1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh bình dương phần 2 luận văn thạc sĩ

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 296,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

19 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2 1 Tổng quan về KTQT 2 1 1 Khái niệm Trong quá trình chỉ đạo, thúc đẩy và kiểm soát các hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý DN đều hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dựa trên hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, đảm bảo rằng các hoạt động liên quan đều diễn ra đúng và theo kế hoạch Vì thế, KTQT là một bộ phận không thể thiếu, cấu thành nên hệ thống thông tin kế toán Đây là quan điểm về KTQT theo truyền thống được đề ra bởi nhiều nhà nghiên cứu, tiêu bi.

Trang 1

19

2.1 Tổng quan về KTQT

2.1.1 Khái niệm

Trong quá trình chỉ đạo, thúc đẩy và kiểm soát các hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý DN đều hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dựa trên hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, đảm bảo rằng các hoạt động liên quan đều diễn ra đúng và theo

kế hoạch Vì thế, KTQT là một bộ phận không thể thiếu, cấu thành nên hệ thống thông tin kế toán Đây là quan điểm về KTQT theo truyền thống được đề ra bởi nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu như:

Theo từ điển kế toán của Nhà xuất bản Macmillan: “KTQT là một bộ phận của kế toán liên quan đến việc báo cáo cho các nhà QT trong nội bộ DN”

Theo các giáo sư đại học South Florida: “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp những thông tin định lượng cho các nhà QT, mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”

Theo Ronald W Hilton: “KTQT là một bộ phận trong hệ thống thông tin QT của tổ chức”

Theo thông tư “Hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN” số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 thì thông tin hoạt động nội bộ mà KTQT cung cấp có thể là: chi phí của từng bộ phận, từng công việc, từng sản phẩm; phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn, dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế

Trang 2

20

Luật kế toán VN được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 quy định tại Điều 3: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu QT và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Từ một số định nghĩa trên ta thấy, KTQT là một hệ thống kế toán thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho các nhà QT trong nội bộ DN để đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh

Không chỉ dừng ở đây, các nhà nghiên cứu đã tiếp tục tiếp cận KTQT theo quan điểm đương đại với góc độ thực hành và đã đưa ra những nhận định ngày càng phổ biến, khẳng định vai trò quan trọng của KTQT như:

Wilson (1997) đã chỉ ra việc sử dụng thông tin KTQT để hỗ trợ cho việc ra quyết định chiến lược và tác động của thông tin đến kết quả kinh doanh của tổ chức Johnson (1981) định nghĩa KTQT là một hệ thống đo lường, cung cấp thông tin tài chính – kinh doanh và thúc đẩy, hỗ trợ các nhà quản lý tạo nên giá trị DN cần thiết

để đạt được các mục tiêu chiến lược của tổ chức

Johnson và Kaplan (1987) đã nhận định KTQT là hệ thống cung cấp thông tin kịp thời và chính xác tạo điều kiện cho việc kiểm soát chi phí, đo lường và cải thiện năng suất sản phẩm như quy trình sản xuất, quyết định về giá, giới thiệu sản phẩm mới, từ bỏ các sản phẩm lỗi thời và phản ứng với các sản phẩm của đối thủ

Trong tài liệu tổng kết các khái niệm KTQT trên thế giới năm 1998 được công bố bởi Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): “KTQT được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của

DN cho những nhà QT thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của DN.”

Cùng năm, theo tác giả cuốn “Advanced Managemant Accounting”, ông Robert S Kaplan và Anthony A Atkinson (1998) thì KTQT được định nghĩa như là hệ thống

Trang 3

21

kế toán cung cấp thông tin cho những người quản lý DN trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ

Hoque (2001) cho rằng KTQT chiến lược là quá trình xác định, thu thập, lựa chọn

và phân tích dữ liệu kế toán để giúp đội ngũ quản lý đưa ra quyết định chiến lược và đánh giá hiệu quả của tổ chức

“KTQT liên quan đến quá trình và kỹ thuật tập trung vào hiệu quả và kết quả sử dụng nguồn lực của tổ chức nhằm hỗ trợ các nhà QT gia tăng giá trị khách hàng và giá trị cổ đông”, Kimlangfield-Smith et al (2006)

Đến năm 2008, Viện các kế toán viên QT Hoa Kỳ (IMA) đã tiến hành định nghĩa mới về KTQT: “KTQT là một nghề có liên quan đến việc hỗ trợ ra quyết định, xây dựng và triển khai kế hoạch và hệ thống quản lý, cung cấp chuyên môn về báo cáo tài chính, kiểm soát để hỗ trợ QT trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược của tổ chức”

Theo Atkinson Et Al (2012) thì KTQT được xem là quá trình cung cấp cho các nhà quản lý và người lao động trong một tổ chức với các thông tin có liên quan cả về tài chính và phi tài chính; đưa ra quyết định, phân bổ nguồn lực và giám sát, đánh giá

và khen thưởng việc thực hiện

“KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà QT trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu” Đây là nhận định của tác giả Nguyễn Ngọc Quang và cộng sự đã

đề ra vào năm 2012

Mặc dù có nhiều nhận định về khái niệm KTQT nhưng hầu hết đều có những điểm

cơ bản giống nhau đó là một bộ phận cấu thành hệ thống kế toán, đồng thời cung cấp thông tin và là công cụ hỗ trợ cho nhà quản lý hoạch định, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ DN

Trang 4

22

Tóm lại, KTQT một môn khoa học thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính đồng thời là công cụ quan trọng trong quá trình ra quyết định của nhà quản lý liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của DN nhằm tối ưu hóa các mục tiêu chiến lược đã được đề ra

2.1.2 Lịch sử phát triển KTQT

2.1.2.1 Lịch sử phát triển KTQT trên thế giới

KTQT ra đời đầu tiên từ những năm đầu thế kỷ XIX tại Mỹ bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng công nghiệp để đánh giá tài sản và đo lường lợi nhuận từ việc phát triển các phương pháp xác định chi phí Đây là ý kiến về của Robert S Kaplan và Anthony A Atkinson về sự xuất hiện của KTQT

Một quan điểm khác, ông Ronald W Hilton cho rằng KTQT ra đời từ những năm

50 của thế kỉ XX với trọng tâm là kế toán chi phí

Theo IFAC (2002), quá trình phát triển của KTQT diễn ra theo 4 giai đoạn theo hình sau:

Trang 5

23

Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển của KTQT

Giai đoạn Trọng tâm của KTQT Các kĩ thuật

KTQT

Vị trí của KTQT trong tổ chức

Trước những

năm 1950

Chi phí: xác định chi phí và kiểm soát tài chính

Dự toán và kế toán chi phí

Hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ

Từ 1950 - 1965 Lợi nhuận: cung cấp

thông tin cho hoạch định và kiểm

soát

Phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm

Chức năng tham mưu, báo cáo cho quản lý

Từ 1965 - 1985 Cắt giảm hao phí: tiết

kiệm chi phí thông qua việc QT chi phí chiến lược

Phân tích quá trình và QT chi phí đương đại

Hoạt động nhóm

Từ 1985 - 1995 QT nguồn lực và tạo ra

giá trị: tạo ra giá trị thông quan QT nguồn lực chiến lược – sử dụng hiệu quả các nguồn lực

Phân tích các nhân tố giá trị khách hàng, giá trị

cổ đông và cải cách tổ chức

Là một phần của quá trình QT

Nguồn: IFAC (2002) – Kim Langfield, Helen Thorne, Ronald W Hilton –

Management Accounting 4e

Tuy nguồn gốc và sự phát triển của KTQT không thống nhất và còn nhiều tranh cãi nhưng điểm xuất phát từ kế toán chi phí chủ yếu về quá trình xác định giá phí sản phẩm nhằm đề các nhà quản lý ra quyết định phù hợp với từng hoạt động kinh doanh

2.1.2.2 Lịch sử phát triển KTQT tại VN

Ở nước ta, KTQT đã trải qua hơn nhiều năm hình thành và phát triển

Trước năm 1995, trong bối cảnh đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi thống nhất, KTQT chưa được định nghĩa trong thực hành kế toán, các báo cáo kế toán giai đoạn này tuy đã có hình thức và một số nội dung tương đồng với báo cáo KTQT như các báo cáo chi phí, báo cáo phân tích hoạt động kinh tế DN nhưng những báo

Trang 6

24

cáo này chưa phục vụ trực tiếp cho việc quản lý điều hành tại DN Một số nghiên cứu KTQT trong giai đoạn này chỉ mang tính định hướng chung cho tất cả các loại hình DN chứ chưa đi vào cụ thể từng ngành nghề

Từ sau những năm 1995 – thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước – KTQT đã

có sự thay đổi, phát triển vượt bậc tiêu biểu đã được chính thức ghi nhận, định nghĩa trong cơ sở pháp lý quan trọng để thực hành KTQT ở DN Đó là Luật Kế Toán VN đầu tiên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004, được thông qua tại kì họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN khóa XI vào ngày 17/6/2003 Đến tháng 01/2006, Bộ Tài Chính ban hành thông tư 53/2006/TT-BTC quy định chi tiết về nội dung, và công tác tổ chức thực hiện KTQT phù hợp với điều kiện cụ thể của các DNVN Nhiều tác giả đã nghiên cứu KTQT một cách có hệ thống hơn từ thực trạng, điều kiện để vận dụng KTQT của các DN ở VN đến xây dựng mô hình KTQT cũng như tổ chức hệ thống thông tin KTQT cho các ngành nghề cụ thể

Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hoàn thiện, phát triển trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà

QT trong việc ra quyết định

2.1.3 Vai trò của KTQT

KTQT là một bộ phận không thể thiếu trong doanh nghiệp, cung cấp những thông tin giúp nhà QT đưa ra các quyết định đúng đắn và phù hợp với các kế hoạch kinh doanh ngắn hạn hoặc dài hạn như việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định

Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: lập kế hoạch là một chức năng quan trọng để tạo nên một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai, hoặc tổng thể các chỉ tiêu kinh tế được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được các mục tiêu kỳ vọng dưới dạng hình thức dự toán Để những kế hoạch này được thực hiện tốt và mang lại hiệu quả thì phải dựa trên những thông tin đúng đắn và có cơ sở do KTQT cung cấp

Trang 7

25

Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: tổ chức công tác và điều hành là chức năng cơ bản, truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã đề ra KTQT sẽ cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau

để các nhà QT xem xét, đề ra quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã đề ra

Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: KTQT sẽ cung cấp các báo cáo để nhà

QT so sánh những số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả

sự khác biệt và đánh giá giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thực hiện nhằm cho các

tổ chức hoạt động đạt được các mục tiêu tối ưu

Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: nhà QT dựa vào nguồn thông tin linh hoạt, kịp thời từ KTQT cung cấp sẽ chọn lọc thông tin và phân tích các phương

án để đưa ra quyết định một cách tối ưu nhất đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh

2.1.4 Nội dung cơ bản KTQT

Theo tài liệu giảng dạy KTQT được Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông biên soạn năm 2007 và giáo trình KTQT Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân năm

2012 thì nội dung KTQT rất rộng, sau đây là một số nội dung cơ bản

Nếu xét theo nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp, có thể khái quát KTQT

DN bao gồm:

KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: hàng tồn kho, tài sản cố định, lao động và tiền lương…)

KTQT về chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện sản phẩm, phân loại chi phí, giá thành sản phẩm, lập dự toán chi phí, tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành, lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định…)

Trang 8

26

KTQT về doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanh thu, xác định giá bán, lập dự toán doanh thu, tính toán, hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổ chi phí chung, xác định kết quả chi tiết, lập báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo bộ phận, theo các tình huống ra quyết định…)

KTQT các khoản nợ

KTQT các hoạt động đầu tư tài chính

KTQT các hoạt động khác của DN

Trong các nội dung trên, nội dung chủ yếu của KTQT là lĩnh vực chi phí

Nếu xét theo quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý, KTQT bao gồm:

Chính thức hóa các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế

Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết

Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu

Soạn thảo báo cáo KTQT

Như vậy, thông tin của KTQT không chỉ là thông tin quá khứ mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán…) Mặt khác, thông tin KTQT không chỉ

là các thông tin về giá trị còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động…)

2.1.5 Các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng trong KTQT

Như phần trên đã trình bày, các nhà QT ra quyết định dữa trên thông tin KTQT cung cấp, vì thế các thông tin này thường không có sẵn, do đó một số phương pháp nghiệp vụ theo sau được sử dụng trong KTQT để xử lý chúng thành dạng phù hợp với nhu cầu của các nhà QT

Trang 9

27

Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được: các số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân tích và thiết kế chúng thành dạng có thể so sánh được như các thông tin

để có thể so sánh được giữa thực hiện với kế hoạch về định mức, chi phí, lợi nhuận của các phương án Quá trình quyết định của nhà quản trị phải dựa trên sự phân tích, so sánh này để đánh giá và ra các quyết định

Phân loại chi phí: việc phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí, theo công dụng của chi phí Ngoài ra, chi phí còn được phân loại theo nhiều cách khác như:

Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động: chi phí bất biến, chi phí khả biến, chi phí hỗn hợp

Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định: chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Phân loại chi phí khác cho việc ra quyết định: chi phí cơ hội, chi phí chìm, chi phí chênh lệch

Các cách phân loại chi phí nói trên không những giúp nhà QT thu thập được các thông tin chi phí thích hợp cho từng loại quyết định mà còn là căn cứ để phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận – một trong những nội dung quan trọng khi xem xét các quyết định kinh doanh

Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán theo dạng phương trình: là kiểu trình bày dựa trên các dữ kiện đã có và mối quan hệ ràng buộc giữa các biến số trong phương trình để các nhà QT tính toán và dự đoán một số quá trình chưa xảy

ra Đây cũng chính là căn cứ để tính toán lập kế hoạch và phân tích dự báo trong KTQT

Trình bày các thông tin dưới dạng đồ thị: là kiểu trình bày được sử dụng thường xuyên trong KTQT Đồ thị là cách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và

xu hướng biến thiên mang tính quy luật của các thông tin do KTQT cung cấp và xử

Trang 10

28

2.2 Các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

2.2.1 Lý thuyết đại diện

Vào đầu những năm 1970, lý thuyết đại diện là thành quả nghiên cứu của các nhà kinh tế về việc phân chia rủi ro, hạn chế mâu thuẫn giữa người ủy uyền – người chủ – và người đại diện – người được bổ nhiệm quản lý, điều hành DN do mục tiêu, quyền hạn và trách nhiệm của họ khác nhau, đặc biệt trong trường hợp thông tin không đầy đủ và bất cân xứng

Lý thuyết đại diện tập trung nghiên cứu việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người ủy quyền và người đại diện bằng cách sử dụng những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà QT và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty nhưng không ảnh hưởng đến mục tiêu tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền

Lý thuyết đại điện được nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn, từ chuẩn tắc đến thực chứng Các kết luận mà nghiên cứu thực chứng dựa trên việc điều tra khảo sát, đánh giá một số lượng lớn các DN và nghiên cứu chuẩn tắc dựa trên mô hình hóa và phân tích toán học chặt chẽ đưa ra không mâu thuẫn nhau mà còn bổ sung cho nhau Kathleen M Eisenhardt (1989), từ nghiên cứu chuẩn tắc, cho rằng mâu thuẫn về mục tiêu giữa người ủy quyền và người đại diện giảm đi đối với hợp đồng dựa trên hành vi và tăng lên đối với hợp đồng dựa trên kết quả

Nghiên cứu thực chứng của Michael C Jensen, William H Mecking (1976) về lý thuyết đại diện đã cho thấy người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện dựa trên kết quả và người ủy quyền có hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện Đồng thời chi phí càng lớn khi người đại diện sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu của công ty

Vận dụng lý thuyết đại diện vào luận văn

Ngày đăng: 30/06/2022, 12:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ở nước ta, KTQT đã trải qua hơn nhiều năm hình thành và phát triển. - Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh bình dương phần 2   luận văn thạc sĩ
n ước ta, KTQT đã trải qua hơn nhiều năm hình thành và phát triển (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w