọng

Ghi nhớ rằng trong cuộc sống người ta có dịp giả vờ ngây thơ không biết điều gì đó Người ta có thể làm điều này để làm ai bị mất mặt, chế giễu họ, gây sự lúng túng hay gây

sự chú ý về nghĩa bóng của những điều vừa nói

Câu đối đáp của thiếu niên thường trái ngược với những người tham gia thí nghiệm của Garfinkel Thay cho việc cứ tra hỏi mà lẽ ra không nên làm, bọn trẻ từ chối cung cấp câu trả lời tương ứng bằng cách nói “Không phải việc của anh“

Các hình thức nói chuyện

Đây là một việc làm nghiêm túc khi nghe một cuộn băng ghi lại hay đọc lại lời thoại của một cuộc hội thoại Các cuộc nói chuyện thường đứt quãng, do dự và sai ngữ pháp hơn là phần lớn chúng ta nhận ra Khi chúng ta tham gia vào cuộc nói chuyện hàng ngày, chúng

ta thường nghĩ là điều chúng ta nói ra đã được đánh bóng, bởi vì chúng ta đã vô thức đệm

Trang 19

vào các từ; tuy nhiên các cuộc nói chuyện hoàn toàn khác với các cuộc hội thoại trong tiểu thuyết Ở đó các nhân vật nói với nhau bằng những câu đúng ngữ pháp

Cùng với công trình của Coffnian về sự thiếu tập trung dân sự có thiết giả định rằng sự phân tích các cuộc hội thoại thông thường bị gạt ra ngoài mối quan tâm chính của xã hội học; thêm vào đó nhiều nhà xã hội học phê phán các nghiên cứu về phương pháp dân tộc học chỉ vì những lý do này Tuy nhiên một số lý lẽ đã được sử dụng để chỉ ra tầm quan trọng của các công trình của Coffnian đói với xã hội học và với phương pháp dân tộc học Nghiên cứu cuộc nói chuyện hàng ngày cũng chỉ ra việc làm chủ ngôn ngữ mà người bình thường nói ra phức tạp thế nào Khó khăn lớn trong việc lập chương trình máy tính làm những điều mà con người có khả năng làm mà không cần một nỗ lực nào là một minh chứng cho sự phức tạp này Thêm vào đó, nói chuyện là một yếu tố cần thiết trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các cuốn băng về vụ Watergate của Tổng thống Nixon

và các cố vấn của ông chẳng có gì hơn là một đoạn hội thoại, nhưng chúng đã cung cấp cái nhìn thoáng qua về việc thực thi quyền lực chính trị ở mức cao nhất (Molotch & Boden 1985 )

Tiếng kêu đáp lại

Một số kiểu phát biểu không nói ra nhưng bao gồm các câu cảm thán lầm bầm trong miệng Coffnian đặt cho nó cái tên tiếng kêu đáp lại (Goffman 1981) Hãy xem xét việc

ai đó nói “OOPS!” sau khi đánh vỡ hoặc đánh rơi cái gì “Oops” dường như chỉ là một phản ứng không thú vị đối với một sự rủi ro, hơn là nháy mắt khi có ai đó dứ dứa tay vào khuôn mặt bạn Tuy nhiên đây không phải là một phản ứng vô tình Thực tế là người ta thường không thốt lên khi chỉ có một mình “Oops” thương hướng tới những người có mặt hành động đó cho người chứng kiến thấy là sai sót chỉ là nhỏ và nhất thời chứ không phải là điều gì gây nghi ngờ về khả năng kiểm soát hành động của bản thân

Từ “Oops” bản thân đã được định nghĩa về văn hoá Khi người Nga đánh rơi vật gì đó chẳng hạn, họ không nói “Oops” mà thay vào đó thốt lên một tự giống như “Ayee“ trong tiếng Anh.điều này có lẽ là được tính toán trước và cường điệu lên tại sao lại phải phân tích lời phát biểu nhỏ nhoi một cách chi tiết như vậy? Chắc chắn chúng ta sẽ không chú ý nhiều đến điều chúng ta nói như thí dụ trên Tất nhiên chúng ta không Điều quan trọng là chúng ta công nhận việc kiểm soát liên tục, phức tạp dáng vẻ và hành động của chúng ta Trong các tình huống giao tiếp, người ta không bao giờ mong đợi chúng ta chỉ có mặt trên sàn diễn Những người khác mong đợi chúng ta, cũng như chúng ta mong đợi học biểu lộ cái mà Goffman gọi là “sự cảnh giác có kiểm soát “ Một bộ phận cơ bản của con người là biểu lộ liên tục trước người khác khả năng của mình trong các công việc thường nhật của cuộc sống

Lỡ lời

“Oops” là phản ứng với một rủi ro nhỏ Chúng ta cũng có những sai sót khi nói và phát

âm trong suốt cuộc nói chuyện, giảng bài hay các tình huống khác Trong các nghiên cứu

về “ thâm thần học trong cuộc sống hàng ngày “, Sigmund Freud, nhà sáng lập ra phân tích tâm thần đã phân tích hàng loạt thí dụ lỡ lời (Freu 1975) Theo ông lỗi khi nói, kể cả phát âm sai hay đặt từ không đúng vị trí hay nói lắp trên thực tế không phải là tình cờ Chúng được thúc đẩy một cách vô thức bởi các cảm giác bị kiềm chế bởi lý trí hoặc cảm

Trang 20

xúc chúng ta muốn kìm nén một cách có ý thức nhưng bất thành Những cảm xúc này thường, nhưng không phải lúc nào liên quan đến quan hệ tình dục Do vậy, một người có thể định nói “ organizm “ ( cơ thể ) nhưng thay vào đó lại nói “ orgasm “ ( sự cực khoái) Trong thí dụ Freud đưa ra , khi người ta hỏi một phụ nữ “Con trai bà thuộc trung đoàn nào ?” Bà ta trả lời “kẻ giết người thứ 42” ( đúng ra là từ Morder bằng tiếng đức chứ không phải là từ bà ta định nói Morser hay Nortars )

Một trong những cách tốt nhất để minh hoạ điểm này là nhìn vào vật phủ lên trong lời nói của các phát thanh viên truyền thanh và truyền hình Cách đọc của các phát thanh viên không giống như lối nói chuyện thông thường, bởi vì nó không phải là tuỳ hứng mà là được ghi lại Người ta cũng mong là nó sẽ gần như hoàn hảo hơn cuộc nói chuyện thông thường, được phát ra mạch lạc và lưu loát hơn Do vậy sai sót hay đỏ mặt của những người mới vào nghề phát thanh viên thường hiển nhiên hơn nhiều so với tình huống bình thường Tuy nhiên việc phát thanh viên lỡ miệng và nhiều câu lỡ rất buồn cười mang bản chất quá tự nhiên Freud kêu gọi nên chú ý đến điểm này

Chúng ta thường cười những sai sót về lời nói khi phát thanh viên (hay giảng viên) hơn

là khi chúng xảy ra trong tình huống bình thường Sự hài hước không những chỉ tập trung vào điều đã nói sai mà còn ở sự bối rối của người nói khi phát ngôn không được hoàn hảo Chúng ta nhìn thấy phía sau của tính chuyên nghiệp lạnh lùng tới …

Khuôn mặt, cơ thể và lời nói khi giao tiếp

Hãy tổng kết lại những gì chúng ta vừa học Giao tiếp hàng ngày phụ thộc vào mối quan

hệ giữa những gì chúng ta chuyển tải qua nét mặt và cử chỉ và những gì chúng ta biểu lộ bằng lời Chúng ta dùng sắc mặt và cử chỉ của những người khác để cung cấp thêm chi tiết cho những gì họ nói bằng lời và kiểm tra xem họ thành thực đến mức nào Đa phần không nhận ra mỗi người trong số chúng ta đều kiểm soát chặt chẽ và liên tục sắc mặt, cử chỉ và chuyển động của cơ thể trong suốt quá trình giao tiếp

Thỉnh thoảng việc nói nhầm như trong thí dụ “ murderers “ của Freud làm lộ điều mà chúng ta muốn che giấu, có ý thức hoặc vô thức Nhiều lời lỡ nói ra đã phô bày cảm xúc đích thực của chúng ta như trong thí dụ trộn bánh gatô, người phát thanh viên có thể nghĩ

là “kinh tởm”

Nét mặt, điều khiển cơ thể và lời nói sau đó sẽ được sử dụng để chuyển tải ý nghĩa nhất định và che giấu những điều khác Chúng ta cũng tổ chức hoạt động của mình trong các tình huống của cuộc sống xã hội để đạt được những đích giống nhau, như chúng ta sẽ thấy sau đây

Cuộc gặp gỡ

Các cuộc gặp gỡ luôn cần những “ lỗ hổng” cho biết sự không chú ý dân sự bị bỏ qua Khi những người chưa quen biết gặp nhau và bắt đầu nói - như trong bữa tiệc chẳng hạn - thời điểm ngừng sự mất tập trung dân sự luôn luôn là nguy cơ, bởi vì sự hiểu lầm dễ dàng xảy ra Do đó, nhìn mắt nhau có thể là lưỡng nghĩa và thăm dò Một người sau đó có thể hành động như thể người đó không trực tiếp chuyển động nếu lời mào đầu không được chấp nhận Trong giao tiếp từng người dùng cả nét mặt và cử chỉ lẫn lời Goffmannn phân biệt cách biểu lộ mà các cá nhân “đưa ra” hay “phát ra” Cách thứ nhất là từ ngữ và sắc mặt người ta dùng để tạo ấn tượng nhất định với người khác Cách thứ hai là chìa

Trang 21

khoa mà người khác có thể chọn để kiểm tra sự chân thành hay thành thật Thí dụ, một người chủ khách sạn lắng nghe cùng một nụ cười lịch sự sự thích thú của hành khách về các món ăn, cùng lúc đó để ý mức độ sự hài lòng của hành khách khi ăn các món ăn đó,

họ có để thừa nhiều không và âm vực của giọng nói họ sử dụng để biểu lộ sự thoả mãn

Dấu

Phần lớn chúng ta gặp gỡ và nói chuyện với nhiều loại người trong sốt một ngày.Dấu đặc biệt quan trọng khi cuộc gặp đặc biệt hoặc không rõ điều gì đang diễn ra Thí dụ, khi một người mẫu để trần trước học sinh trường nghệ thuật, thường thì anh ta không cởi bỏ quần

áo khi có mặt người khác Cởi và mặc quần áo một mình cho phép cơ thể phơi bày và che đột ngột Cả hai việc này đánh dấu ranh giới của các giai thoại và chứng tỏ rằng ở đây không có ý nghĩa tình dục

Trong không gian rất chật hẹp như cầu thang máy chẳng hạn khó lòng đánh dấu khu vực tập trung giao tiếp Những người có mặt không dễ dàng gì cho chúng ta biết điều họ sẽ làm trong tình huống khác, rằng họ không nghe những điều người xung quanh nói Khó

có thể nhìn thấy những người không qnen nhìn thẳng vào nhau Vì vậy, trong thang máy người ta thường chọn một tư thế cường điều vờ như “không nghe” và “không nhìn“, chỉ nhìn ra ngoài hoặc vào bảng điều khiển- bất kỳ nơi nào miễn là không phải là những người cùng trong thang máy Hội thoại thường lơ lửng hoặc gói gọn trong việc trao đổi ngắn Tương tự, ở cơ quan hay ở nhà , nếu vài người đang nói chuyện với nhau và một người có điện thoại, thì những người còn lại không sẵn sàng tỏ ra hoàn toàn không chú ý

và họ có thể nói chuyện dè dặt và yếu ớt

Quản lý ấn tượng

Khi phân tích giao tiếp xã hội Goffman và các nhà văn khác chuyên viết về chủ đề này thường sử dụng ý niệm của nhà hát Khái niệm VAI TRÒ XÃ HỘI chẳng hạn có nguồn gốc từ khung cảnh nhà hát Vai là điều được xã hội mong đợi và một người ở địa vị xã hội nhất định cần tuân thủ Làm thầy giáo tức là giữ một địa vị đặc trưng; Thầy giáo diễn vai theo cách đặc biệt trước các học trò Goffman thấy cuộc sống xã hội như các nghệ sĩ diễn trên sân khấu, bởi vì cách diễn của chúng ta phụ thuộc vào vai trong ta diễn ở một thời điểm đặc biệt Phương pháp này đôi khi được gọi là cuộc sống xã hội kịch Người ta rất nhạy cảm đối với việc người khác nhìn họ và sử dụng nhiều dạng quản lý ấn tượng để thúc người khác phản ứng lại theo cách họ muốn Mặc dù đôi lúc chúng ta làm điều này một cách tính toán, nhưng thường thì việc này nằm trong số những việc chúng ta làm mà không để ý Khi Nguyễn Văn A dự một cuộc họp , anh ấy mặc comple và thắt cavat đồng thời cư xử sao cho tốt, tối hôm đó khi thư giãn cùng bạn bè trong một cuộc đá bóng, anh

ấy mặc quần bò, áo may ô và kể nhiều chuyện phiếm Đó chính là quản lý ấn tượng

Vùng phía trước và phía sau

Goffman cho rằng nhiều điều trong cuộc sống có thể chia thành khu phía trước và khu phía sau Khu phía trước là các dịp hay cuộc gặp gỡ trong đó các cá nhân đúng vai trịnh trọng Công việc tập thiết thường tạo ra sự trình diễn khu vực phía trước hai nhà chính trị nổi tiếng có thể tỏ ra một cách khéo léo sự thống nhất và tình bạn trước ống kính truyền hình, ngay cả khi hay người căm ghét nhau Một cặp vợ chồng có thể lo che giấu không

Trang 22

để con cái biết là họ cãi nhau, cố giữ một trận tuyến hài hoà Chỉ khi nào bọn trẻ đã lên giường họ mới cãi nhau kịch liệt

Khu vực phía sau là nơi ngời ta tập hợp các ưu điểm lại và chuẩn bị giao tiếp trong klhung cảnh long trọng hơn Khu vực phía sau tương tự như hậu trường của nhà hát hay các hoạt động làm phim không thu vào ống kính Khi đứng trong hậu trường, người ta có thể thư giãn, thả lỏng cảm xúc và kiểu cư xử mà họ phải kiềm chế khi đứng trước sân khấu Khu vực phía sau cho phép chửi thề, các nhận xét tình dục, kêu ca, ăn mặc thoải mái, tư thế ngồi và đứng nhếch nhác, sử dụng tiếng địa phương hay ngôn từ không chuẩn, lầm bầm và hét lên, nổi nóng giả vờ, thờ ơ với những người khác trong các hành động nhỏ nhưng có đặc trưng chủ định, có hững hành động hư huýt sáo, nhai kẹo cao su (Goffman 1969) Do vậy người hầu có thể là linh hồn của sự lịch lãm khi phục vụ khách hàng, nhưng trở nên ồn ào và côn đồ một khi đứng sau cửa bếp Nếu khách hàng nhìn thấy cảnh tượng diễn ra trong bếp, thì sẽ có rất ít khách sạn khách hàng thường xuyên lui tới

Chọn vai: nghiên cứu gần gũi

Chúng ta cũng mượn sân khấu làm thí dụ cộng tác trong quản lý ấn tượng Chúng ta cùng xem xét kỹ lưỡng một nghiên cứu James Henslin và Mae Briggs nghiên cứu một dạng gặp gỡ đặc biệt và tinh tế: một phụ nữ đi khám phụ khoa Khi nghiên cứu hầu hết các thăm khám phần khung chậu đều do bác sĩ nam tiến hành và do vậy cả hai đều thấy mơ

hồ và lúng túng Ở phương tây nam giới và phụ nữ đã được hoà nhập khi nghĩ về các cơ quan sinh dục như phần riêng tư nhất của cơ thể con người và việc nhìn, và nhất là cảm nhận bộ phận sinh dục của người khác thương gắn với quan hề tình dục Một số phụ nữ cảm thấy quá lo lắng về sự thăm khám khung chậu đến nỗi họ không đi khám, ngay cả khi họ nghi ngờ là có lý do y học mạnh mẽ

Henslin và Briggs phân tích các tài liệu mà Briggs, một ý tá có trình độ thu thập được qua rất nhiều thăm khám phụ khoa Họ giải thích rằng những gì họ tìm thấy có một số giai đoạn điển hình Chọn một phép ẩn dụ trong kịch, họ giả định rằng mỗi giai đoạn có thể xử lý như một cảnh riêng biệt, trong đó vai diễn của diễn viên thay đổi khi hồi mở ra Trong phần đầu của vở kịch người phụ nữ bước vào phòng đợi chuẩn bị đóng vai bệnh nhân, tạm thời loại bỏ hình dạng bên ngoài của cô Khi được gọi vào phòng khám cô chọn vai bệnh nhân và cảnh 1 mở ra Bác sĩ làm ra vẻ chuyên nghiệp và chữa cho bệnh nhân một cách thuần thục, nhìn và lắng nghe một cách lịch sự những điều bệnh nhân nói Nếu ông quyết định khám, thì ông sẽ nói lại với bệnh nhân và rời khỏi phóng khám; cảnh

1 kết thúc

Cảnh trung tâm lại mở, có cả y tá và bác sĩ tham gia sự xuất hiện của ý tá đảm bảo là sự giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân không mang yếu tố tình dục, đồng thời cung cấp nhân chứng có tính pháp lý, bác sĩ sẽ bị phạt nếu có những cư xử vị phạm y đức Việc khám diễn ra như thể nhân cách của bệnh nhân vắng mặt; tấm ga đắp lên người bệnh nhân che

bộ phận sinh dục khỏi phần cơ thể còn lại và tư thế của bệnh nhân không cho phép cô quan sát được việc thăm khám Để tránh các câu hỏi đặc biệt về y học, người bác sĩ ngồi trên một chiếc ghế thấp ngoài tầm nhìn của bệnh nhân Người bệnh cộng tác bằng cách tạm thời không phải là người, không bắt chuyện và cố gắng tránh mọi cử động

Trang 23

Vào giờ nghỉ giữ cảnh này và cảnh cuối, người ý tá lại đóng vai trò người thu dọn, giúp bệnh nhân lần nữa trở lại thành người Vào lúc này hai người có thể lại nói chuyện, bệnh nhân bày tỏ sự nhẹ nhõm khi việc khám đã xong Mặc quần áo chỉnh tề người bệnh sẵn sàng đối mặt với cảnh cuối Bác sĩ quay lại cử xử với bệnh nhận đầy trách nhiệm thảo luận với cô về kết quả của việc khám tiếp tục phong cách lịch thiệp và chuyên nghiệp, ông bày tỏ phản ứng của mình với cô không thay đổi khi có sự tiếp xúc gần gũi với cơ thể

cô Phần kết của vở kịch là bệnh nhân rời khỏi phòng khám của bác sĩ, lại trở lại mình ở thế giới bên ngoài Như vậy bác sĩ và bệnh nhân đã hợp tác theo cách điều khiển sự giao tiếp và cảm xúc của người này với người kia

Không gian riêng tư

Có sự khác nhau trong cách định nghĩa về không gian riêng tư ở các nước phương Tây, người ta thường giữ một khoảng cách ít nhất là 3 fit (1 foot = 12 inches) khi giao tiếp với người khác; khi đứng sát vai nhau, họ có thể đứng gần nhau hơn ở Trung Đông, người ta

có thể đứng gần nhau hơn so với Phương Tây Người Phương Tây khi đến Trung Đông thường cảm thấy mình lúng túng bởi sự gần gũi này

Erward T Hall, người đã nghiên cứu nhiều năm về giao tiếp không lời nói chia khoảng

không gian riêng tư thành 4 loại Khoảng cách gần gũi, dưới 1 fit rưỡi rất khi có trong

tiếp xúc xã hội Chỉ có những người cho phép sự động chạm cơ thể thường xuyên, như giữa những người yêu nhau hau giữa bố mẹ và con cái thì mới có thể nằm trong khoảng không gian này Bạn bè và những người quen thường đứng cách nhau một khoảng có tên

là khoảng cách riêng tư ( từ 1 đến 4 fit ) Có thể gần hơn một chút nhưng điều này

thường bị cấm Trong các khung cảnh trịnh trọng , như khi phỏng vấn chẳng hạn, người

ta giữ một khoảng cách xã hội, từ 4 đến 12 fit Cuối cùng là khoảng cách nơi công cộng,

người 12 fit -khi trình diễn trước khán giả

Giao tiếp theo thời gian và không gian

Hiểu được cách phân bố hoạt động theo thời gian và không gian là nền tảng để phân tích các cuộc gặp và hiểu được cuộc sống xã hội nói chung Mọi cuộc gặp đều được định vị -

nó xảy ra ở một địa điểm nào đó và trong một khoảng thời gian nào đó Hành động của chúng ta trong suốt một ngày thường được khoảng vùng về không gian và thời gian Chẳng hạn, phần lớn mọi người đều dành một vùng , từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều của ngày để làm việc Trong tuần thời gian của họ cũng được khoanh lại: Họ thường làm việc vào ngày thường và nghỉ ở nhà vào thứ bảy chủ nhật Khi chúng ta chuyển qua vùng thời gian trong ngày, thì chúng ta cũng chuyển qua vùng không gian: Để tới nơi làm việc, chúng ta có thể đi xe buýt từ một khu này của thành phố tới một khu vực khác, hay cũng

có thể đi từ ngoại thành vào Vì vây, khi phân tích bối cảnh giao tiếp xã hội, thật hữu ích nếu chúng ta quan sát chuyển động của mọi người và nhận ra sự tương đồng về thời gian

- không gian này

Khái niệm khu vực hóa sẽ giúp chúng ta hiểu cuộc sống xã hội phân vùng không gian và thời gian như thế nào Hãy lấy một ngôi nhà tư làm thí dụ Một ngôi nhà hiện đại thường chia thành các phòng, các lối đi và nếu nhà từ hai tầng trở đi thì sẽ được chia thành các tầng Những khoảng không gian này không chỉ đơn thuần được phân cách về mặt vật lý

và còn được phân vùng theo thời gian Phòng khách và gian bếp được sử dụng nhiều nhất

Trang 24

vào ban ngày, còn phòng ngủ vào ban đêm Mối giao tiếp xảy ra tại các khu vực này được hạn chế bằng sự phân chia theo thời gian và không gian Một vài khu vực của nhà hình thành nên khu vực hậu trường với các “ hoạt động “ xảy ra tại các khu vực khác Thỉnh thoảng toàn bộ ngôi nhà biến thành hậu trường Một lần nữa Goffmann đã nắm bắt được ý tưởng này một cách nên thơ:

Vào một sáng chủ nhật cả nhà có thể sử dụng tường bao quanh ngôi nhà để giấu đi sự ăn mặc luộm thuộm và những cố gắng dân sự, lên lỏi đến mọi căn phòng mà theo nghi chức không chính thức chỉ hạn chế trong bếp và buồng ngủ Vì vậy, tại nước Mỹ giới trung lưu vào buổi chiều các bà mẹ thường coi giải phân định giữa sân chơi của bọn trẻ và nhà là hậu trường Các bà mẹ thường mặc quần Jean, đi giày đế bằng và hầu như không trang điểm Lẽ dĩ nhiên khu vực được thiết lập là khu vực mặt tiền hay khán đài nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động thường nhật lại biến thành hậu trường trước và sau mỗi cuộc diễn, bởi vì vào thời điểm này những đồ đạc cố định có thể đang sử chữa, phục hồi bay sắp xếp lại hay người diễn có thể đang mặc quần áo diễn tập Để thấy điều này, trước khi mọi việc thiết lập được mở ra chúng ta chỉ cần liếc vào phòng ăn, nhà kho hay ngôi nhà

Thời gian đồng hồ

Trong xã hội hiện đại, việc khoang vùng các hoạt động chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thời gian chỉ trên đồng hồ Xã hội công nghiệp hoá không thể tồn tại nếu thiếu đồng hồ để định thời gian các hoạt động một cách chính xác cũng sự phối hợp hoạt động theo không gian, (Mumford 1973 ) Việc dùng đồng hồ để đo thời gian ngày nay đã được chuẩn hoá trên toàn cầu, giúp hệ thống giao thông và viễn thông phức tạp được thông suốt trên toàn thế giới Thế giới được phân nhỏ thành các múi giờ, mỗi múi là 1 giờ và sắp bắt đầu một ngày mới được cố định ở khắp nơi

Các tu viện vào thế kỷ 14 là những tổ chức đầu tiên cố gắng sắp lịch hoạt động trong ngày và trong tuần của các tu sĩ một cách chính xác Ngày nay, hầu như không có một nhóm hay một tổ chức nào lại không làm theo cách như vậy càng có nhiều người và nguồn tham gia, việc xếp lịch lại càng phải chính xác Eviatar Zrrrubavel đã minh hoạ điều này trong nghiên cứu của ông về khung thời gian của một bệnh viện lớn ( 1979,

1982 ) Một bệnh viện phải hoạt động 24/ 24 giờ và cũng đòi hỏi thay thế giữa trực ngày

và trực đêm Y tá, bác sĩ và các nhân viên khác, cùng với các nguồn họ cần phải được thống nhất về không gian và thời gian

Cuộc sống hàng ngày : triển vọng văn hoá và lịch sử

Một số cơ chế của giao tiếp xã hội do Goffman, Garfinkel và những người khác phân tích

có vẻ là phổ quát Sử dụng các dấu hiệu để báo cuộc gặp bắt đầu hay kết thúc chẳng hạn

là đặc trưng của giao tiếp ở khắp mọi nơi Trong các buổi tụ tập cũng có thẻ tìm thấy cách tổ chức các cuộc gặp chẳng hạn theo kiểu quay lưng về khía người khác để hình thành cụm đối thoại Tuy nhiên, nhiều cuộc tranh luận của Gofmann về sự không chú ý dân sự và các dạng giao tiếp xã hội khác lúc ban đầu liên quan tới các xã hội, trong đó sự giao tiếp với người là là chuyện rất bình thường Thế còn những xã hội truyền thống rất nhỏ, nơi không có người là và ít có khung cảnh mà nhiều hơn một dúm người tụ lại thì sao?

Trang 25

Để nhìn sự đối nghịch giữa giao tiếp xã hội, trong xã hội hiện đại và xã hội truyền thống hãy lấy một trong những nền văn hoá kém phát triển nhất về công nghệ còn sót lại trên thế giới để làm thí dụ: Người Kung (đôi khi còn gọi là Bushmen ) sống ở hoang mạc Kalahari của Botswana và Namibia, Nam Phi (Lee 1968, 1969; dấu chấm than chỉ âm khi gọi tên ) Cho dù lối sống của họ đang có tự thay đổi do ảnh hưởng của bên ngoài, kiểu sống truyền thống của họ vẫn còn rất rõ

Sự thúc ép gần lại

Hoàn toàn đối ngược với người Kung - như sẽ được phân tích kỹ ở các chương tiếp theo, trong xã hội hiện đại, chúng ta thường xuyên tiếp xúc với những người xưa gặp hoặc quen bao giờ Hầu như mọi giao dịch hàng ngày như mua rau quả hay mở một tài khoản

ở nhân hàng đều đưa chúng ta vào cuộc tiếp xúc - tiếp xúc gián tiếp -với những người mà

có thể sống cách xa hàng ngàn dặm Hệ thống ngân hàng chẳng hạn là quốc tế Mọi khoản tiền bạn gửi vào đều là một phần nhỏ của việc đầu tư tài chính mà ngân hàng tạo ra trên khắp toàn cầu

Bây giờ đã khá dễ dàng, tại sao chúng ta lại không giao tiếp gián tiếp với người khác nhiều hơn? Vì sao chúng ta lại không sử dụng điện thoại, fax hay các phương tiện viễn thông khác khi tiếp xúc với bạn bè hay đồng nghiệp? giới kinh doanh thường tiếp tục tham dự các cuộc gặp, đôi khi bay nửa vòng trái đất để gặp nhau, khi mà mọi việc có vẻ đơn giản và hiệu quả hơn nếu giao dịch bằng máy tính hay đường dây điện thoại có nhiều người tham gia

1.4 Phát triển triển vọng xã hội

Học cách nghĩ trên phương diện xã hội học- hay nói cách khác nhìn với quan điểm thoáng hơn - nghĩa là nuôi dưỡng những tưởng tượng Là những nhà xã hội học, chúng ta cần tưởng tượng , chẳng hạn cảm xúc của tình dục và hôn nhân của con ngời là thế nào, với ai thì xa lạ hay với ý tưởng về một tình yêu lãng mạn hay thấy nó vô lý Nghiên cứu

xã hội học không thể đơn thuần là một quá trình thu nhận kiến thức diễn ra ngày ngày Nhà xã hội học là người biết thoát ra khỏi tính gần gũi của hoàn cảnh cá nhân và đặt sự việc vaò một khung cảnh rộng hơn Công việc xã hội học phụ thuộc vào trí tưởng tựơng

xã hội học- thứ mà tác giả người Mỹ C Wright Mills đã gọi trong một câu nổi tiếng

Tưởng tượng xã hội học đòi hỏi chúng ta trước hết “nghĩ tách ra khỏi những thường nhật

đã quen của cuộc sống để nhìn chúng theo một cách mới” hãy xét một hành động đơn

giản là việc uống một tách cà phê Chúng ta có thể tìm thấy gì để nói về một hành vi

dường như chả có gì thú vị vậy trên quan điểm xã hội học? Rất nhiều Trước hết chúng ta

có thể chỉ ra rằng cà phê không chỉ là một đồ uống Nó mang một giá trị tượng trưng, là một phần của các hoạt động xã hội hàng ngày Thường các thủ tục gắn với việc uống cà phê quan trọng hơn rất nhiều so với việc uống nó Hai người hẹn gặp nhau đi uống cà phê

có thể quan tâm nhiều hơn đến việc gặp nhau để tán gẫu hơn là thứ nước mà họ uống Trong tất cả, mọi xã hội ăn và uống tạo ra cơ hội để giao lưu và hành lễ và chính những điều này là một chủ đề phong phú cho việc nghiên cứu xã hội

Thứ hai, cà phê là một loại thuốc, có chứa chất cafein, kích thích lên não Ở Phương Tây

những người nghiện cà phê không bị coi là nghiện Giống như rượu, cà phê là một thứ thuốc được xã hội chấp nhận trong khi cần sa thì lại không Dĩ nhiên có những xã hội

Trang 26

chấp nhận việc hút cần sa, thậm chí cocain nhưng uống cà phê hay rượu lại lamg người khác khó chịu Những nhà xã hội học quan tâm đến lý do của sự tương phản này.

Thứ ba, một cá nhân uống một cốc cà phê bị bắt gặp trong một khung cảnh các mối quan

hệ xã hội và kinh tế phức tạp xuyên lục địa Việc sản xuất, chuyên chở và buôn bán cà phê đòi hỏi sự giao dịch không ngừng giữa những con người ở cách người uống hàng nghìn dặm Nghiên cứu giao dịch mang tính toàn cầu như vậy là một nhiệm vụ quan trọng của xã hội học, bởi vì nhiều khía cạnh của cuộc sống chịu ảnh hưởng của các tác động và giao lưu xã hội trên thế giới

Cuối cùng, hành động nhấm nháp từng hớp cà phê là một quá trình tổng thể của sự phát triển kinh tế và xã hôị trong quá khứ Cùng với các thuật ngữ quan trọng khác về món ăn Phương Tây - như chè, chuối, khoai tây và và phê sữa mãi đến cuối thế kỷ 19 mới được

sử dụng rộng rãi Mặc dù đồ uống này có nguồn gốc từ Trung đông, được sử dụng nhiều

từ khi phương Tây mở rộng chính sách thực dân khoảng 150 năm trước Hầu như tất cả

cà phê mà người Phương Tây uống đều được trồng ở những khu vực ( Nam Mỹ và Châu Phi ) bị người chấu Âu chiếm làm thuộc địa; nó không phải là một phần tự nhiên của món

ăn phương tây

1.5 Liệu xã hội học có phải là một khoa học?

Durkheim, Marx và các nhà sáng lập ra môn xã hội học đều cho rằng đó là một khoa học Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu cuộc sống xã hội của loại người theo một cách khoa học hay không? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta phải hiểu được thế giới là gì? Thế nào là một khoa học?

Khoa học là sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm một cách hệ thống, phân tích số liệu, suy nghĩ về lý thuyết và đánh giá một cách logic các lý lẽ để phát triển một nhóm kiến thức về một chủ đề riêng biệt Theo định nghĩa này, xã hội học là một nỗ lực khoa học Nó bao gồm các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm một cách có hệ thống, phân tích số liệu và đánh giá các học thuyết dưới ánh sáng của bằng chứng và lý lẽ logic Tuy nhiên, nghiên cứu con người khác với việc quan sát các sự kiện trong thế giới vật lý

và không thể xem xã hội học như một khoa học tự nhiên một cách trực tiếp Không giống như các vật trong tự nhiên, loài người là những sinh vật có nhận thức về xúc cảm và mục đích của việc đang làm Chúng ta không thể miêu tả chính xác cuộc sống xã hội nếu lúc đầu chúng ta không nắm dược khái niệm của con người về cách cư xử của họ Thí dụ, miêu tả một cái chết là tự tử tức là biết được dự định của người đã chết tại thời điểm đó Việc tự tử chỉ diễn ra khi một cá nhân có sự tự tuỷ hoại trong tâm trí Một người tình cờ đứng trước mũi ô tô và bị chết không thể nói là tự tử được

Việc chúng ta không thể nghiên cứu con người giống hệt như đối với vật trong tự nhiên theo cách mào đó lại là một ưu điểm của xã hội học Những nhà nghiên cứu xã hội học được lợi từ việc có khả năng đặt câu hỏi trực tiếp cho những người họ nghiên cứu Trong các lĩnh vực khác, xã hội học gặp khó khăn mà các nhà khoa học tự nhiên không gặp phải Họ có thể phác hoạ chân dung mình một cách có ý thức hay vô ý thức theo cách khác những thái độ thông thường Họ thậm chí có thể “ giúp “ người nghiên cứu bằng cách trả lời những câu hỏi mà nghiên cứu đặt ra

Trang 27

1.6 Lợi ích của xã hội học

Xã hội học liên quan rất nhiều với cuộc sống, như Mills đã nhấn mạnh khi phát triển các

ý tưởng về tưởng tượng xã hội học

Nhận thức về sự khác biệt văn hoá

Trước hết, xữ hội học cho phép chúng ta nhìn xã hội từ nhiều góc độ Thường thì nếu chúng ta hiểu đúng người khác sống ra sao, thì chúng ta cũng hiểu được họ có những vấn

đề gì Các chính sách trên thực tế mà không dựa vào sự nhận biết không chính thức của những người mà chính sách này gây ảnh hưởng ít có cơ may thành công Do vậy, một nhà công tác xã hội da trắng hoạt động trong một cồng đồng người da đen sẽ không dành được sự tin cậy của các thành viện của cộng đồng nếu không có sự nhạy cảm về sự khác biệt phân cách người da đen và da trắng

Đánh giá ảnh hưởng của chính sách

Thứ hai, các nghiên cứu về xã hội học giúp cho việc đánh giá kết quả của chính sách Một chương trình cải cách thực tế có thể không đạt được những gì mà người hoạch định tìm kiếm và có thể tạo ra những hậu quả không lường Thí dụ trong những năm diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, những khu nhà ở cao tầng được xây dựng tại trung tâm thành phố ở nhiều nước Người ta định cung cấp nơi ở có chất lượng cao cho những người có thu nhập thấp sống trong các khu nhà ổ chuột Đồng thời cung cấp các tiện nghi mua sắm và các dịch vụ công dân khác ngay trong tầm tay Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nhiều người cảm thấy cô độc và bất hạnh khi chuyển đến sống trong ác chung

cư cao tầng Các khu chung cư và trung tâm mua sắm tại các khu dành cho người nghèo thường bị hư hại và là mảnh đất cho buôn lậu và các hành vi tội ác khác

Tự khai sáng

Thứ ba, theo các cách quan trọng hơn, xã hội học có thể cung cấp cho chúng ta sự khai sáng - tăng tự hiểu biết Chúng ta càng biết nhiều về lý do hành động của mình và hoạt động tổng thể của xã hội, chúng ta lại càng có khả năng ảnh hưởng đến tương lai của chính mình Chúng ta không nên nhìn xã hội học như một trợ giúp cho các nhà hoạch định chính sách, nhóm người có thế lực đưa ra những quyết định Những người nắm quyền không phải lúc nào cũng được đảm nhiệm xem xét lợi ích của những người kém quyền lực qua những chính sách mà họ theo đuổi Nhóm tự khai sáng cũng có thể hưởng lợi từ những nghiên cứu về xã hội học và phản ứng hiệu quả với những chính sách của chính phủ hay có những sáng kiến của chính bản thân Những nhóm đồng đẳng như người nghiện rượu không tên và các phing trào xã hội như phong trào về môi trường là các thí dụ về các nhóm xã hội, đã tìm cách trực tiếp mang lại những cải cách thực tế với những thành công đáng kể

Vai trò của nhà xã hội học trong xã hội

Cuối cùng, với tư cách là các nhà hoạt động chuyên nghiệp nhiều nhà xã hội học liên quan trực tiếp với các vấn đề thực tế Những người được đào tạo chuyên ngành xã hội học thường được thấy như các nhà tư vấn công nghiệp, nhà quy hoạch đô thị, các nhà công tác chính trị và các nhà quản lý nhân lực cũng như hoạt động trong nhiều công việc thực hành khác

Trang 28

Nên chăng các nhà xã hội học tích cực ủng hộ hay vận động cho các chương trình cải cách hay thay đổi xã hội? Một số người tranh cãi rằng xã hội học có thể giữ tính độc lập

về trí tuệ của nó một khi các nhà xã hội học trung lập trong các vấn đề đạo đức và chính trị đang gây nhiều tranh cãi Tuy nhiên thường có một mối liên hệ giữa việc nghiên cứu

xã hội học và việc thúc đẩy lương tâm xã hội Không có một người nào thông thạo về xã hội học lại có thể không có nhận thức về những bất công đang tồn tại ngày nay, sự thiếu công bằng xã hội trong nhiều tình huống xã hội và sự nghèo khổ và hàng triệu con người đang gánh chịu Cũng sự kỳ lạ nếu các nhà xã hội học không bày tỏ sự ủng hộ với những vấn đề thực tế và cũng thật phi lý nếu cứ ngăn cản họ sử dụng kinh nghiệm để làm việc này

1.7 Xã hội học tầm vi mô và vĩ mô, đối tượng nghiên cứu của chúng

Việc nghiên cứu hành vi hàng ngày trong các tình huống giao tiếp mặt đối mặt thường được gọi là xã hội học tầm vi mô Nghiên cứu tầm vĩ mô là phân tích các hệ thống xa hội quy mô lớn, như các hệ thống chính trị hay các trật tự kinh tế Xã hội học tầm vĩ mô cũng bao gồm cả việc phân tích các quá trình thay đổi dài hạn, như sự phát triển của chủ nghĩa công nghiệp Thoạt nhìn, dường như sự phân tích tầm vi mô và vĩ mô tách khỏi nhau Trên thực tế, chúng có quan hệ mật thiết, chúng ta sẽ thấy rõ điều này

Phân tích vi mô rất cần khiết nếu chúng ta định hiểu nền tảng tổ chức của cuộc sống hàng ngày Cách mọi người sống chịu tác động rất lớn của khung tổ chức rộng lớn hơn Điều này rất rõ khi so sánh chu trình hoạt động hàng ngày của một nền văn hoá, như người Kung chẳng hạn với cuộc sống trong một môi trường đô thị công nghiệp Như đã nói, trong các xã hội hiện đại chúng ta tiếp xúc liên tục với những người không quen biết Điều này có thể là gián tiếp hay lạnh lùng Tuy vậy, cho dù chúng ta có thể có những mối quan hệ gián tiếp hay thông qua máy tính nhiều thế nào chăng nữa, ngay cả trong xã hội phức tạp nhất sự hiện diện của những người khác vẫn rất quan trọng Khi chúng ta chọn cách gửi cho một người quen một lá thư điện tử trên mạng, chúng ta cũng có thể chọn cách bay hàng ngàn dặm để nghỉ cuối tuần cùng với mọt người bạn

Nghiên cứu tầm vĩ mô cần để min nh hoạ các kiểu tổ chức rộng lớn Giao tiếp mặt đối mặt rõ ràng là cơ sở chính của tất cả các dạng thức của tổ chứ xã hội, cho dù chúng có quy mô lớn đến đâu chăng nữa Giả sử chúng ta nghiên cứu một công ty kinh doanh Chúng ta có thể hiểu nhiều về các hoạt động của nó đơn giản bằng các hành vi trực diện Chúng ta có thể phân tích sự giao tiếp giữa các giám đốc trong phòng tổng giám đốc, phân tích những người làm ở các bộ phận khác nhau hay các công nhân ở tầng trên cùng Chúng ta sẽ không xây dựng hình ảnh về toàn thể công ty bằng cách này, bởi vì một số công việc kinh doanh được giao dịch thông qua các ấn phẩm, thư từ, điện thoại và máy tính Tuy vậy, chúng ta chắc chắn sẽ đóng góp đáng kể vào việc hiểu xem tổ chức này làm việc thế nào

1.8 Những vấn đề chính khi phát triển xã hội học

Tưởng tượng về xã hội học cho phép nhìn thấy nhiều sự kiện mà dường như chỉ liên quan đến cá nhân trên thực tế phản ánh những vấn đề lớn hơn Ly hôn chẳng hạn, có thể là một quá trình rất khó khăn cho người đã trải qua nó điều mà Mills đặt tên là nỗi khổ riêng

Trang 29

Tuy nhiên, ông ta chỉ ra rằng ly hôn cũng là một vấn đề xã hội trong một xã hội như nước Anh ngày nay, nơi mà một phần ba các cuộc hôn nhân bị đổ vỡ trong vòng 10 năm Một thí dụ khác là nạn thất nghiệp, có thể là thảm kịch cá nhân của người bị ném ra ngoài một công việc và không thể tìm được một công việc khác Tuy nhiên nó vượt ra ngoài vẫn đề nỗi thất vọng cá nhân khi hàng triệu người trong xã hội cũng ở trong tình cảnh như vậy:

đó chính là một vấn đề công cộng biểu thị xu hướng xã hội lớn

Hãy thử áp dụng cánh nhìn như vậy vào cuộc sống của bản thân chúng ta Không nhất thiết cứ chỉ nghĩ tới các việc buồn Hãy xét, chẳng hạn tại sao lại lật từng trang của cuốn sách này - vì sao bạn lại quyết định học môn xã hôị học Có thẻ bạn là một học sinh miễn cưỡng học môn này, theo học chỉ để đủ điều kiện tốt nghiệp Hoặc có thể bạn say mê tìm hiểu nhiều hơn về môn học này Động cơ của bạn thế nào chăng nữa, bạn cũng thường có nhiều điểm tương đồng với nhiều người cũng đang học môn này như bạn, không cần biết điểm chung đó là gì Quyết định của cá nhân bạn phản ánh địa vị của bạn trong xã hội lớn hơn

Nhưng giả sử rằng cầu trả lời của bạn là không với một hay nhiều hơn câu hỏi này Có thể bạn xuất thân từ một dân tộc thiểu số hay một dân tộc nghèo Bạn có thể là một người trung niên hoặc hơn Cũng như vậy, có thể có những kết luận kế tiếp Có thể bạn đã phải đấu tranh để đạt được vị trí như bây giờ; bạn có thể đã vượt qua những thái độ thù địch của bạn bè hoặc người khác khi nói với họ rằng bạn dự định theo học đại học; hoặc bạn

có thể đang vừa học đại họclại vừa lập gia đình- những khía cạnh quan trọng của giao tiếp xã hội Một thí dụ là cái nhìn vào người khác Trong đa phần giao tiếp , tiếp xúc bằng mắt chỉ là thoáng qua Nhìn chằm chằm vào người khác có thểt bị xem là dấu hiệu của thù địch và trong một số hoàn cảnh là dấu hiệu của tình yêu Nghiên cứu giao tiếp xã hội

là lĩnh vực nền tảng trong xã hội học, minh hoạ nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Khuôn mặt con người có thể biểu thị nhiều cảm xúc khác nhau Người ta thường cho rằng lĩnh vực cơ bản của sắc mặt là bẩm sinh Các nhiên cứu nhiều nền văn hoá minh hoạ

sự khá tương đồng giữa những người thuộc các nền văn hoá khác nhau trong việc biểu lộ qua nét mặt và ý nghĩa của biểu cảm ghi trên khuôn mặt “ Khuôn mặt “ có thể hiểu trên một ý nghĩa rộng hơn liên quan tới sự kính trọng của người khác với người đó Nói chung, khi giao tiếp với người khác, chúng ta thường “ giữ thể diện “ - bảo vệ sự tự kính trọng

Việc nghiên cứu các cuộc nói chuyện bình thường được gọi phương pháp dân tộc học - một thuật ngữ do Harold Garfinkel đặt tên Phương pháp dân tộc học nghiên cứu cách lý giải những điều người khác muốn nói bằng điều họ nói và việc họ làm

Chúng ta có thể học được nhiều về bản chất của cuộc nói chuyện bằng “tiếng kêu đáp lại” (tiếng thốt lên) và nghiên cứu sự lỡ mồm (xảy ra khi người ta phát âm sai hay dùng từ và cấu trúc không đúng) Lỡ lời thường rất buồn cười và trên thực tế chúng gắn chặt về tâm

lý với sự đùa

Giao tiếp không có trọng tâm là nhận thức qua lại mà các cá nhân có về nhau khi tụ tập đông người, khi không trực tiếp đối thoại với nhau Giao tiếp có định hướng xảy ra khi hai hay nhiều người tham gia trực tiếp vào những gì người khác nói và làm Giao tiếp có định hướng có thể chia thành các cuộc gặp riêng hay các tình tiết

Trang 30

Giao tiếp xã hội có thể nghiên cứu theo cách minh hoạ bằng cách đưa ra các mẫu kịch- nghiên cứu giao tiếp xã hội như thể những người tham gia là các diễn viên trên sàn diễn

có đạo cụ và tiếng vỗ tay Cũng giống như trong rạp hát, trong nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống xã hội thường phân biệt rõ khu vực phía trước (sân khấu) và khu vực phía sau (hậu trường), chỗ các diễn viên trang điểm và thay quần áo phục vụ cho buổi biểu diễn và thư giãn sau đó.Vai trò xã hội là điều mà xã hội mong đợi từ một cá nhân trong một tình trạng và địa vị xã hội nhất định

Mọi giao tiếp xã hội đều được định vị về không gian và thời gian Có thể phân tích cách cuộc sống hàng ngày “ khoanh vùng “ không gian và thời gian bằng cách quan sát các hoạt động đã diễn ra thế nào trong khoảng thời gian nhất định và sự chuyển động trong không gian cũng trong thời gian đó

Việc nghiên cứu giao tiếp trực diện thường có tên là xã hội học ở tầm vi mô- tương phản với xã hội học ở tầm vĩ mô, nghiên cứu các nhóm , các tổ chức và hệ thốmg xã hội lớn hơn Phân tích tầm vi mô và vĩ mô trên thức tế có quan hệ mật thiết và bổ sung lẫn nhau Mặc dù tất cả chúng ta đều chịu tác động của hoàn cảnh xã hội, không ai lại đơn thuần bị

các hoàn cảnh này xác định hành vi Chúng ta làm chủ và tạo cá cá nhân mình Nghiên cứu quan hệ giữa những điều xã hội tác động và những gì chúng ta tự tác động lên bản thân chính là công việc của xã hội học Hoạt động của chúng ta định hình xã hội xung

quanh và cũng được cấu trúc bởi chính xã hội đó

Cấu trúc xã hội là một khái niệm quan trọng trong xã hội học Nó chỉ ra rằng hoàn cảnh

xã hội của cuộc sống không chỉ bao gồm tập hợp ngẫu nhiên của các sự kiện và hành động; chúng được cấu trúc theo các cách riêng Có sự đều đặn trong cách chúng ta cư xử

và quan hệ chúng ta có với nhau Tuy nhiên cấu trúc xã hội khong giống như cấu trúc vật

lý, như toà nhà chẳng hạn, Toà nhà tồn tại độc lập khỏi hành động của con người Nó được xây dựng lại vào từng thời điểm bởi những người tạo ra nó - con người như bạn và tôi

1.9 Định nghĩa tổ chức xã hội, cộng đồng và xã hội

Tổ chức xã hội

Tổ chức cơ bản của hoạt động xã hội được đa số các thành viên của xã hội tuân theo Tổ chức bao gồm các quy tắc và giá trị mà một số lượng lớn cá nhân tuân theo và tất cả các hành vi đã được tổ chức được phê chuẩn Tổ chức hình thành nên “nền tảng“ của xã hội, bởi vì chúng đại điện cho các kiểu hành vi khác cố định đã trường tồn theo thời gian

Cộng đồng

Xã hội trong đó con người quan hệ trực tiếp và riêng tư với nhau, nơi mà các mối quan

hệ nhằng nhịt liên kết con người bằng các liên kết về tình cảm và nghĩa vụ Trong các môn khoa học xã hội, nhất là xã hội học, ý tưởng về cộng đồng cung cấp một hình mẫu tương phản với sự xuất hiện cuả các xã hội hiện đại hơn nhưng ít riêng tư hơn ở đó việc biến chuyển về văn hoá, kímh tế và công nghệ đã nhổ bật truyền thống, nơi mà sự phức tạp đã tạo nên một cuộc sống xã hội ít riêng tư hơn, hợp lý hoá hơn và có mục đích hơn

Xã hội

Cộng đồng của con ngời thường có một vị trí lãnh thổ khá cố định có chung nền văn hoá

và các hoạt động chung Giá các thành viên trong cộng đồng có mối phụ thuộc lẫn nhau

Trang 31

về văn hoá và tổ chức Ở một mức độ nào đó các thành viên này khác các cộng đồng và nhóm khác Xã hội thường được nhận dạng là tồn tại ở mức quốc gia nhưng cũng có những cộng đồng khu vực và văn hoá trong quốc gia nhưng có sự khác biệt về văn hoá và khả năng tự cung tự cấp

Cộng đồng

Khởi đầu là một môn học, xã hội học gặp nhiều khó khăn bởi sự không nhất quan và tính lưỡng nghĩa của một số thuật ngữ cơ bản Thêm vào đó nhiều từ mà nhà xã hội học hầu như ngày nào cũng sử dụng che đi nghĩa mà rất khó cho nó sự định nghĩa chính xác về khoa học Tương tự cộng đồng chắc chắn rơi vào loại này Là một yếu tố trong vốn từ vựng về xã hội học, thuật ngữ này được sử dụng theo nhiều cách đến nỗi nó được miêu tả

là một từ tập, miêu tả đủ thứ Tuy nhiên, trong cuốn sách này chúng ta sử dụng từ cộng đồng để chỉ những đơn vị tổ chức xã hội và lãnh thổ mà tuỳ theo quy mô của nó có thể gọi là thôn xóm, làng mạc, tỉnh, thành phố hay các khu vực Trước khi chúng ta nghiên cứu khái niệm cộng đồng, có lễ chúng ta cần xem xét một số cách mà người ta sử dụng khái niệm ảo tưởng này

Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp việc sử dụng thuật ngữ cộng đồng biểu thị việc thiếu tính khắt khe về khaí niệm Nếu một nhà xã hội học nói về một nhóm xã hội thì sau

đó ông ta nên chỉ nó theo đúng bản chất và đưa nó vào một trong những kiểu nhóm xã hội Tương tự như vậy, nếu đối tượng nghiên cứu là nền văn hoá nhỏ ( thí dụ “ cộng đồng học thuật” ), thì nên sử dụng thuật ngữ phân tích văn hoá nhỏ Tất nhiên điều này cũng không phủ định rằng có một vài đơn vị tổ chức xã hội mà không xếp vào đâu được trong các thuật ngữ về xã hội học Có thể trích dẫn các thí dụ sau: nhà tù, tu viện, bệnh viện tâm thần, trại mồ côi và doanh trại lính Chúng ta cần nghiên cứu thêm tập trung vào các thực thể mà có thể xác định các đặc tính chính Erving Goflman, chẳng hạn, đã đề nghị là nhà tù, bệnh viện và các tổ chức tương tự cùng chung các đặc trưng mà có thể gộp lại thành một Ông đề nghị rằng có thể chỉ định khái niệm tổ chức tổng thể

Cộng đồng luân lý và xã hội quần chúng

Bất kỳ khi nào chúng ta gặp thuật ngữ cộng đồng chúng ta nên tự hỏi người viết có lỗi không khi dùng một thuật ngữ mơ hồ một cách bất cẩn và thiếu chính xác, đồng thời chúng ta phải nhận thức việc người viết có thể sử dụng từ cộng đồng theo ý ngũa triết học Thêm vào đó, đôi khi người ta sử dụng từ cộng đồng để chỉ một hiện tượng đạo đức hay tinh thần Điều này có vẻ đúng đối với trường hợp của Minar và Greer Khi bàn luận khái niệm cộng đồng, họ kể cho chúng tôi là “ nó biểu thị sự khát khao mãnh liệt về sự tương đồng về ý muốn và sự đồng cảm với những người xung quanh, sự mở rộng các mối liên kết với tất cả những người có cùng chung số phận như chúng ta Ở cột nằm phía bên trái của bảng dưới đây sẽ liệt kê một số đặc trưng cơ bản của “cộng đồng đạo lý “, phía bên phải chio người đọc chìa khoá cho một vài đặc trưng của xã hội quần chúng Danh sách các đặc trưng chưa hoàn toàn kết thúc Nhiều đặc trưng khác của “cộng đồng đạo lý“ và “xã hội quần chúng“ được phác hoạ

Thay vào đó, cộng đồng, một khái niệm đạo đức dường như liên quan tới cảm xuc nhận dạng và thống nhất với một nhóm và cảm giác liên quan và tổng thể lên từng cá nhân Nói một cách ngắn gọn khái niệm cộng đồng được sử dụng để chỉ điều kiện mà con

Trang 32

ngưòi rơi vào, mắc vào một hệ thống chằng chịt các mối quan hệ đầy ý nghĩa với những người khác Đối ngược “cảm giác cộng đồng“ này là các điều kiện được giả định là chiếm ưu thế trong xã hội hiện đại

Trong số các nhà xã hội học có một ngưòi đạt quán quân trong khái niệm này trong những năm gần đây đó là Robert A Nisbet Theo ông một trong những chủ đề nền tảng của thế kỷ 20 là vịêc “tìm kiếm cộng đồng” Việc tìm kiếm xuất phát từ thực tế xã hội hiện đại không cho cá nhân cảm giác an toàn hay thoả mãn Khi bình luận về nhà nước chính trị hiện đại chẳng hạn, Nisbet chỉ ra rằng nhà nước đó thậm chí không phục vụ nhu cầu an toàn Không một tổ chức quy mô lớn nào có thể đáp ứng nhu cầu tâm lý của cá nhân Do bản chất của nó quá lớn, quá phức tạp, quá quan liêu và cộng tất cả lại quá hờ

hững với những ý nghĩa cần thiết của cuộc sống con ngươì Nhà nước có thể giành được lòng nhiệt tình của cả công chúng, có thể tiến hành các cuộc vận động, có thể huy động nhân danh các “sự nghiệp “ vĩ đại như chiến tranh, nhưng nó chưa đủ để trở thành một phương tiện bình thường và thường xuyên đáp ứng các nhu cầu nhận thức, tình bạn, an toàn và thành viên của con người

Tóm lại, cho dù xã hội hiện đại có thể mang tới cho con người sự kỳ diệu của nện dân chủ đại chúng ( hay chgủ nghĩa tổng thể đại chúng ), nền giáo dục toàn dân, sản xuất hàng loạt và các phương tiện thông tin đại chúng, nó không cho con người sự an toàn và tái sản, cái mà có vẻ đi cùng với sự giàu có Do vậy, giải pháp thay thế duy nhất cho cảm giác bị xa lánh đang tiếp tục lan tràn ở thế kỷ 20 là “ những cộng đồng quy mô nhỏ nhưng cấu trúc vững chắc” Theo Nisbert, chỉ có họ và một mình họ là điểm khởi đầu cho việc xây dựng lại xã hội bởi họ đáp ứng được ngay tại gốc rễ những ước vọng cơ bản cảu con người: cùng chung sống, cùng làm việc, cùng trải nghiệm

Baker Brownell đã chọn cách nhìn như vậy trong các tranh luận của ông về cộng đồng loài ngưòi Mặc dù khái niệm cộng đồng che khuất một số ý nghĩa của Brownell, trước hết nó vẫn là “sự trọn vẹn về hành động, cảm giác thuộc về nơi nào đó, liên kết trực hiện với ngời quen biết” Vậy là, Brownell giới hạn khái niệm cộng đồng trong một nhóm có khả năng hay thực tế trực diện Các thành viên của nhóm có thể dễ dàng hoá thân thành người khác Trong sự đến và đi của cuộc sống hàng ngày họ có thể “gặp nhau một cách thân mật và không bất ngờ” Mặt khác, tổ chức quan liêu lớn, nhà nước hiện đại và khu vực thủ phủ lộn xộn tạo thành một cái gì đó hơn là cộng đồng Theo Brownell, mối quan

hệ giữa con người trong các thực thể kiểu này có bản chất phụ, không phải là của một cộng đồng

Rõ ràng là Nisbet và Brownell đại diện cho một truyền thống trí thức lớn nhìn nhận cộng đồng trên quan điểm nhân văn Chắc chắn không thể phủ nhận được khái niệm cộng đồng của họ chỉ các điều kiện có tầm quan trọng bậc nhất trong xã hội hiện đại Cùng với quá trình đô thị hoá, tốc độ tăng dân số nhanh và sự phức tạp đang gia tăng của xã hội hiện đại cảm giác bị xa lánh và lo lắng Hown thees, khái niệm cộng đồng dường như là khái niệm duy nhất nắm bát đầy đủ cảm giác duy nhất mà Nisbet và Brownell rất thích Nền văn hoá chung bao gồm quá nhiều thứ, trong khi nhóm ban đầu lại quá cụ thể Trong một khoảng thời gian sắp tới những người nghiên cứu cộng đồng theo lãnh thổ có lẽ phải

Trang 33

dùng chung thuật ngữ này với các học giả, những người ghi chép sự tìm kiếm không ngừng về ý nghĩa và an toàn trong một thế giới ngày càng phức tạp

1.10 Cộng đồng và lý thuyết học thuyết hệ thống xã hội liên quan tới cộng đồng

Ngày nay hầu hết các nhà xã hội học đều sử dụng từ cộng đồng để chỉ các đơn vị tổ chức

về xã hội và lãnh thổ như thôn xóm, làng bản, tỉnh, thành phố và các khu vực Nói ngắn gọn, khái niệm cộng đồng chỉ nơi người ta duy trì ngôi nhà của họ, kiếm sống, nuôi con

và nói chung tiến hành hầu hết các hoạt động sống Do đó, Hillery đã phát hiện ra rằng, ít nhất có 3 yếu tố tham gia vào định nghĩa xã hội của cộng đồng Đó là : (i) khu vực địa

lý, (ii) giao tiếp xã hội và (iii) sự ràng buộc chung Do nền tảng của nó khi nghiên cứu chúng ta chấp nhận sự khẳng định của Hillery “cộng đồng bao gồm những người giao tiếp xã hội trong một khu vực địa lý và có một hay nhiều hơn các mối ràng buộc chung” Cần ghi nhận rằng định nghĩa này bao gồm một biến số lãnh thổ (khu vực địa lý), một biến số xã hội học (giao tiếp xã hội) và một biến số văn hoá tâm lý (các mối ràng buộc chung) Cần phân tích kỹ lưỡng cả ba yếu tố này

Cộng đồng, một đơn vị lãnh thổ

Định nghĩa của Hillery nhắc chúng ta là cộng đồng tồn tại trong một môi trường không gian Nhiều cách biến đổi môi trường vật lý với tư cách là sản phẩm phụ của hoạt động kinh tế đều có ý nghĩa như nhau Thật không may, điều này thường liên quan đến sự tàn phá đất trồng rừng, sự phá huỷ các dãy núi và sự ô nhiễm không khí và nguồn nước Do con người có vẻ sẵn sàng và có khả năng phá huỷ môi trưòng vật lý của chính họ, trong những năm vừa qua chúng ta đã thấy sự gia tăng mối quan tâm về việc cải thiện môi trường và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Cách tiếp cận học thuật với các biến số lãnh thổ

Cần nói rõ là không thể bỏ qua các biến số lãnh thổ trong việc nghiên cứu cộng đồng Thực ra người ta đã sử dụng một số phương pháp để nghiên cứu cộng đồng như một thực thể lãnh thổ Trong số những điều khác sự chú ý được tập trung vào kiểu định cư Chúng

ta nhận thấy rằng người đàn ông phải sống gần với người cùng hội cùng thuyền với anh

ta, nhưng có thể đáp ứng nhu cầu này bằng 2 cách trở lên Tương tự , nhiều nghiên cứu tập trung vào việc vạch ra ranh giới của cộng đồng Việc thành lập một cộng đồng đầy ý nghĩa và nghiên cứu sự ràng buộc tồn tại giữa cộng đồng và đất đai của nó có vẻ quan trọng đối với một số nhà xã hội học Cuối cùng cách tiếp cận sinh thái học với việc nghiên cứu cộng đồng thành thị hầu như không cần phải nhắc tới Một lượng lớn học thuyết và nghiên cứu xuất hiện cố gắng lý giả “ nguyên nhân “ và “ cách “ phát triển của thành phố và mối quan hệ về thời gian giữa con người và môi trường của họ, tổ chức của

họ và người đồng hành của họ

Cộng đồng, một đơn vị tổ chức xã hội

Có một sự thống nhất rất phổ biến : cộng đồng là một đơn vị cơ bản cảu tổ chức xã hội tuy nhiên, ngay cả việc nghiên cứu lướt qua tài liệu đề nghị rằng có rất ít sự thống nhất về cách miêu tả tốt nhất một cộng đỗng như một thực thể xã hội học Nói rộng ra, có hai cách tiếp cận với vấn đề này Thứ nhất, người ta nhìn cộng đồng như một nhóm xữ hội hay gần đây hơn như một hệ thống xã hội Thứ hai, cộng đồng được phân tích như một mạng lưới giao tiếp Trên thực tế không phải có hai cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt khi

Trang 34

nghiên cứu cộng đồng Thảo luận tiếp sau đây sẽ cho chúng ta thấy hai cách tiếp cận này

có nhiều điểm chung

Cộng đồng, một nhóm xã hội

Thật đáng khen cho E.T Hitler đã giả định rằng rằng cộng đồng là một trong số nhiều nhóm xã hội theo Hitler các nhóm xã hội đều có một vài đặc tính cơ bản, bao gồm một nhóm thành viên, một hay nhiều hơn sự kiểm tra tính thành viên, một tập hợp các vai trò

đã chỉ định và một bộ các quy tắc Có lẽ tất cả các đặc tính này đều là phần thống nhất của cấu trúc cộng đồng và do vậy việc nhìn nhận cộng đồng như một nhóm xã hội là có

Rõ ràng là cộng đồng có những đặc tính này Mọi cộng đồng đều có một nhóm thành viên (hay dân cư) và đòi hỏi những điều nhất định từ những người muốn là thành viên đầy đủ của cộng đồng này Tương tự như vậy mỗi cộng đồng chỉ định các vai diễn khác nhau cho các thành viên và có một bộ các quy tắc mà các thành viên của cộng đồng phải tuân theo, tuy nhiên, nếu nhìn nhận cộng đồng là một nhóm xã hội, thì phải phân biệt cộng đồng với các nhóm xã hội khác Khi nghiên cứu tác phẩm của Hitler, Albert J Reiss

đã xử lý vấn đề này một cách đơn giản bằng cách chỉ ra rằng “ hệ thống cộng đồng khác các hệ thống khác ở chỗ vị trí là một dữ liệu trong sự thống nhất của hệ thống”, nói một cách ngắn gọn, sự khác biệt giữa cộng đồng và các nhóm xã hội khác là cộng đồng có lãnh thổ

Một câu hỏi khó hơn là liệu việc nhìn nhận cộng đồng như một nhóm xã hội có lợi về mặt khoa học hay không Điều quan trọng nhất cần nghiên cứu về cộng đồng bằng cách coi nó như một dạng nhóm xã hội đặc biệt hay nên chăng vì mục đích nghiên cứu xử lý

nó như dạng tổ chức xã hội ? Câu trả lời phụ thuộc vào sự hiểu biết của từng nhà xã hội học Một mặt phải đạt được nhiều điều bằng cách chỉ ra sự giống nhau giữa những điều thoạt nhìn có vẻ là các đơn vị tổ chức xã hội khác nhau Giữa cộng đồng và các nhóm xã hội khác có điểm gì đó chung và nên nhận dạng các phần tử chung này Mặt khác nếu chúng ta coi cộng đồng là một nhóm xã hội chúng ta có thể mở rộng thuật ngữ nhóm xã hội đến điểm tại đó nó mất nhiều sức mạnh khái niệm Nếu cả cuộc tụ tập không chính thức của hai hay ba người lẫn khu thủ phủ lớn đều được gọi là nhóm xã hội , thì bản thân thuật ngữ này đã mất nhiều tiện ích cho mục đích giao tiếp khoa học

Ngày nay cách dùng nhóm xã hội để tiếp cận phân tích cộng đồng có ít người ủng hộ Thay vào đó việc phân tích cộng đồng như một hệ thống xã hội ngày càng trở thành mốt Roland L Warren chẳng hạn định ngghĩa cộng đồng là “sự kết hợp của các đơn vị và nhóm xã hội tiến hành những chức năng xã hội chính mang định hướng vị trí “ mặc dù phương pháp phân tích cộng đồng do Warren đề xuất phức tạp và đa dạng, lý lẽ của ông

có vẻ như là cộng đồng là hệ thống tổng thể bao gồm các hệ thống con nhỏ hơn Các hệ thống con này lại tiến hành các chức năng thụ mang định hướng vị trí gồm xã hội hoá, kiểm soát xã hội, tham gia xã hội, giúp đỡ lẫn nhau và sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Trên thực tế, phương pháp hệ thống xã hội có thể là chính xác hơn cả, được nhìn nhận như một phiên bản đã được trau chuốt của phương pháp cộng đồng là một nhóm xã hội Các hệ thống xã hội tương tự như nhóm xã hội có nhiều thành viên, một cấu trúc được tiêu chuẩn hóa và một hay nhiều hơn kiểm tra về tư cách thành viên Trong học thuyết về

Trang 35

hệ thống xã hội tư cách thành viên có dạng ranh giới địa lý, tâm lý và xã hội Tất cả những điều này bổ sung cho một điều: việc áp dụng lý thuyết hệ thống xã hội cho cộng đồng có vẻ như không phải sự đổi mới toàn bộ như người ta nghĩ lúc đầu Hơn thế, lý thuyết hệ thống xã hội sát nhập phương pháp nhóm xã hội vào khung tham chiếu đầy đủ hơn

Phương pháp hệ thống xã hội làm rõ tầm quan trọng của cộng đồng là một đơn vị tổ chức

xã hội Khi chúng ta xem xét trật tự bắt đầu từ nhóm hai người và kết thúc bằng xã hội của quốc gia, cộng đồng nổi lên là một hệ thống con đầu tiên có khả năng đáp ứng được loạt nhu cầu sinh lý, tâm lý và xã hội Nhóm nhỏ không thể làm được điều này Gia đình hạt nhân, nhà thờ, chính phủ hay tổ chức tình nguyện cũng vậy Điều này có thể cũng là điều Robert H McIver có trong đầu khi ông nói

Cộng đồng là một mạng lưới giao tiếp

Một vài người thích nhìn cộng đồng như một mạng lưới giao tiếp, đây là một phương pháp thay thế cho phương pháp hệ thống xã hội Trước khi xem xét phương pháp giao tiếp, cần lưu ý hai điều Thứ nhất, cả hai phương pháp, hệ thống xã hội và giao tiếp, đều không tách rời nhau, khác xa nhau mà chúng có nhiều điểm chung Thực ra điểm nối chính giữa hai phương pháp là ở giả định là sự giao lưu xảy ra không những giữa những

cá nhân và còn giữa các nhóm và tổ chức Hai là, cần phân biệt phương pháp coi cộng đồng là hệ thống giao tiếp và lý thuyết hạng động cộng đồng mà ai cũng biết Lẽ dĩ nhiên giao tiếp là công cụ khái niệm tiêu chuẩn trong xã hội học và việc các nhà xã hội học sử dụng công cụ này trong nỗ lực phân tích cộng đồng là hoàn toàn có thể hiểu được Mặt khác lý thuyết hành động cộng đồng tìm cách phân biệt các hoạt động về bản chất mang tính cộng đồng và các hoạt động không mang tính cộng đồng Các nhà theo lý thuyết hành dộng cộng đồng thường có mục đích rõ ràng là chiếu ánh sáng vào động thái thay đổi và phát triển cộng đồng theo kế hoạch Theo cách đó, một người viết hàng đầu về hành động của cộng đồng đưa ra kết luận cho một trong các tranh cãi của ông, tuyên bố rằng mối quan tâm của ông “ với sự phát triểm của lý thuyết ủng hộ nghiên cứu mà sẽ đống góp một cách hiệu quả vào tổ chức cộng đồng và phong trào phát triển đang lớn mạnh “

Với những bình luận này trong đầu chúng ta có thể xét cộng đồng là một mạng lưới giao tiếp Một trong những vấn đề chính vốn có trong phương pháp giao tiếp khi phân tích cộng đồng là các điều kiện trong cộng đồng hiện đại không phù hợp hoàn toàn với những định nghĩa về giao tiếp mà được đa phần các nhà xã hội học chấp thuận Nói ngắn gọn, giao tiếp thường được định nghĩa là cuộc gặp gỡ trực diện giữa hai hay nhiều người, trong đó một người tính đến người kia Hiển nhiên sự tham gia của mỗi thành viên trong cộng đồng vào mạng lưới giao tiếp kiểu này chẳng bao giờ xảy ra, ngoại trừ trong các thôn xóm rất nhỏ Trong phần lớn các cộng đồng, số lượng diễn viên (tức là lượng lớn dân cư) và thiếu những lợi ích chung sẽ ngăn không cho các cuộc tiếp xúc như vậy xảy

Trang 36

tiếp Những người đứng trên quan điểm này thường coi cộng đồng là một chuỗi các mối quan hệ vào, ra trong đó mỗi hệ thống con nhận đầu vào cần thiết từ các hệ thống con khác và bản thân lại đóng góp vào các hệ thống con khác nữa và vào hệ thống cộng đồng chung Các đầu vào và đầu ra này có thể có dạng các đóng góp về tài chính, áp lực xã hội, sức lao động, v.v… Tương tự, những người coi cộng đồng là một mạng các hệ thống con giao tiếp thường gọi là các trục tung và trục hoành cuả cộng đồng “Trục hoành” là mối quan hệ của cá nhân với cá nhân hay của nhóm với nhóm trong cùng một khu vực, trong khi “trục tung” là mối quan hệ của cá nhân với một nhóm địa phương hay của một nhóm với một tổ chức khu vực, “bang hay quốc gia” Đây đơn giản là một cách tốc ký chỉ ra rừng giao tiếp có thể xảy ra giữa hai đơn vị xã hội có vị trí ngang bằng trong hệ thống xã hội hoặc giữa hai đơn vị xã hội, một trong số chúng bao gồm cả cái kia

Có ít nhất một ưu điểm khi coi cộng đồng là một mạng các hệ thống con giao tiếp: nó sẽ

là công cụ để miêu tả một cách hệ thống mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị khác nhau tạo nên cộng đồng Đồng thời những người đề xuất ra phương pháp này cần chỉ ra rõ hơn nữa bản chất giao tiếp giữa các nhóm và phân tích kỹ cơ chế xảy ra giao tiếp Có lẽ câu hỏi mấu chốt cần nêu ra liên quan đến cơ chế các nhóm thực sự giao tiếp với nhau Nói ngắn gọn, các thành viên của các nhóm giao tiếp hợp lại và hình thành nên nhóm lớn hơn hay là các thành viên của các nhóm có liên quan được các nhóm trưởng đại diện trong quá trình giao tiếp

Phương pháp chính thứ hai của những người coi cộng đồng là mạng giao tiếp chỉ ra rằng giao tiếp ở mức cộng đồng thường bộc lộ những chủ đề và kiểu đặc trưng Khi những chủ

đề và kiểu này được chung hoá đến mức mà chúng là đặc trưng giao tiếp giữa cá nhân và nhóm, người ta sẽ gọi chúng là các quá trình xã hội cơ bản Đó là hợp tác, cạnh tranh và xung đột Quá trình con để để thúc đẩy cộng tác và giảm nhẹ xung đột là nhà ở, hợp nhất

và đồng hoá

Việc nghiên cứu các làng xóm, thành phố và các khu thủ phủ về mặt hợp tác, cạnh tranh

và xung đột có thể tạo ra những cách nhìn ý nghĩa vào kích thước xã hội học của cuộc sống cộng đồng Trong số những điều khác phải khám phá điều rất cơ bản để tổ chức cộng đồng dựa vào: cộng tác dường như là chủ đề nền tảng nằm dưới tất cả các quá trình

xã hội khác ở mức cộng đồng Hơn thế, phương pháp “ quá trình xã hội “ cung cấp một công cụ có ích để phân tích đồng thái của bất kỳ một cộng đồng đã cho nào Các mối quan hệ trong một số cộng đồng có thể mang bản chất cộng tác, trong khi trong các cộng đồng khác cạnh tranh hay thậm chí xung đột có thể ngự trị tối cao Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cả ba quá trình này có thể gắn với nhau đến mức việc khắc hoạ xã hội

là diễn đàn của hợp tác, cạnh tranh hay xung đột không có ý nghĩa Cả ba quá trình đều

có mặt ở các mức độ khác nhau

Kích thước tâm lý văn hoá

Trước khi xem xét hậu quả chức năng của tình cảm cộng đồng, sẽ là việc tốt nếu chỉ ra một số yếu tố cấu thành Nên nó là một biến số văn hoá, trước nhất tình cảm cộng đồng là chia sẻ các giá trị, tín ngưỡng và mục đích chung điều này có thể bắt nguồn từ nhiều nguồn trước hết là môi trường lịch sử, từ đó cộng đồng lớn lên Những giá trị, tín ngưỡng

và mục đích có thể tập trung vào nhiều điều Florence Kluckholm và Fred Strodtbeck

Trang 37

chẳng hạn giả định rằng phần lớn các hệ thống văn hoá có những định hướng giá trị liên quan đến mối quan hệ của con người với tự nhiên, với siêu tự nhiên, với thời gian và tình thái hoạt động của con người và những người khác Tương tự, là một biến số lịch sử, tình cảm cộng đồng cũng bao gồm những chuẩn mực, tức là các thành viên trong cộng đồng

có một bộ các hành vi chung phải tuân thủ Là một khái niệm tâm lý học tình cảm cộng đồng chứa đựng nhiều điều, bao gồm cả cảm giác “ cái chúng tôi “ Có thể, nhiều thành viên của cộng đồng nghĩ về nhau là “chúng ta“ và về những người khác là : ”bọn họ“ Người ta cũng tranh cãi là cho dù cá nhân có sự ổn định và an toàn tâm lý thế nào vì tư cách thành viên của cộng đồng Có lẽ trong thời đại mà tên họ không có ý nghĩa lắm và

xã hội thì phức tạp thì cách duy nhất mà mỗi cá nhân có thể đặt mình vào khung sự việc lớn hơn là tuyên bố mình thuộc cộng đồng nào

Hầu hết các nhận định trong chương trước đều có thể tranh cãi Thứ nhất là do ít cộng đồng hiện đại có hệ thống văn hoá, khác hoàn toàn hệ văn hoá của xã hội lớn hơn Hơn thế một người hiện đại đối mặt với hiện tượng văn hoá có nguồn gốc ở mức địa phương

và với những người có gốc gác ở xã hội lớn hơn Tương tự, người ta nghi ngờ rằng các giá trị chung và việc nhận dạng tâm lý thực sự đặc trưng cho cộng đồng hiện đại Về mặt

lý thuyết sự tồn tại các giá trị chung và nhận dạng tâm lý nên đàn áp một cách hiệu quả

xu hướng lệch lạc và phá rối tổ chức, tuy nhiên tội ác, bệnh tâm thần và tình trạng không yên ổn về xã hội là những vấn đề cơ bản mà một người hiện đại phải đối mặt Vì vấn đề này cảm giác cộng đồng có vẻ đối nghịch với cảm giác bị xa lánh, tuy nhiên một lần nữa một trong những chủ đề nền tảng của thế kỷ hai mươi là phần lớn mọi người đều xa cách

và cô độc Điều này giả định rằng việc định nghĩa cộng đồng gồm cả các mối quan hệ ràng buộc chung hoặc nhận dạng tâm lý cần phải được xem xét kỹ lưỡng, dè dặt và có tài liệu làm bằng chứng Liệu phần lớn mọi người đồng nhất với cộng đồng của họ? Xã hội hiện đại có đặc trưng bởi tập hợp các giá trị và chuẩn mực chung có nguồn gốc tại địa phương? Rất tiếc, chưa có những nghiên cứu đầy đủ để trả lời các câu hỏi này một cách đầy đủ, những có vẻ như là người ta không thể đưa ra câu trả lời ở dạng khẳng định

Tầm quan trọng và sự hiểu ngầm

Ngay cả khi các biến số về tâm lý văn hoá có vị trị còn nghi vấn trong định nghĩa cộng đồng, có thể chỉ ra một số hậu qủa và ngụ ý của tình cảm cộng đồng đối với cá nhân và đối với cộng đồng như một hệ thống chính trị

Tầm quan trọng của tình cảm cộng đồng đối với cá nhân rất rõ ràng và chỉ cần điểm lại một cách ngắn gọn Tình cảm cộng đồng cho cá nhân cái gì đó để nhờ cậy cho khuôn mẫu và sự ổn định trong một xã hội phức tạp và về lý thuyết đối ngược với sự xa lánh và mất an toàn Tuy vậy hoàn toàn có khả năng là những cảm giác mạnh của cộng đồng có thể cản trở tính sáng tạo và khả năng điều chỉnh của cá nhân Thực ra trong xã hội hiện đại sự cam kết ở mức độ cao với các giá trị và mục đích địa phương có thể khó thiết thực đối với một người, bởi vì anh ta phải sống trong một môi trường xã hội đặc biệt coi trọng chủ nghĩa cá nhân và sự năng động không bị tù túng Vì vậy, trong phân tích cuối cùng các biến số văn hoá tâm lý nhấn mạnh một trong những tình thế tiến thoái lưỡng nanmà một con người hiện đại phải đối mặt Có thể, phần đông các cá nhân cần sự an toàn và sự chấp thuận cam kết với một hệ thống xã hội có thể nhận biết được Đồng thời sự cam kết

Trang 38

này có thể làm chậm lại sự phát triển nhân sự, kìm hãm nghề nghiệp và ngăn cản sự đạt được hy vọng và mong ước khác mà cá nhân có thể có

Sự sụp đổ có thể có của tình cảm cộng đồng cũng có những ngụ ý đối với lý lẽ Hiển nhiên, tất cả các cộng đồng có lợi ích quan trọng trong phát triển sức khoẻ, các nhân cách

ổn định Tội ác, các bệnh tinh thần, ly hôn và sự bất ổn định về xã hội không chỉ là thảm kịch của cá nhân nhưng cũng chứa đựng chi phí cho cộng đồng Người ta có thể tranh cãi

là một cách tránh các thảm kịch kiểu này là cho cá nhân cảm giác đồng nhất với cộng đồng Tuy nhiên, việc đạt được tình cảm cộng đồng là nghịch lý có vẻ không hy vọng Chìa khoá để nhận dạng tâm lý là sự liên quan, tức là sự sẵn sàng của cá nhân tham gia vào các việc của cộng đồng địa phương Cùng lúc đó, sự tham gia đầy ý nghĩa nếu nó phát triển xảy ra trong số những người thực sự đồng nhất với các cộng đồng của họ Chúng ta đã dặt câu hỏi nhiều người rơi vào loại này hay không

Cảm giác cộng đồng cũng có một loạt ngụ ý để kiểm soát xã hội Thêm vào đó tình cảm cộng đồng có thể là một lực lượng mạnh dẫn dắt cá nhân tuân thủ các giá trị, tín ngưỡng

và chuẩn mực của cộng đồng Alan Wheelis nói rõ điều này,“người sống ngoài cuộc sống của anh ta tại nơi chôn rau cắt rốn nhận được sự ủng hộ siêu kỷ từ việc sống gần với gia đình và người thân và ước vọng của họ về người đó Họ biết anh ta là loại người nào và

họ mong đợi là anh ta tiếp tục là người như vậy Nếu văn hoá của cộng đồng khá đồng nhất, lương tâm được củng cố bởi các kiểu truyền thống, tập quán và giá trị… Cuộc sống trong các điều kiện như vậy theo trật tự và có thể dự đoán được.”

Có thể không có ai, không chịu ăn cắp, nói dối hay ngoại tình ở nước ngoài hơn là tại nước mình Một số người du lịch vì mục đích này và làm mất đi sự củng cố lương tri không mong muốn Đối với họ tính thích du lịch không sự thèm khát đi lang thang, nhưng lang thang vì thèm khát- một nỗ lực để lấy được ở nước ngoài giấy phép, mà nếu ở trong nước người ta không thể bỏ qua cho anh ta Nhiều người không cần đi xa: công ước kinh doanh hàng năm ở Chẫu Mỹ có tiếng xấu về mặt này Điều xảy ra trong nhà trọ không xảy ra ở nhà , khăn mặt bị lấy cắp ở khách sạn xa xôi bởi những người mà ở thành phố quê hương họ cái đinh ghim cũng không lấy cắp Bằng những cách như vậy sự năng động ngày càng tăng của chúng ta làm giảm sự ủng hộ về lương tâm ở bên ngoài

Wheelis làm rõ mối quan hệ qua lại giữa các giá trị chung, nhận dạng tâm lý và kiểm soát

xã hội nên không cần phải bình luận nữa

Cộng đồng và học thuyết hệ thống xã hội liên quan đến cộng đồng

Lý thuyết hệ thống xã hội và chủ nghĩa chức năng cấu trúc đã nổi lên là các dạng học thuyết xã hôị học cơ bản Khá thú vị là các nhà xã hội học chậm áp dụng các phương pháp lý thuyết này khi phân tích các cộng đồng lãnh thổ” Kết quả là hiểu biết của chúng

ta về cộng đồng phải chịu

Cộng đồng là một hệ thống xã hội

Thuật ngữ hệ thống xã hội được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Để phục vụ cho mục đích của chúng ta, hệ thống xã hội có thể coi là một tập hợp các mối quan hệ có ý nghĩa về xã hội học được tổ chức cao giữa hai hay nhiều người hoặc nhóm Có vẻ lời tuyên bố này thích hợp mọi đơn vị tổ chức mà có thể phân tích với tư cách là một hệ thống xã hội, bao gồm gia đình, chính quyền thành phố, tổ chức tôn giáo hay cộng đồng

Trang 39

Chúng ta có thể bổ sung phẩm chất của mà mối quan hệ duy trì được trong suốt thời gian dài vào định nghĩa trên Điều này loại trừ các mối quan hệ thoáng qua và mang tính chất tạm thời giữa hai hay nhiều người Tuy nhiên, câu duy trì suốt thời gian tạo ra các vấn đề

và bằng việc chỉ ra mối quan hệ phải được tổ chức cao và có ý nghĩa về xã hội chúng ta đính kèm mục đích như vậy Ai cũng có mối quan hệ thoáng qua với người bán hàng, sự quen biết bình thường nhưng các các mối quan hệ này thiếu tính chất tổ chức cao mà hệ thống xã hội có Tương tự, chúng không có ý nghĩa về xã hội ở ý nghĩa là chúng không phải là những viên gạch xây nên xã hội

Người thông thạo về học thuyết hệ thống xã hội sẽ lập tức pảhn đoíi việc tác động qua lại không được nhắc đến trong định nghĩa của chúng ta Tác động này có tầm quan trọng trung tâm trong học thuyết hệ thống xã hội khi Loomis tuyên bố rằng “ hệ thống xã hội được tạo bởi sự tác động qua lại giữa các thành viên “ đây là một ý tưởng khó nắm bắt, tuy nhiên vị trí của tác động trong học thuyết về hệ thống xã hội phải được phân tích kỹ Chỉ cần chỉ ra rằng các thuật ngữ hệ thống xã hội và tác động qua lại không nhất thiết phải đồng nghĩa, như định nghĩa của Loomis Hơn thế, tác động qua lại giữa các thành viên là một trong những đặc tính của cộng đồng

Địa vị và vai trò đặc thù hơn, các nhà xã hội học thường coi địa vị và vai trò như các

khối xây dựng cơ bản của tổ chức xã hội Thêm vào đó, thuật ngữ địa vị chỉ vị trí của cá nhân tạo nên nhóm xã hội bất kể nhóm có quy mô thế nào Một gia đình hạt nhân gồm bốn thành viên có thể được xây dựng quanh địa vị của chồng và vợ, mẹ và bố, con trai và con gái, anh và chị Điều này nghĩa là địa vị không phải là khối sơ cấp của tổ chức xã hội Tương tự , thuật ngữ vai trò chỉ kiểu cư xử của cá nhân khi anh ta có một địa vị được chỉ định Khỏi cần phải nói, cá nhân tự do quyết định cho bản thân mình kiểu cư xử thích hợp với một số địa vị mà anh ta nắm giữ Cách cư xử thích hợp với địa vị của anh ta có thể do nhóm lớn hơn, cộng đồng hay xã hội xác định

Nhóm Có vẻ như là địa vị và vai trò của một người không thể tồn tại tách rời Thí dụ, một

người đàn ông không thể có địa vị người cha nếu ông ta không có con, hoặc ông ta cũng không thể đóng vai trò người chồng nếu ông ta không có vợ Do vậy, địa vị kết hợp với các địa vị khác và vai trò với các vai trò khác để hình thành nên nhóm Nhóm tạo nên lớp thứ hai là tổ chức Tổ chức lại nằm trong cộng đồng

Có một số kiểu nhóm, không phải nhóm nào cũng tuân theo sự phân tích hệ thống xã hội Robert Bierstedt phân nhóm thành sơ đồ bốn phần, bao gồm nhóm thống kê, nhóm nhóm

có vai vế, nhóm xã hội và nhóm hiệp hội Nhóm thống kê gồm tất cả những người bỏ phiếu cho một ứng cử viên, tất cả những người xem cùng một chương trình truyền hình,

Trang 40

và tất cả những người mua một hãn hiệu X Thành viên của những nhóm này không tương tác với nhau, do đó không hình thành nên một hệ thống xã hội Nhiều điểm tương

tự có thể nói về nhóm có vai vế, thí dụ, tất cả những người cùng giới, cùng màu da, cùng nghề nghiệp v.v… Thành viên của nhóm kiểu này có thể có nhận thức trong đầu, nhưng điều này không phải là không tránh khỏi việc học tương tác với nhau Mặt khác việc coi các nhóm xã hội và nhóm hiệp hội của Bierstedt là cá hệ thống xã hội là thích hợp Nhóm

xã hội đặc trưng bởi nhận thức về dạng tương tác và gồm cả những đơn vị tổ chức khác nhau như nhóm họ hàng, nhóm bạn bè và nhóm trẻ chơi với nhau Thành viên của nhóm hiệp hội tương tác với nhau, ngoài ra nhóm hiệp hội có một cấu trúc chính thức Bằng cách này chúng ta muốn nói rằng nhóm hiệp hội được tổ chức theo cấp bậc và có người tướng và quân, chủ tịch và thư ký, các thành viên đầy đủ và các phó thành viên Trong cộng đồng hiện đại người ta thấy nhiều nhóm dạng này

Tổ chức Do địa vị và vai trò là các đơn vị tạo nên nhóm nên nhóm trở thành đơn vị cơ

bản hình thành nên tổ chức xã hội Đặc trưng hơn, nhiều nhóm có trong cộng đồng không thể tách biệt khỏi nhóm khác Những nhóm này có mục đích, chức năng và mục đích hoàn thiện Chẳng hạn một sở cảnh sát địa phương không hiệu quả nếu không nhận được

sự ủng hộ và hợp tác cuả văn phòng thị trưởng, của hội đồng thành phố và của phòng cảnh sát chữa cháy Do có mối quan hệ lẫn nhau giữa các nhóm này, chúng thường được phân tích là các bộ phận cấu thành của cùng một hệ thống xã hội (tức là các hệ thống của chính phủ) Các nhóm đặc thù trong hệ thống này được gọi là các nhóm con

Tác giả hơi do dự khi đặt tên cho mức của tổ chức cộng đồng Khái niệm tổ chức khá mơ

hồ mà làm lu mờ nhiều ý nghĩa khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các nhà xã hội học đều thống nhất là tất cả các tổ chức đều có chung ít nhất một đặc tính: đó là thực hiện các chức năng quan trọng nhất định nếu cộng đồng (hoặc xã hội) phải bền bỉ theo thời gian Tuy nhiên, để một tổ chức thực hiện những chức năng này cần phải có một cấu trúc tổ chức Mặc dù phương pháp phân tích cấu trúc cộng đồng này có những giá trị riêng, nó vẫn có thể dẫn đến những quan niệm sai Thứ nhất, người đọc có thể đi đến kết luận rằng mỗi hóm được hợp vào một cộng đồng lớn hơn thông qua phương tiện tổ chức Nhưng không phải như vậy mặc dù phần lớn các nhóm là các đơn vị con của các tổ chức lớn hơn, các thực thể như các nhóm chơi với nhau, nhóm bạn bè, bọn lêu lổng không phải Điều này giả thiết rằng phải phân biệt nhóm là một bộ phận trong cấu trúc cộng đồng và các nhóm không phải Thứ hai, người đọc có thể giả định một cách lầm lẫn là cộng đồng

có mức độ thống nhất cao và kết luận rằng tất cả các hệ con đều gắn chặt với tất cả các hệ con còn lại Lại một lần nữa điều này không phải lúc nào cũng như vậy Có những nhóm hoặc tổ chức trong từng hệ thống xã hội vận hành với mức tự trị và độc lập cao Thêm vào đó có khi học thuyết về hệ thống xã hội dẫn đến một trong những kết luận là các mọi

hệ thống xã hội đều vận hành trôi chảy như một tổng thể thống nhất Đây là một trong chỗ bẫy có sẵn trong phương pháp lý thuyết này

Tác động qua lại trong hệ thống xã hội

Có tác động qua lại cả bên trong một hệ thống và giữa các hệ thống với nhau Thực ra trước đây chúng ta chỉ ra rằng hệ thống xã hội nhất thiết là một mạng tương tác Bây giờ

Ngày đăng: 06/01/2015, 12:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động tại các vùng nông thôn ở: - Bài giảng môn Xã hội học
Bảng 4.1 Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động tại các vùng nông thôn ở: (Trang 128)
Bảng 4.4.2 Tỷ trọng lao động thiếu việc làm so với tổng lao động - Bài giảng môn Xã hội học
Bảng 4.4.2 Tỷ trọng lao động thiếu việc làm so với tổng lao động (Trang 140)
Bảng 4.5: Hệ tự nhiên: nơi cư trú và loài (Vùng ngập mặn trên các tỉnh ven biển  của  Việt Nam ( 1994)) - Bài giảng môn Xã hội học
Bảng 4.5 Hệ tự nhiên: nơi cư trú và loài (Vùng ngập mặn trên các tỉnh ven biển của Việt Nam ( 1994)) (Trang 152)
Bảng 4.7 hệ tư nhiên - nơi cư trú và loài sách đỏ Phân loại của Việt nam  (Tham khảo Chương trình đa dạng sinh học (1994)) - Bài giảng môn Xã hội học
Bảng 4.7 hệ tư nhiên - nơi cư trú và loài sách đỏ Phân loại của Việt nam (Tham khảo Chương trình đa dạng sinh học (1994)) (Trang 154)
Bảng 4.9: Hệ tự nhiên- Nơi cư trú và các loài  Các khu vực đầm lầy ở vùng ven biển được chọn ưu tiên bảo vệ  Tham khảo “ Kế hoạch Hành động Đa dạng sinh học , 1994” - Bài giảng môn Xã hội học
Bảng 4.9 Hệ tự nhiên- Nơi cư trú và các loài Các khu vực đầm lầy ở vùng ven biển được chọn ưu tiên bảo vệ Tham khảo “ Kế hoạch Hành động Đa dạng sinh học , 1994” (Trang 156)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w