1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word luan van tram anh final TA 01

139 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác giả Huỳnh Nữ Trâm Anh
Người hướng dẫn TS. Đặng Đình Tân
Trường học Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI (13)
    • 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI (13)
      • 1.1.1. Đặt vấn đề (13)
      • 1.1.2. Tính cấp thiết của đề tài (13)
    • 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI (15)
    • 1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (16)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI (17)
    • 1.7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI (18)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (20)
    • 2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG (20)
      • 2.1.1. Khái niệm về tín dụng (20)
      • 2.1.2. Khái niệm rủi ro tín dụng (21)
      • 2.1.3. Phân loại rủi ro tín dụng (22)
        • 2.1.3.1. Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng (22)
        • 2.1.3.2. Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng (23)
      • 2.1.4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng (23)
      • 2.1.5. Hậu quả của rủi ro tín dụng (27)
        • 2.1.5.1. Đối với hoạt động ngân hàng (27)
        • 2.1.5.2. Đối với khách hàng (27)
        • 2.1.5.3. Đối với nền kinh tế (28)
      • 2.1.6. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng (28)
    • 2.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI (29)
      • 2.2.1. Khái quát lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại (29)
      • 2.2.2. Các chỉ tiêu đo lường về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại (31)
    • 2.3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (33)
      • 2.3.1. Rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng (33)
      • 2.3.2. Rủi ro tín dụng tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng 22 2.4. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (34)
      • 2.4.1. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam (35)
      • 2.4.2. Các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác (37)
    • 2.5. THẢO LUẬN CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI (40)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.2. MẪU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU (49)
      • 3.2.1. Mẫu nghiên cứu (49)
      • 3.2.2. Dữ liệu nghiên cứu (49)
      • 3.2.3. Công cụ nghiên cứu (49)
    • 3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (49)
      • 3.3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (49)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (50)
    • 3.4. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (52)
      • 3.4.1. Khái quát mô hình nghiên cứu (52)
      • 3.4.2. Giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu (53)
    • 3.5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (56)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (60)
    • 4.1. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI TẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2020 (60)
      • 4.1.1. Tổng quan hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (60)
        • 4.1.1.1. Về số lượng ngân hàng (61)
        • 4.1.1.2. Về tăng trưởng tổng tài sản (62)
        • 4.1.1.3. Tăng trưởng tín dụng (64)
      • 4.1.2. Thực trạng khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (67)
        • 4.1.2.1. Lợi nhuận sau thuế (67)
        • 4.1.2.2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) (69)
        • 4.1.2.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) (70)
      • 4.1.3. Thực trạng rủi ro tín dụng của các Ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (71)
      • 4.1.4. Thực trạng tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (73)
    • 4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (74)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả (74)
      • 4.2.2. Phân tích tương quan (80)
      • 4.2.3. Phân tích hồi quy (83)
        • 4.2.3.1. Kết quả hồi quy (83)
        • 4.2.3.2. Lựa chọn kết quả hồi quy (85)
        • 4.2.3.3. Kiểm định khuyết tật mô hình (87)
        • 4.2.3.4. Khắc phục khuyết tật của mô hình (89)
        • 4.2.3.5. Kiểm định tính vững của mô hình bằng GMM (91)
    • 4.3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (92)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý (97)
    • 5.1. KẾT LUẬN (97)
    • 5.2. CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ (98)
      • 5.2.1. Gia tăng khả năng sinh lời thông qua quản lý tốt rủi ro tín dụng (98)
      • 5.2.2. Gia tăng khả năng sinh lời thông qua các yếu tố khác (102)
    • 5.3. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI (103)
      • 5.3.1.1. Hạn chế của nghiên cứu (103)
      • 5.3.1.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (103)

Nội dung

Microsoft Word Luan van Tram Anh final TA 01 docx BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HUỲNH NỮ TRÂM ANH TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN K[.]

GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hoạt động ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ và gắn liền với sự tiến bộ của nền kinh tế hàng hoá, ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển kinh tế quốc gia Trong đó, chức năng trung gian tín dụng được xem là quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu vay vốn Ngân hàng thương mại vừa nhận tiền gửi, vừa cho vay, thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất, qua đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia—người gửi tiền và người đi vay Tín dụng là hoạt động nổi bật nhất của ngân hàng thương mại, không những đóng vai trò then chốt mà còn mang lại lợi nhuận lớn nhất, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn diện (Ekinci & Poyraz, 2019).

Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng cũng đi kèm với nhiều rủi ro, trong đó rủi ro tín dụng là một trong những nguy cơ hàng đầu Rủi ro tín dụng là nguy cơ mất mát do khoản vay không được thanh toán đầy đủ, bao gồm nợ gốc và lãi suất (Campbell, 2007) Vì rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro này, chỉ có thể hạn chế hoặc phòng ngừa nhằm giảm thiểu tác động đến hoạt động kinh doanh Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả giúp ngân hàng tăng khả năng sinh lời, ổn định hệ thống tài chính, đồng thời tối ưu hóa phân bổ vốn trong nền kinh tế (Psillaki, Tsolas).

1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 2021 đánh dấu hơn 70 năm phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam, ghi nhận những bước tiến vượt bậc góp phần thúc đẩy sự chuyển biến tích cực trong nền kinh tế quốc gia Trong những năm qua, ngành ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính Tính đến năm 2021, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về quy mô, năng lực tài chính và công nghệ, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính khu vực và thế giới.

Trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có 31 Ngân hàng TMCP hoạt động, đóng vai trò trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế bằng cách chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu để cung cấp vốn phục vụ phát triển kinh tế Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng Việt Nam gần đây gặp nhiều thách thức, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu tăng cao, cản trở khả năng mở rộng tín dụng và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh tế Theo nghiên cứu của Amhad & Ariff (2007), các ngân hàng ở châu Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản cũng đối mặt với nợ xấu cao, gây ra rủi ro tín dụng lớn, đặc biệt trong các cuộc khủng hoảng tài chính và ngân hàng, dẫn đến nhiều ngân hàng phải đóng cửa Kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh rõ hơn tình hình hoạt động của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp và khách hàng trong sản xuất kinh doanh Rủi ro tín dụng gây mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội.

Hiện nay, hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng là mục tiêu hàng đầu trong quản trị tín dụng và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, góp phần vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Rủi ro tín dụng và nợ xấu được xác định là những thách thức lớn đối với ngành ngân hàng tại Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính (Phan Đình Khôi & Nguyễn Thị Ngọc Hân, 2017; Đặng Hoàng Nhật Tâm & Phạm Thị Tuấn Linh).

Mặc dù đã có một số nghiên cứu về rủi ro tín dụng, nhưng vẫn còn thiếu các phân tích chi tiết về ảnh hưởng của rủi ro này đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Nghiên cứu này góp phần làm rõ mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để quản lý rủi ro tối ưu hơn Việc đánh giá tác động của rủi ro tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực sinh lời và ổn định tài chính của các ngân hàng Việt Nam.

Dựa trên những vấn đề đã đề cập, luận văn chọn đề tài "Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam" để phân tích rõ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Nghiên cứu này nhằm giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời, từ đó đưa ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng Việc phân tích tác động của rủi ro tín dụng là cách để thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, đồng thời tăng cường khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong ngành ngân hàng.

3 cứu, đánh giá thực trạng tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các

Kết quả nghiên cứu về NH TMCP tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở để các nhà quản trị ngân hàng dự báo hiệu quả hoạt động Thông qua đó, họ có thể xây dựng kế hoạch quản trị và điều hành phù hợp nhằm tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh Những phân tích này giúp nâng cao khả năng dự đoán và ra quyết định chiến lược, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao.

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Kết quả giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp quản trị rủi ro hiệu quả Mục tiêu cuối cùng là xây dựng kế hoạch quản lý và điều hành nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa lợi nhuận cho các ngân hàng trong bối cảnh thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Mục tiêu tổng quát được thể hiện qua từng mục tiêu cụ thể sau:

- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam

- Xác định xu hướng tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam

- Đo lường mức độ tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam

Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giảm thiểu tối đa tác động của rủi ro tín dụng là giải pháp chủ đạo để bảo vệ an toàn tài chính của ngân hàng Việc nâng cao khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam đòi hỏi phải áp dụng các chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả, đồng thời tối ưu hóa các nguồn lực và hoạt động sản xuất kinh doanh Những biện pháp này giúp hạn chế thiệt hại từ rủi ro tín dụng, từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động và nâng cao giá trị của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đề tài sẽ lần lượt trả lời câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Thực trạng rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam như thế nào?

- Xu hướng tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam như thế nào?

- Mức độ tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam như thế nào?

- Các hàm ý quản trị nào nhằm giảm thiểu tối đa tác động của rủi ro tín dụng, nâng cao khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam?

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các

Trong giai đoạn 2010-2020, NH TMCP Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, nhờ vào các cải thiện về quy định pháp lý và giám sát của cơ quan chức năng Đây là khoảng thời gian đáng chú ý khi các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã nâng cao độ tin cậy của các báo cáo về rủi ro tín dụng Các chính sách mới và các quy trình kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn đã giúp tăng cường an toàn tài chính cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Về không gian: Đề tài nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của 27

Trong số 31 ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại Việt Nam, không bao gồm các ngân hàng liên doanh và ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, NH TMCP Việt Nam vẫn chiếm vị trí quan trọng trên thị trường Dữ liệu để phân tích được thu thập từ các báo cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán của các ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2020 Các số liệu này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động và sự phát triển của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam qua từng năm.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng.

Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để phân tích lý thuyết về rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, cũng như tác động của rủi ro tín dụng đối với lợi nhuận ngân hàng Đồng thời, nghiên cứu lược khảo các công trình thực nghiệm trước đây tại Việt Nam và quốc tế về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các tổ chức tín dụng Ngoài ra, phương pháp này còn giúp thiết kế mô hình nghiên cứu, đo lường các biến và đề xuất các giả thuyết nghiên cứu phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày các phân tích về các biến độc lập, giúp làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu được thảo luận kỹ lưỡng nhằm rút ra những kết luận chính, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp để các chủ thể có thể áp dụng hiệu quả Những nội dung này giúp củng cố hiểu biết về vấn đề nghiên cứu và hỗ trợ các quyết định chiến lược dựa trên kết quả phân tích khoa học.

Phương pháp nghiên cứu định lượng được thiết kế dựa trên khả năng phân tích dữ liệu bảng (Panel data) để đảm bảo độ chính xác của kết quả Các mô hình hồi quy như Hồi quy Gộp (Pooled OLS), Mô hình Các Yếu tố Tác động Cố định (FEM) và Mô hình Các Yếu tố Tác động Ngẫu nhiên (REM) giúp phân tích sâu các yếu tố ảnh hưởng một cách toàn diện Việc lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm tối ưu hóa khả năng dự đoán và giải thích các mối quan hệ trong dữ liệu nghiên cứu.

Nghiên cứu sử dụng kiểm định F (F-test) để so sánh giữa mô hình hiệu quả biên tổng quát (FEM) và phương pháp OLS pooled, với giả thuyết H0 là chấp nhận mô hình pooled OLS và H1 là chấp nhận FEM Bên cạnh đó, kiểm định Hausman được áp dụng để lựa chọn giữa mô hình hiệu quả biên ngẫu nhiên (REM) và FEM, trong đó H0 xác định ưu tiên cho REM và H1 ủng hộ FEM Các kết quả kiểm định giúp xác định mô hình phù hợp nhất để phân tích dữ liệu dữ liệu panel một cách chính xác và tin cậy.

Sau khi kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi quy, nếu có xảy ra khuyết tật thì kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được xác định theo phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) Ngược lại, nếu không có khuyết tật, kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được lựa chọn dựa trên kết quả kiểm định, bằng các phương pháp như Pooled OLS, Fixed Effects (FEM), hoặc Random Effects (REM) Việc lựa chọn phương pháp phù hợp giúp đảm bảo độ chính xác và tính hợp lý của các kết quả phân tích dữ liệu.

Cuối cùng, chúng tôi thực hiện hồi quy theo phương pháp GMM (Generalized Method of Moments) để xử lý vấn đề nội sinh nếu có, qua đó nâng cao độ tin cậy và tính ổn định của mô hình phân tích.

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu về tác động rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các NH TMCP Việt Nam, luận văn đóng góp như sau:

Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020, góp phần xác nhận và làm rõ cơ sở lý thuyết về mối quan hệ này Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của các ngân hàng, từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Điều này đồng thời mở rộng kiến thức trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính về vai trò của rủi ro tín dụng trong bối cảnh thị trường Việt Nam.

Luận văn cung cấp các phân tích thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, giúp các nhà quản trị ngân hàng và các chủ thể liên quan hiểu rõ mối liên hệ này Bài nghiên cứu cũng đưa ra các hàm ý quản trị quan trọng, hỗ trợ các quyết định chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động và tối ưu lợi nhuận trong ngành ngân hàng.

KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các

NH TMCP Việt Nam được thực hiện theo kết cấu 5 chương nội dung, bao gồm: Chương 1: Giới thiệu về đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý

Chương 1 của bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm soát rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại (NHTM), khẳng định rằng kiểm soát rủi ro tín dụng là yếu tố thiết yếu để đạt được mục tiêu tăng trưởng an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững trong hoạt động ngân hàng.

Chương này trình bày các mục tiêu nghiên cứu cụ thể dựa trên mục tiêu tổng quát, được xác định rõ ràng thông qua các câu hỏi nghiên cứu Đồng thời, đề tài cũng xác định đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu gồm nội dung, thời gian và không gian, giúp định hướng cho quá trình phân tích và thu thập dữ liệu.

Chương này đã khái quát nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, nhấn mạnh ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đồng thời, nó cung cấp cái nhìn tổng thể về cấu trúc đề tài gồm 5 chương nội dung chính, giúp bạn hiểu rõ hơn về phạm vi nghiên cứu và các phương pháp được áp dụng.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG

2.1.1 Khái niệm về tín dụng

Tín dụng là một phạm trù kinh tế liên quan chặt chẽ đến nền kinh tế hàng hóa Sự hình thành và tồn tại của tín dụng bắt nguồn từ quá trình chu chuyển của vốn tiền tệ cùng với nhu cầu sinh lợi của vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc khi nhu cầu vốn vượt quá khả năng tích lũy, dẫn đến quan hệ cung cầu tiền tệ giữa người đi vay và người cho vay Tín dụng xuất hiện như một yếu tố khách quan không thể thiếu trong nền kinh tế, phản ánh mức độ phát triển và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế.

Tín dụng là các giao dịch chuyển giao tiền bạc hoặc tài sản kèm theo lời hứa trả nợ vào một ngày cố định trong tương lai, với bên chuyển nhượng gọi là chủ nợ và bên nhận là người vay nợ, phản ánh hai phía của cùng một hoạt động (Marples & Lowry, 2008) Tín dụng ngân hàng liên quan đến khoản vay mà ngân hàng cấp cho cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức dưới dạng tiền mặt, bao gồm nhiều hình thức từ khoản vay đến hạn mức tín dụng (Bessis, 2002) Chức năng chính của tín dụng là chuyển tài sản tạm thời từ người sở hữu sang người muốn sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh hoặc tiêu dùng, với khoản vay được tính lãi suất dựa trên rủi ro, nhu cầu và cung tín dụng (Stiglitz & Weiss, 1981).

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

9 đầu tư quan trọng của các ngân hàng thương mại, quyết định việc ngân hàng phá sản hoặc thu được lợi nhuận rất cao (Al-Zubaidi, 2002)

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Rủi ro tín dụng là tình trạng khi người vay không thể thanh toán đúng hạn theo hợp đồng, dẫn đến mất khả năng trả nợ, gây thiệt hại cho ngân hàng và là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Theo Fitch Thomas, 1993) Đây còn được hiểu là rủi ro xảy ra khi khách hàng không đủ khả năng tài chính để chi trả các khoản vay, gây thiệt hại cho ngân hàng, áp dụng không chỉ cho các khoản vay mà còn cho các hoạt động phái sinh, giao dịch tỷ giá, danh mục đầu tư và các dịch vụ tài chính khác (Theo Gup, 2005).

Rủi ro tín dụng là khả năng người vay hoặc đối tác của ngân hàng thương mại thất bại trong việc thực hiện cam kết hoàn trả theo các điều khoản đã thỏa thuận Theo Basel Committee on Banking Supervision (1999), đó chính là nguy cơ dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng do khách hàng không thanh toán đúng hạn hoặc không thanh toán đủ số tiền vay Rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng trong quản trị rủi ro ngân hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính Do đó, việc đánh giá, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro tín dụng là yếu tố then chốt để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

Rủi ro vỡ nợ, còn gọi là rủi ro tín dụng, phát sinh do các yếu tố không chắc chắn liên quan đến khả năng khách hàng không thể hoàn trả khoản vay cho ngân hàng thương mại (NHTM) Đây là một trong những rủi ro tài chính chính ảnh hưởng đến hoạt động và an toàn tài chính của ngân hàng Các yếu tố gây ra rủi ro vỡ nợ bao gồm tình hình tài chính của khách hàng, điều kiện kinh tế chung, và các yếu tố pháp lý liên quan đến các khoản vay Đánh giá chính xác rủi ro vỡ nợ giúp ngân hàng quản lý rủi ro hiệu quả và đảm bảo sự phát triển bền vững của hoạt động tín dụng Việc kiểm soát rủi ro vỡ nợ là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan.

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng người vay không thể trả tiền lãi hoặc hoàn trả gốc đúng hạn, theo Stephanou & Mendoza (2005), hoặc là sự biến động tiềm tàng trong thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng trễ hạn hoặc không thanh toán, như mô tả bởi Koch (1995) Ở góc độ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), rủi ro tín dụng là tổn thất tiềm tàng đối với nợ của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Rủi ro tín dụng là khả năng gây thiệt hại tài chính cho ngân hàng khi đối tác không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn, bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi Đây là yếu tố tạo ra rủi ro làm giảm thu nhập ròng và giá trị thị trường của vốn của ngân hàng Trong những trường hợp nghiêm trọng, rủi ro tín dụng có thể dẫn đến tổn thất lớn, thậm chí gây phá sản ngân hàng.

2.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng

2.1.3.1 Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng

Theo Hồ Diệu (2002), rủi ro tín dụng được phân thành hai loại chính dựa trên nguyên nhân phát sinh: rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) Rủi ro giao dịch liên quan đến biến động tỷ giá và các yếu tố thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến từng giao dịch cụ thể Trong khi đó, rủi ro danh mục đề cập đến các rủi ro phát sinh từ sự biến động tổng thể của danh mục đầu tư, ảnh hưởng đến toàn bộ danh mục tài sản Hiểu rõ đặc điểm của từng loại rủi ro giúp các tổ chức tài chính xây dựng chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả, đảm bảo an toàn tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Rủi ro giao dịch phát sinh do hạn chế trong quá trình xét duyệt vay và đánh giá khách hàng bao gồm các loại rủi ro quan trọng như rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ Rủi ro lựa chọn xuất phát từ quá trình thẩm định và phân tích tín dụng của ngân hàng để xác định phương án vay vốn hiệu quả, giúp đưa ra quyết định cho vay chính xác Trong khi đó, rủi ro bảo đảm liên quan đến các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản hợp đồng vay, loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo và phương pháp đảm bảo phù hợp.

Các thức đảm bảo và mức cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo đóng vai trò quan trọng trong quản trị rủi ro tín dụng Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến các thao tác trong quá trình thực hiện các khoản vay, ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng Việc nắm rõ các nguyên tắc này giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý tín dụng.

Rủi ro danh mục phát sinh do hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Rủi ro nội tại xuất phát từ đặc điểm riêng của từng khách hàng, liên quan đến hoạt động và cách sử dụng vốn vay, và không thể loại bỏ hoàn toàn vì liên quan đến đặc điểm của chủ thể đi vay Trong khi đó, rủi ro tập trung bắt nguồn từ việc cho vay quá mức một số khách hàng, ngành nghề hẹp, hoặc khu vực địa lý nhất định, đi ngược lại nguyên tắc đa dạng hóa nhằm phân tán rủi ro Do tính chất không thể triệt tiêu của rủi ro nội tại, việc đa dạng hóa danh mục cho vay là giải pháp cần thiết để hạn chế và kiểm soát rủi ro tập trung, giúp nâng cao tính an toàn cho hoạt động ngân hàng.

2.1.3.2 Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI

2.2.1 Khái quát lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

Khả năng sinh lời phản ánh khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, thể hiện kết quả hoạt động của ngân hàng hoặc doanh nghiệp Theo phân tích theo các mảng hoạt động, khả năng sinh lời được chia thành hai nhóm chính: khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính, cùng khả năng sinh lời từ các hoạt động khác Đây là chỉ tiêu tài chính quan trọng mà mọi đối tượng liên quan đều quan tâm, trong đó, việc đánh giá khả năng sinh lời cần xem xét mối quan hệ với các nguồn lực đã sử dụng, như tổng vốn đầu tư, để xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh.

18 tư, vốn chủ sở hữu, (Ngô Kim Phượng, 2015; Brealey, Myers, Swensen & Allen,

Khả năng sinh lời là thước đo dạng số tương đối, phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó.

Theo Rose (1999), ngân hàng hoạt động như một doanh nghiệp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi rủi ro cho phép Khả năng sinh lời được đặt lên hàng đầu, vì lợi nhuận cao giúp ngân hàng duy trì vốn, mở rộng thị phần và thu hút đầu tư Việc cân đối giữa lợi nhuận và rủi ro là yếu tố quyết định thành công của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh hiện nay.

Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, thể hiện khả năng sinh lợi từ hoạt động kinh tế và là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Để đánh giá đúng khả năng sinh lời, cần xem xét trong một khoảng thời gian tham chiếu phù hợp Khái niệm này được áp dụng trong mọi hoạt động sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện qua kết quả đạt được trên các phương tiện đó Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một tài sản riêng lẻ hoặc một nhóm tài sản nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Khả năng sinh lời là mục tiêu chính của mọi hoạt động kinh doanh, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp (Hofstrand, 2009) Hiệu quả hoạt động được đo bằng khả năng chuyển đổi các yếu tố đầu vào khan hiếm thành lợi nhuận hoặc giảm thiểu chi phí cạnh tranh (Daft, 2008), qua đó phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp Đặc biệt, trong lĩnh vực ngân hàng, khả năng sinh lời thể hiện qua khả năng tạo ra lợi nhuận và mối liên hệ giữa lợi nhuận với các yếu tố như tài sản và vốn chủ sở hữu.

Khả năng sinh lời của ngân hàng thể hiện qua khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh và sử dụng tài sản cũng như nguồn vốn hiệu quả Theo Olalekan và Adeyinka (2013), khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi Harward & Upton (1991) nhấn mạnh rằng khả năng này còn liên quan đến khả năng thu lợi nhuận từ các khoản đầu tư của ngân hàng Do đó, khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại phản ánh khả năng tối đa hóa lợi nhuận từ việc khai thác tài sản và quản lý nguồn vốn một cách hiệu quả.

Khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh đầu tư của ngân hàng, đóng vai trò là thước đo đánh giá toàn bộ quá trình hoạt động (Velnamby & Nimalathasan, 2008) Chính vì vậy, khả năng sinh lời rất quan trọng trong việc ra quyết định và xây dựng chính sách ngân hàng, giúp nâng cao năng lực tài chính và tăng lợi thế cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại hiện nay.

2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

Thứ nhất, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu – suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity)

ROE cho biết ngân hàng kiếm được bao nhiêu lợi nhuận so với vốn cổ phần của các cổ đông (Petkovski, M., 2009)

Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ mỗi đồng vốn của nhà đầu tư ROE càng cao thể hiện ngân hàng hoạt động hiệu quả và mang lại lợi nhuận tốt cho cổ đông Chỉ số này luôn nhận được sự quan tâm lớn từ nhà đầu tư vì phản ánh khả năng sinh lời và hiệu quả đầu tư vào ngân hàng (Lê Tấn Phước, 2016).

ROE đo lường khả năng của ngân hàng thương mại trong việc tạo ra lợi nhuận và gia tăng giá trị cho cổ đông Đây là một trong những chỉ số toàn diện nhất để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng (Sufian, 2011), phản ánh mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng là tối đa hóa giá trị ròng ROE giúp thể hiện hiệu quả hoạt động, từ đó góp phần nâng cao giá trị tăng thêm cho cổ đông và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng.

Thứ hai, khả năng sinh lời trên tài sản – suất sinh lời trên tài sản (ROA - Return on Asset)

Suất sinh lời trên tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế

ROA thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và phản ánh khả năng của nhà quản trị trong việc sử dụng các nguồn tài chính để tạo ra lợi nhuận Tổng tài sản bình quân là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ROA của ngân hàng, giúp đo lường khả năng sinh lời từ các hoạt động đầu tư và quản lý tài sản Trong mọi ngân hàng, ROA phụ thuộc vào hiệu quả quản lý tổng tài sản bình quân và khả năng tối ưu hóa lợi nhuận từ các nguồn vốn đầu tư.

20 các quyết định chính sách của ngân hàng, cũng như các yếu tố khách quan liên quan tới nền kinh tế và các quy định của Chính phủ

Chỉ số ROA là thước đo đánh giá hiệu quả khả năng sinh lời của ngân hàng, phản ánh khả năng tạo lợi nhuận trên tổng tài sản (Rivard & Thomas, 1997; Hasan & Bashir, 2003) Một ROA cao hơn thể hiện hiệu quả hoạt động tốt hơn của ngân hàng, trong khi ROA thấp có thể cho thấy ngân hàng chưa tối ưu trong việc đầu tư, cho vay hoặc đang gặp phải chi phí vận hành cao (Sheeba, 2011) Do đó, chỉ số ROA càng cao càng có ý nghĩa tích cực cho sức khỏe tài chính của ngân hàng.

Thứ ba, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM - Net interest margin)

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên = Thu nhập lãi - Chi phí lãi

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường qua các chỉ số như lợi nhuận trên vốn cổ phần, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập lãi cận biên và chênh lệch lãi suất theo quan điểm của Rose (1999) Thu nhập lãi cận biên là công cụ hữu ích để đánh giá sự biến động và xu hướng trong biên độ lãi suất, cũng như so sánh hiệu quả sinh lời giữa các ngân hàng Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng giúp đo lường hiệu quả tài chính của các tổ chức nhận tiền gửi.

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng, còn gọi là biên lãi ròng, được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, chia cho tổng tài sản của ngân hàng (Rose, 1999) Đây là chỉ số quan trọng phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay của ngân hàng Việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ổn định giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính Theo các nghiên cứu, tỷ lệ này ảnh hưởng lớn đến sự bền vững và phát triển lâu dài của ngân hàng.

Cấp quản trị thể hiện hiệu quả trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu chính như cho vay, đầu tư và thu phí dịch vụ, so với mức tăng của chi phí, trong đó chủ yếu gồm chi phí trả lãi cho tiền gửi, các khoản vay trên thị trường tiền tệ, cũng như tiền lương nhân viên và các khoản phúc lợi Điều này cho thấy khả năng quản trị doanh nghiệp trong việc cân đối và tối ưu hóa lợi nhuận, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của tổ chức.

Khả năng sinh lời là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu về ngân hàng, với nhiều chỉ số đo lường khác nhau phù hợp với mục tiêu và dữ liệu thực tiễn Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn sử dụng chỉ số ROA và ROE vì đây là các chỉ số truyền thống, đáng tin cậy và đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu, giúp cung cấp một cái nhìn tổng thể và đa chiều về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của các ngân hàng thương mại, mang lại nguồn thu nhập chính nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng và hệ thống ngân hàng toàn cầu (Chijoriga, 1997; Boahene, Dasah & Agyei, 2012) Rủi ro và lợi nhuận luôn đi đôi và ảnh hưởng lẫn nhau; khả năng sinh lợi phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng và thể hiện mức độ thành công trong việc quản lý rủi ro tín dụng (Olalekan & Adeyinka, 2013) Do đó, khi xem xét tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận, cần phân tích cả hai chiều tác động, bao gồm ảnh hưởng cùng chiều và tác động ngược chiều, để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động ngân hàng.

2.3.1 Rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng, nghĩa là khi rủi ro tín dụng cao, lợi nhuận ngân hàng giảm xuống Điều này xảy ra khi ngân hàng cho vay đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro cao hoặc không kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, dẫn đến xác suất không thu hồi vốn và lãi từ khách hàng vay tăng cao, gây thất thoát tài sản và giảm khả năng sinh lời Berger & DeYoung (1997) đề xuất giả thuyết “kém may mắn” nhằm giải thích mối quan hệ tiêu cực giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng thương mại.

Trong lý thuyết "kém may mắn" hoặc "bad luck theory," ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên giả thiết rằng rủi ro tín dụng xảy ra do các yếu tố khách quan ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng, dẫn đến việc dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố không mong muốn Ngược lại, lý thuyết "quản lý kém" hay "bad management theory" nhấn mạnh rằng các rủi ro tín dụng thật sự phát sinh từ những sai sót trong quá trình quản lý, đánh giá khách hàng hoặc kiểm soát rủi ro của ngân hàng Hiểu rõ hai lý thuyết này giúp ngân hàng xây dựng các chiến lược phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro tín dụng hiệu quả hơn và nâng cao khả năng duy trì hoạt động kinh doanh bền vững.

Khi tỷ lệ khách hàng gia tăng, ngân hàng thương mại (NHTM) phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và chịu thêm chi phí liên quan đến việc xử lý các vấn đề rủi ro này, bao gồm chi phí giám sát khách hàng, tài sản đảm bảo, phân tích và đàm phán các khoản cấp tín dụng có khả năng rủi ro Ngoài ra, NHTM còn đối mặt với các chi phí gián tiếp như ảnh hưởng đến danh tiếng, uy tín và mức độ an toàn của ngân hàng, có thể dẫn đến sự đánh giá thấp từ thị trường và các cơ quan quản lý Rủi ro tín dụng gây tác động tiêu cực, làm giảm lợi nhuận, thậm chí dẫn đến rủi ro thua lỗ, giảm vốn chủ sở hữu và làm suy giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu (cổ đông) Theo lý thuyết "quản lý kém", các ngân hàng hoạt động hiệu quả, sinh lợi cao cho thấy khả năng quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn, đây là một phần năng lực cốt lõi của ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và uy tín thương hiệu.

Lee (2010) nhấn mạnh rằng khi tầm quan trọng của rủi ro tín dụng chưa rõ ràng, các đơn vị cấp tín dụng, bao gồm Ngân hàng Thường mại, lo ngại về các tác động tiêu cực nếu rủi ro tín dụng tăng cao vượt dự kiến, ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận và khả năng sinh lời của họ Girardone, Molyneux và Gardener (2004) cho rằng rủi ro tín dụng cao là dấu hiệu cho thấy ngân hàng chưa khai thác hết các nguồn lực để đánh giá và giám sát các khoản tín dụng, đồng thời rủi ro này còn làm giảm hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng, như được trình bày bởi Altunbas, Carbo, Gardener và Molyneux (2007).

2.3.2 Rủi ro tín dụng tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Quan điểm thứ hai cho rằng, rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời có mối quan hệ cùng chiều, theo lý thuyết đánh đổi rủi ro-lợi nhuận, ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao thường đi kèm với mức lợi nhuận và khả năng sinh lời cao, trong khi rủi ro thấp đi đôi với lợi nhuận thấp Những ngân hàng chấp nhận rủi ro cao thường yêu cầu mức lãi suất vay cao hơn để bù đắp cho rủi ro này.

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc chấp nhận rủi ro tín dụng cao có thể mang lại lợi nhuận và khả năng sinh lời lớn hơn cho ngân hàng bằng cách đưa ra mức lãi suất vay cao hơn để bù đắp rủi ro (Boahene, Dasah & Agyei, 2012; Saeed & Zahid, 2016) Tuy nhiên, nếu ngân hàng có phương pháp quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, họ vẫn có thể đạt được lợi nhuận cao đồng thời hạn chế tổn thất do rủi ro gây ra, giúp tăng năng suất tài sản và kiểm soát rủi ro tốt hơn (Harjanti & Tandelilin, 2007; Tan, 2015) Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng còn gây tranh cãi, có ý kiến cho rằng chúng tỷ lệ thuận, tức rủi ro cao đi cùng lợi nhuận cao; trong khi đó, cũng có quan điểm cho rằng mối quan hệ này là nghịch chiều Do đó, nghiên cứu tiếp theo sẽ xem xét các bằng chứng thực nghiệm để xác định rõ hơn tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Nguyễn Việt Hùng (2008) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 32 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2001-2005, trong đó các yếu tố như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi trên tổng dư nợ cho vay đều đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, trong khi tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi trên dư nợ cho vay ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động Ngoài ra, các chỉ số như tỷ lệ tổng chi phí trên tổng doanh thu và tỷ lệ thu từ lãi trên tổng thu cũng là các yếu tố quyết định đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Những kết quả này cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Các hoạt động có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động về lợi nhuận của ngân hàng, trong khi tỷ lệ thị phần và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đều ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận Việc nắm bắt các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và tối ưu hóa lợi nhuận ngân hàng.

Phạm Hữu Hồng Thái (2013) trong nghiên cứu về tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ năm 2005 đến 2012 đã cho thấy rằng tỷ lệ nợ xấu (NPL) và dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất sinh lời (ROE) Ngược lại, các yếu tố như đòn bẩy tài chính (DE), quy mô ngân hàng (SIZE), và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) lại có tác động cùng chiều với ROE, thúc đẩy khả năng sinh lời của ngân hàng.

Trịnh Quốc Trung & Nguyễn Văn Sang (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM thông qua chỉ tiêu ROA và ROE của

Trong giai đoạn 2005 – 2013, nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu càng cao thì hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTM) càng giảm Đồng thời, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác dụng tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, tổng chi phí hoạt động trên doanh thu lại có mối quan hệ nghịch chiều với lợi nhuận, làm giảm hiệu quả lợi nhuận của NHTM Hệ số tự tài trợ càng cao cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Ngoài ra, các ngân hàng nhà nước thường hoạt động kém hiệu quả hơn so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Nguyễn Quốc Anh (2016) nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó, hiệu quả kinh doanh được tiếp cận qua khả năng sinh lời của vốn và đo lường bằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tài sản Nghiên cứu dựa trên dữ liệu của 26 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 10 năm, giúp làm rõ mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng.

Trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2014, nghiên cứu đã sử dụng phân tích hồi quy đa biến trên dữ liệu bảng để chỉ ra rằng rủi ro tín dụng, thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng, có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Ngoài ra, các yếu tố như hiệu quả quản lý chi phí và quy mô ngân hàng thương mại (NHTM) đều ảnh hưởng cùng chiều với hiệu quả kinh doanh, trong khi đòn bẩy tài chính lại có tác động ngược chiều Nghiên cứu còn chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế và lãi suất chính sách ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh, còn các yếu tố như tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ giá VND so với USD lại tác động ngược chiều.

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác

Felix & Claudine (2008) đã sử dụng số liệu tài chính của Ngân hàng Trung ương Qatar từ năm 2001 đến 2005 để nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu suất hoạt động ngân hàng và quản lý rủi ro tín dụng Kết quả cho thấy các ngân hàng có chính sách quản lý rủi ro tín dụng hợp lý hoặc tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì có khả năng sinh lời cao hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cả hai chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng là ROE và ROA đều có quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ xấu, và các khoản nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Nghiên cứu của Boahene, Dasah & Agyei (2012) về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của 6 ngân hàng thương mại tại Ghana trong giai đoạn 2005-2009 cho thấy, rủi ro tín dụng được đo lường qua tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ tổn thất ròng và tỷ lệ lợi nhuận trước dự phòng trên dư nợ tín dụng ròng, có mối liên hệ cùng chiều với lợi nhuận Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình các yếu tố tác động cố định cho thấy rủi ro tín dụng giải thích rõ ràng sự tăng lợi nhuận của ngân hàng, trái với các nghiên cứu trước đó cho rằng rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với lợi nhuận Các tác giả giả thích mối quan hệ này dựa trên lãi suất cho vay rất cao, trung bình 30-35% mỗi năm, cùng với nguồn thu nhập ngoài lãi đóng góp lớn vào lợi nhuận tổng thể của ngân hàng Đồng thời, nghiên cứu còn xác nhận các yếu tố như quy mô ngân hàng, khả năng tăng trưởng và đòn bẩy tài chính cùng có tác động tích cực cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng tại Ghana.

THẢO LUẬN CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Các nghiên cứu thực nghiệm toàn cầu đã cung cấp các bằng chứng đa dạng về ảnh hưởng của rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng đối với khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại (NHTM), với các khía cạnh khác nhau như không gian, thời gian hoặc phương pháp đo lường rủi ro tín dụng Một số nghiên cứu như của Felix & Claudine (2008), Tadesse (2014), Norman et al (2015), Hamza (2017), Serwadda (2018), Ekinci & Poyraz (2019), cùng Gadzo et al (2019) cho thấy tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của NHTM Trong khi đó, nghiên cứu của Boahene, Dasah & Agyei (2012) khẳng định rủi ro tín dụng có ý nghĩa giải thích cùng chiều với lợi nhuận, và nghiên cứu của Saeed & Zahid (2016) ủng hộ quan điểm này Ngoài ra, Gizaw et al (2015) cho thấy tác động của rủi ro tín dụng có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều tùy thuộc vào cách đo lường, nhưng điểm chung vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng trong việc đảm bảo khả năng sinh lời của NHTM.

Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam đều thống nhất rằng rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Điều này cho thấy rằng khi rủi ro tín dụng gia tăng, khả năng sinh lời hoặc hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp giảm đi rõ rệt Phân tích từ các phương diện tài chính cho thấy, kiểm soát rủi ro tín dụng là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh và duy trì khả năng sinh lời bền vững.

Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng thường sử dụng tỷ lệ nợ xấu hoặc nợ quá hạn để đo lường rủi ro tín dụng, là những chỉ tiêu phản ánh trực tiếp về rủi ro này Tuy nhiên, lý thuyết về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cho rằng còn nhiều phương pháp đo lường khác, trong đó tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng phản ánh gián tiếp rủi ro này nhưng ít được đề cập trong các nghiên cứu trước Đề tài này sẽ kết hợp sử dụng cả hai tỷ lệ để đo lường rủi ro tín dụng và phân tích mối tương quan giữa chúng, điểm mới chưa được nghiên cứu trước đó Ngoài ra, nghiên cứu sẽ xem xét ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng dưới sự kiểm soát của các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, tạo cái nhìn đa chiều hơn so với các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào trong nội bộ ngân hàng Đặc biệt, đề tài còn chú trọng đến vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu, nhằm nâng cao tính tin cậy của kết quả Cuối cùng, nghiên cứu sẽ mở rộng phạm vi thời gian và không gian, phân tích các yếu tố vi mô của ngân hàng và vĩ mô của nền kinh tế để cung cấp các thông tin đa dạng, chặt chẽ hơn cho các nhà quản lý và các chủ thể liên quan về rủi ro tín dụng trong bối cảnh hiện nay.

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài

STT Nghiên cứu Đo lường khả năng sinh lời

Dữ liệu Kết quả nghiên cứu

Trong năm 2005, các chỉ số tài chính quan trọng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, và tỷ lệ tiền gửi trên tổng dư nợ cho vay đều phản ánh hiệu quả quản lý rủi ro của ngân hàng Đồng thời, tỷ lệ tổng chi phí trên tổng doanh thu và tỷ lệ thu từ lãi trên thu từ hoạt động cho thấy mức độ sinh lời và khả năng kiểm soát chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ số ROA (Lợi nhuận trên tổng tài sản) và ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) Những yếu tố này có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải tối ưu các chỉ số để duy trì hiệu quả kinh doanh.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) có tác động nghược chiều đến tỷ suất sinh lợi ROE, trong khi đó, tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), quy mô ngân hàng (SIZE) và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) lại tác động cùng chiều đến ROE Các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sinh lời của ngân hàng, trong đó NPL và LLP làm giảm ROE, còn LEV, SIZE và LLR giúp nâng cao lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.

Kết quả nghiên cứu năm 2013 cho thấy, tỷ lệ nợ xấu cao làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ngược lại, tỷ lệ cho vay trên tài sản càng cao thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng được nâng cao Do đó, quản lý nợ xấu và tối ưu hóa tỷ lệ cho vay trên tài sản là yếu tố then chốt để cải thiện hiệu quả ngân hàng.

Tổng chi phí hoạt động trên doanh thu có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng thương mại (NHTM) Ngoài ra, hệ số tự tài trợ cao cũng dẫn đến giảm hiệu quả lợi nhuận của NHTM, cho thấy các yếu tố này đều ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

ROA, ROE 26 NHTM giai đoạn 10 năm, 2005 -

Năm 2014, tỷ lệ nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Hiệu quả quản lý chi phí và quy mô ngân hàng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh, cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố tài chính và hiệu suất hoạt động ngân hàng trong năm này.

Trung ương Qatar từ năm

Từ năm 2001 đến 2005, cả tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) đều có mối quan hệ nghịch biến với tỷ lệ nợ xấu (non-performing loan), cho thấy rằng khi tỷ lệ nợ xấu tăng, khả năng sinh lời của ngân hàng giảm sút đáng kể.

ROE 06 Ngân hàng ở Ghana giai đoạn 2005-

2009 ỉ Rủi ro tớn dụng đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu (NPLR) và tỷ lệ xoá nợ ròng (NCOTL) có tác động cùng

32 chiều với tỷ suất sinh lợi (ROE)

2012 ỉ Tỏc động ngược chiều của rủi ro tín dụng (PRTL) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (ROA)

18 NHTM tại Bangladesh giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013 ỉ Rủi ro tớn dụng ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận

ROE và ROA phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, trong đó rủi ro tín dụng ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi rủi ro thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu và hệ số an toàn vốn lại tác động tiêu cực đến lợi nhuận.

Trong giai đoạn từ 2007 đến 2015, các yếu tố như tỷ lệ nợ xấu (CRNPL), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LV), và quy mô ngân hàng (BS) đều có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại Anh Cụ thể, các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn, đòn bẩy tài chính lớn hơn và quy mô mở rộng thường đạt được ROA và ROE cao hơn, cho thấy mối liên hệ cùng chiều giữa các biến này và hiệu quả sinh lời của ngân hàng Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại tại Anh trong giai đoạn đã nghiên cứu.

ROA, ROE Ngân hàng tại

Pakistan ỉ Hệ số dự phũng rủi ro tín dụng và tỷ số nợ xấu có mối quan hệ nghịch biến với hiệu quả hoạt động ngân hàng

ROA 20 ngân hàng thương mại tại Uganda trong giai đoạn

2006 – 2015 ỉ Hệ số ROA của cỏc ngân hàng thương mại chịu tác động nghịch biến bởi nợ xấu

ROA, ROE 26 NHTM hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2005 -

2017 ỉ Cú mối quan hệ nghịch biến giữa rủi ro tín dụng (đo lường bằng NPL) và ROA cũng như giữa rủi ro tín dụng và ROE

ROE và NIM là những chỉ số quan trọng phản ánh hiệu suất hoạt động của ngân hàng quốc tế tại Ghana Mối quan hệ nghịch biến giữa rủi ro tín dụng (được đo bằng hệ số nợ xấu) cùng với hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR và các chỉ số tài chính như ROE và NIM cho thấy rằng khi rủi ro tín dụng và yêu cầu vốn tăng, thì tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên có xu hướng giảm Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong việc duy trì hiệu quả tài chính và tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng trên toàn cầu tại Ghana.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời, và tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của NHTM, theo đó rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng không thực hiện đúng cam kết liên quan đến vốn gốc và/hoặc tiền lãi trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM với khách hàng; nếu rủi ro tín dụng xảy ra thì NHTM sẽ bị tổn thất tài chính, cụ thể là giảm khả năng sinh lời

Nghiên cứu đã tổng hợp 04 nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và 10 nghiên cứu quốc tế, cho thấy rằng rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng sinh lời, tùy thuộc vào phạm vi không gian, thời gian và phương pháp đo lường rủi ro tín dụng được sử dụng.

Dựa trên các cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đã xác định rõ những khoảng trống trong lĩnh vực đo lường rủi ro tín dụng Mục tiêu của đề tài là giải quyết những hạn chế liên quan đến phạm vi thời gian và không gian trong phân tích, đồng thời đề xuất các biến kiểm soát phù hợp nhằm nâng cao độ chính xác của các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 27/11/2022, 22:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w