PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người cũng đều gây ra những tác động tới môi trường xung quanh Trong những thế kỷ trước khi nguồn tài nguyên thi[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người cũng đều gây ra nhữngtác động tới môi trường xung quanh Trong những thế kỷ trước khi nguồn tàinguyên thiên nhiên trên Trái Đất còn rất phong phú và tốc độ khai thác sửdụng còn thấp nên các tác động xấu do các hoạt động của con người gây tớimôi trường chưa vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường Nhưng hiệnnay, sự gia tăng dân số trên thế giới quá nhanh cùng với sự phát triển như vũbão của khoa học kỹ thuật đã khiến cho con người ngày càng sử dụng nguồntài nguyên thiên nhiên lớn hơn nhiều lần so với các thế kỷ trước đã gây nhiềutác động tiêu cực đến môi trường đe doạ sự phát triển lâu dài và bền vững củanhân loại
Xuất phát từ thực trạng suy thoái của môi trường, đánh giá tác động môitrường đã hình thành và phát triển nhằm giúp nhân loại kiểm soát được cáchoạt động có tác động tiêu cực đến môi trường Đây được coi là một công cụquan trọng để bảo vệ và phát triển bền vững môi trường
Trong phát triển tài nguyên môi trường nước, Việt Nam đã và đang xâydựng ngày càng nhiều công trình khai thác và sử dụng tài nguyên nước, cáccông trình chống và giảm nhẹ thiên tai như: hồ Thác Bà, hồ Trị An, hồ DầuTiếng, hồ thuỷ điện Hoà Bình… Các công trình này đều có những tác độngđáng kể cả tích cực và tiêu cực tới tài nguyên và môi trường nước Công trìnhthuỷ điện Sơn La là bậc thang thứ hai trong sơ đồ khai thác năng lượng trênsông Đà và là công trình thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á với dungtích hồ chứa lên tới 9,26 tỉ m3 đang trên đường tới đích hoàn thành sẽ cónhiều tác động đến tài nguyên môi trường nước trong khu vực dự án và vùngthượng du và hạ du đập Vì vậy, việc đánh giá tác động của công trình thuỷđiện Sơn La đến tài nguyên và môi trường nước là vô cùng cần thiết Nó sẽgiúp chúng ta thấy được những lợi ích và hạn chế của việc xây dựng dự án tớimôi trường, từ đó có những quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng hồđồng thời đề xuất được những biện pháp nhằm giảm thiểu tác động xấu củacông trình tới tài nguyên và môi trường nước mặt
Trang 2Trên đây là những lý do em chọn đề tài “ Đánh giá tác động của công trình thuỷ điện Sơn La đến tài nguyên và môi trường nước mặt lưu vực sông Đà”.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài.
Trên thế giới, việc xác định thời điểm ra đời của công tác đánh giá tácđộng môi trường (Environmental Impact Assessment viết tắt là EIA) khôngphải dễ dàng Nếu như xét về tính chất công việc thì đánh giá tác động môitrường (ĐTM) có từ rất lâu Nhưng nếu xét thời gian mà công việc này đượcgọi tên thừa nhận thì còn rất mới Năm 1969 đạo luật chính sách môi trườngcủa Hoa Kỳ được ban hành, những năm sau đó các nước phát triển như Anh,Canada, Úc, Nhật Bản, Đức đều ra đạo luật quy định về vấn đề môi trường vàthuật ngữ ĐTM được ra đời Ban đầu ĐTM chỉ là những báo cáo chi tiếtmang tính mô tả dự đoán về môi trường, dần dần đã hình thành và phát triểncác phương pháp đánh giá định tính và định lượng sử dụng kiến thức của cácchuyên gia và kiến thức của nhiều ngành khoa học
Ngày nay, ĐTM trở thành một lĩnh vực của khoa học môi trường và làmột phần không thể thiếu khi xây dựng, xét duyệt và thẩm định các dự ánphát triển Các tổ chức quốc tế rất quan tâm ĐTM đặc biệt là các ngân hànglớn thường cho vay vốn đầu tư phát triển như: Ngân hàng thế giới (WB),Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)…
Trong khu vực châu Á, tại hầu hết các nước trong khu vực, các vấn đềmôi trường đã được quan tâm từ thập kỷ 70: Philippin (1977 - 1978),Malaysia (1979), Thái Lan (1981)… Ở Việt Nam ĐTM giới thiệu lần đầu tiên
1984 do chương trình Tài nguyên và Môi trường giới thiệu qua tài liệu “ Giớithiệu các phương pháp đánh giá tác động môi trường” Cho đến nay ĐTM trởthành công việc phổ biến nằm trong khung pháp luật của nhà nước phải thựchiện (quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 175/CP…) Hiệnnay, nước ta đã có đội ngũ những người làm ĐTM, trong đó có nhiều chuyêngia được đào tạo trong và ngoài nước Tuy nhiên, việc thực hiện ĐTM thực tếvẫn còn nhiều khó khăn do đây là vấn đề mới ở nước ta, các tài liệu, kinhnghiệm và nguồn kinh phí ĐTM còn hạn chế, chưa quy định rõ ràng.[14]
Trang 3Về công trình thuỷ điện Sơn La đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đãcông bố như:
Luận án Tiến sĩ “ Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học tính toán bồi lắngcát bùn hồ chứa Hoà Bình và Sơn La” của TS Nguyễn Kiên Dũng đã nghiêncứu và đề xuất phương pháp tính toán bồi lắng cát bùn phù hợp cho các hồchứa Việt Nam nói chung và hồ chứa Hoà Bình Sơn La nói riêng phục vụcông tác tính toán, dự báo bồi lắng trong quá trình quy hoạch thiết kế, xâydựng và vận hành hồ chứa
Luận án Tiến sĩ “ Nghiên cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ Sơn La khi có côngtrình thuỷ điện Sơn La trên cơ sở phân tích cảnh quan” của TS Lê Mỹ Phong
đã đánh giá đặc điểm và hiện trạng sử dụng lãnh thổ Sơn La, phân tích đánhgiá dự báo cấu trúc và chức năng cảnh quan của tỉnh Sơn La khi có công trìnhthuỷ điện Sơn La
Ngoài ra còn có rất nhiều thông báo khoa học đã được đăng tải như: “Tácđộng của công trình thuỷ điện Sơn La tới sự phát triển kinh tế - xã hội Sơn Latrong giai đoạn mới” của Nguyễn Ngọc Khánh, Lê Mỹ Phong, “Triển vọngphát triển ngành du lịch Sơn La với động lực công trình thuỷ điện Sơn La”của Lê Mỹ Phong
3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài cần xây dựng và giải quyết cácnhiệm vụ cơ bản sau:
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá tác động công trìnhthuỷ điện Sơn La đến nguồn tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Đà
- Tìm hiểu hiện trạng tài nguyên môi trường nước khu vực dự án thuỷ
Trang 4điện Sơn La.
- Đánh giá tác động của tài nguyên môi trường nước khi xây dựng nhàmáy thuỷ điện Sơn La
- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động xấu của công trìnhthuỷ điện Sơn La đến tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Đà
3.3 Giới hạn của đề tài:
- Giới hạn không gian:
Giới hạn nghiên cứu của đề tài là phần lưu vực sông Đà thuộc lãnh thổViệt Nam với diện tích tự nhiên là 26.800 km2 Ngoài ra còn xét đến phạm vitiếp giáp và vùng lân cận, đặc biệt lưu ý là phần hạ du công trình thuỷ điệnSơn La thuộc vùng ĐBSH
- Giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 1962 – 2009
- Giới hạn nội dung nghiên cứu:
+ Nghiên cứu điều kiện thuỷ văn với các yếu tố: dòng chảy cát bùn, đặcđiểm mạng lưới thuỷ văn, chất lượng nước…
+ Đánh giá các tác động của công trình thuỷ điện Sơn La đến tài nguyênmôi trường nước mặt, dòng chảy cát bùn và biến đổi chất lượng nước
4 Quan điểm nghiên cứu.
Quan điểm này cho phép xác định chính xác hơn cấu trúc không gian từ đóphân tích được các chức năng của các hợp phần, các nhân tố tạo nên địa tổngthể Trong việc nghiên cứu đánh giá tác động tài nguyên môi trường nước,quan điểm hệ thống cho thấy tác động của công trình thuỷ điện đến tổng hợpcác yếu tố thuỷ văn và môi trường: dòng chảy cát bùn, lưu lượng nước, chấtlượng nước… ngoài ra, công trình thuỷ điện Sơn La còn tác động đến nguồntài nguyên và môi trường khác trong quá trình xây dựng và vận hành
Trang 54.2 Quan điểm lãnh thổ.
Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu đều phải gắn vớimột lãnh thổ cụ thể, không chỉ vậy nó còn có mối quan hệ mật thiết với lãnhthổ xung quanh Do vậy không chỉ đặt đối tượng nghiên cứu trong lãnh thổcủa chúng mà còn phải đặt chúng trong một không gian lớn hơn mới có thể sosánh và đánh giá một cách chính xác và toàn diện nhất
Vận dụng quan điểm lãnh thổ trong việc đánh giá tác động tài nguyên môitrường nước là rất cần thiết Vì thực tế các yếu tố thuỷ văn không chỉ biến đổitheo thời gian mà còn có sự phân hoá theo không gian.Trong đề tài này, quanđiểm lãnh thổ cho phép xác định sự phân hoá không gian lãnh thổ, phân vùnglãnh thổ trong quá trình đánh giá tác động Xét trên phạm vi rộng, hồ thuỷđiện Sơn La có tác động đến tài nguyên và môi trường nước vùng thượng du(Trung Quốc và tỉnh Lai Châu) và vùng hạ du (Hoà Bình và ĐBSH) Xéttrong phạm vi hẹp thì hồ thuỷ điện Sơn La có tác động trực tiếp khu vực dự
án thuộc tỉnh Sơn La Như vậy, việc đặt đối tượng nghiên cứu trong lãnh thổcho phép việc đánh giá trở nên chính xác và khoa học hơn
4.3 Quan điểm nghiên cứu tổng hợp.
Các đối tượng địa lý có mối quan hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thốngnhất Do đó quan điểm tổng hợp đòi hỏi khi xem xét, phân tích một số đốitượng chúng ta phải đặt trong mốí quan hệ biện chứng giữa các thành phần,cấu trúc của một lãnh thổ cụ thể
Việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong việc đánh giá tác động côngtrình thuỷ điện Sơn La đến tài nguyên môi trường nước cho thấy mối quan hệmật thiết và tác động qua lại giữa nước và các thành phần khác: địa hình, đấtđai, khí hậu… Cần chú ý đến quan điểm tổng hợp nhưng cũng phải lưu ýnhân tố chủ đạo
4.4 Quan điểm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầuhiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệtương lai Phát triển bền vững đảm bảo sự hài hoà giữa các mục tăng trưởngkinh tế với mục tiêu giữ gìn và ổn định văn hoá xã hội, bảo vệ môi trường
Trang 6Vận dụng quan điểm phát triển bền vững vào đề tài cho thấy tác độngcủa công trình thuỷ điện Sơn La đối với cả ĐKTN và ĐKKT – XH nhằmgiảm thiểu tác động xấu của công trình đến tài nguyên môi trường Mặtkhác, nhờ công trình này mà đảy mạnh phát triển KT – XH tỉnh Sơn La nóiriêng và vùng Tây Bắc nói chung nhằm đạt được hiệu quả cao trong quátrình phát triển.
4.5 Quan điểm thực tiễn.
Là quan điểm đúng đắn nhất, xác nhận giá trị và khả năng thực thi củakết quả nghiên cứu Do vậy, bất kỳ một công trình khoa học nào cũng xuấtphát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm chứng Đối với đề tài này, kết quảđánh giá có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho việc quy hoạch và sửdụng công trình thuỷ điện này có hiệu quả nhằm phát triển KT – XH và bảo
vệ môi trường tỉnh Sơn La nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu.
5.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu và phân tích tổng hợp.
Thu thập và xử lý số liệu là giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu vàđánh giá Trong phạm vi đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập tài liệu, số liệucủa khu vực nghiên cứu Các số liệu về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên khuvực nghiên cứu, các số liệu thuỷ văn… Sau khi thu thập, tác giả tiến hành xử
lý số liệu dựa theo mục đích đánh giá của đề tài Các số liệu thu thập đượcđưa thành các bảng biểu, tính toán trị số trung bình Sau cùng tác giả phântích kết quả, so sánh đối chiếu và đưa ra đánh giá hợp lý nhất về các tácđộng của công trình thủy điện Sơn La trước và sau khi xây dựng
5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá.
Được áp dụng vào việc so sánh đối chiếu tác động đến tài nguyên và môitrường nước trước và sau khi có công trình thuỷ điện Sơn La Phương phápđánh giá được sử dụng triệt để trong quá trinh nghiên cứu Các bước đánhgiá được tiến hành với việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá, đánh giá tổnghợp Kết quả tìm được cho thấy tác động của công trình thuỷ điện Sơn Lađến phạm vi nghiên cứu Từ đó thấy được những tác động tích cực và tiêucực của công trình tới tài nguyên và môi trường nước mặt lưu vực sông Đà
Trang 7vẽ các biểu đồ thể hiện yếu tố thủy văn một số trạm sông Đà, biểu đồ daođộng nước hồ chứa Sơn La trung bình nhiều năm…
5.4 Phương pháp thực địa.
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn thực tế hơn và giúpphát hiện và bổ sung những thông tin đã thu thập được Đây là phương pháp manglại hiệu quả cao trong quá trình làm việc và hoàn thành đề tài của tác giả
5.5 Phương pháp biểu đồ, bản đồ.
Đây là phương pháp chủ đạo của Khoa học Địa lý Ngoài chức năng xácđịnh các đối tượng địa lý, bản đồ là cẩm nang chỉ dẫn, giới thiệu về khu vựcnghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, việc sử dụng bản đồ giúp ngườinghiên cứu xác định rõ ràng cụ thể phạm vi nghiên cứu
Ngoài các phương pháp trên, tác giả còn tham khảo ý kiến các chuyên giatrong lĩnh ĐTM, ý kiến của các thầy cô và các cán bộ chuyên trách
6 Cấu trúc khóa luận:
Khóa luận có 80 trang ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóaluận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá tác động của côngtrình thủy điện Sơn La đến tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Đà.Chương 2: Hiện trạng tài nguyên môi trường nước khu vực dự án thủyđiện Sơn La
Chương 3: Đánh giá những tác động của công trình thủy điện Sơn La đếntài nguyên môi trường nước mặt và những biện pháp giảm thiểu tác động xấucủa công trình
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN SƠN LA ĐẾN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÀ
1.1 Cơ sở khoa học.
1.1.1 Các khái niệm về tài nguyên và môi trường nước.
1.1.1.1Tài nguyên nước:
- Tài nguyên được định nghĩa là tất cả các nguồn nguyên liệu, nănglượng, thông tin có trên Trái Đất và không gian vũ trụ mà con người có thể sửdụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
- Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người, khi xã hội loài ngườicàng phát triển thì số lượng tài nguyên được con người khai thác và sử dụngngày càng nhiều Tài nguyên có thể được chia ra làm 2 loại lớn là tài nguyênthiên nhiên và tài nguyên xã hội Tài nguyên thiên nhiên thường được chiathành 2 loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo
+ Tài nguyên tái tạo (Renewable resources) như nước ngọt, đất, sinhvật… là loại tài nguyên mà sau một quá trình sử dụng sẽ trở lại được dạngban đầu Tài nguyên tái tạo có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tụckhi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lý, tàinguyên tái tạo có thể bị suy thoái và không thể tái tạo được
+ Tài nguyên không tái tạo (Unrenewable resources) là dạng tài nguyên bịbiến đổi và mất đi sau quá trình sử dụng Tài nguyên không tái tạo đượcthường giảm dần về số lượng sau quá trình khai thác và sử dụng của conngười như khoáng sản…[5]
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên quan trọng và quý giá, gắn liền với
sự phát triển của sinh thái đặc biệt là xã hội loài người Phần lớn các phản ứngtham gia trao đổi chất trong cơ thể sống đều thực hiện trong môi trường nước,không có nước thì không có sự sống Do đó có thể nói “nước trở thành ngườimang lại sự sống”, nơi nào có nước thì nơi đó sự sống mới được đảm bảo vàphát triển
Trang 9- Theo “Thuật ngữ Thuỷ văn và môi trường nuớc” thì tài nguyên nước làlượng nước trên một vùng đã cho hoặc một lưu vực biểu diễn ở dạng nước cóthể khai thác (nước mặt và nước ngầm).
- Điều 2 Luật tài nguyên nước Việt Nam quy định “Tài nguyên nước củaViệt Nam bao gồm các nguồn nước mặt hoặc nước ngầm, nước mưa, nướcbiển thuộc lãnh thổ CHXHXN Việt Nam
- Theo J.A Jonnes “ Tài nguyên nước được đánh giá bởi ba đặc trưng cơbản là: lượng, chất lượng và động thái của nó
Lượng là đặc trưng biểu thị mức độ phong phú của tài nguyên nước trênmột lãnh thổ
Chất lượng nước là các đặc trưng về hàm lượng các chất hoà tan trongnước phục vụ yêu cầu dùng nước cụ thể về mức độ lợi hại theo tiêu chuẩn sửdụng nước
Động thái của nước được đánh giá bởi sự thay đổi các đặc trưng theo thờigian và không gian
1.1.5.2 Ô nhiễm môi trường nước:
Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người
có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với hoạt động sống con ngưòinhư: không khí, đất, nước, sinh vật và xã hội loài người
Phân loại môi trường theo chức năng của môi trường là:
+ Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố như vật lý, hoá học và sinhhọc tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người
+ Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạo nên
sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộngđồng loài người
+ Môi trường nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con ngườitạo nên và chịu sự chi phối của con người
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước có hại chohoạt động sống bình thường của sinh vật và con người bởi sự có mặt của mộthay nhiều hoá chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật
Trang 10Theo hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa “Ô nhiễm nước là biếnđổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm bẩn và gây nguyhiểm cho con người, công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí,động vật nuôi và các loài hoang dã”.
“ Việc thải các chất thải hoặc nước thải vào môi trường nước sẽ gây ônhiễm về vật lý, hoá học hữu cơ, nhiệt hoặc phóng xạ Việc thải đó khôngđược gây nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng và phải tính đến khả năngđồng hoá các chất thải của nước, khả năng pha loãng, tự làm sạch Nhữnghoạt động KT – XH của các cộng đồng, những biện pháp xử lý nước đóngvai trò quan trọng trong vấn đề này”
Như vậy các khái niệm về ô nhiễm nước đã chỉ rõ đặc điểm chung cơ bảncủa hiện tượng này đó là sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi của các tínhchất lý – hoá – sinh học của nước dưới tác động của con người gây ảnh hưởngxấu đến con người và các cơ thể sống khác
Trong Luật tài nguyên nước của Việt Nam cũng đưa ra khái niệm ô nhiễmmôi trường nước là “ sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thànhphần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép”
Mức độ ô nhiễn nước ở các khu vực có sự khác nhau, phụ thuộc vàonguồn gây ô nhiễm Bên cạnh những tác nhân có nguồn gốc tự nhiên haynhân tạo gây ô nhiễm nước còn có các tác nhân thuộc các hợp kim nặng (chì,kẽm, asen…), các hợp chất hữu cơ (cacbonhydrat, các loại protein…) và cácchất dinh dưỡng… Chính vì thế, khi xem xét chất lượng nước của hệ thống
ao, hồ, sông ngòi… cần đánh giá được các chỉ số cơ bản mức độ ô nhiễmnước so với các tiêu chuẩn đã có cụ thể như các chỉ số: DO, BOD, COD, độ
PH, độ đục, màu sắc, độ cứng, hàm lượng asen, vi khuẩn E.coli, tổngColiform…Việc xét những mẫu nước theo hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu cảmquan hoá học, chỉ tiêu vi sinh (bao gồm các chỉ số như trên) sẽ cho chúng tacách nhìn nhận chính xác về chất lượng từng loại nước
Một số chỉ tiêu chính khi đánh giá chất lượng nước:
- Chất rắn lơ lửng: là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ, kích thước nhỏ
bé rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, mùn… Sự có mặt của
Trang 11chất rắn lơ lửng trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác Đểxác định tổng lượng chất rắn lơ lửng (TSS), người ta thường để lắng trongbình chứa mẫu nước, sau đó lấy ra phần chất lắng sấy khô và cân.
- Độ cứng: độ cứng của nước gây ra có muối Ca và Mg trong nước Độcứng của nước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat và bicacbonat
Ca, Mg Loại nước này khi đun sôi sẽ tạo ra kết tủa CaCO3 hoặc MgCO3 Độcứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theohàm lượng Ca hoặc Mg trong nước
- Độ pH là độ axit hay độ chua của nước Độ pH có ảnh hưởng tới điềukiện sống bình thường của các sinh vật nước Sự thay đổi pH thường liênquan tới sự có mặt của các hóa chất axit hoặc kiềm, sự phân huỷ các chất hữu
cơ, sự hoà tan của một số anion SO42-, NO3-… Độ pH của nước có thể xácđịnh bằng phương pháp điện hóa, chuẩn độ hoặc thuốc thử…
- Nồng độ oxi tự do trong nước (DO): oxy tự do trong nước cần thiết cho
sự hô hấp của các sinh vật dưới nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh, côn trùng…)thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do sự quang hợp của tảo.Nồng độ DO thấp thì các loài sinh vật dưới nước giảm hoạt động hoặc bị chết
- Nhu cầu oxy sinh hoá BOD và nhu cầu oxy hoá học COD
+ Nhu cầu oxy sinh hoá là lượng oxy cần thiết để oxy hoá một phầnhợp chất hữu cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật Để xác định BOD của mẫunước, người ta dùng chỉ số BOD5 bằng xác định hiệu nồng độ oxy hòa tancủa mẫu nước sau khi pha loãng và ủ màu pha loãng ở nhiệt độ 200C trong
Trang 12Trong đề tài, để đánh giá chất lượng nước mặt lưu vực sông Đà trước vàsau khi có công trình thủy điện Sơn La, tác giả sử dụng tiêu chuẩn đánh giáQCVN 08: 2008.
Bảng 1.1 Giá trị giới hạn một số thông số chất lượng nước mặt.
B 1 : dùng cho mục đích tưới tiêu, thuỷ lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc có mục đích sử dụng như loại B 2
B2: giao thông thuỷ và các mục đích khác với các mục đích với yêu cầu chất lượng thấp.
(Nguồn QCVN 08 - 2008).
1.1.2 Các khái niệm về đánh giá tác động môi trường.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo tiếng Anh là EnvỉonmentalImpact Assessment (EIA) là khái niệm mới ra đời trong mấy chục năm gầnđây, lần đầu tiên ở Mĩ do sự đòi hỏi của dân chúng đối với chính phủ trước tìnhtrạng giảm sút chất lượng môi trường sống của con người do việc tăng nhanhcác hoạt động phát triển khi Mĩ đang bước vào kỉ nguyên công nghiệp hoá.[14]
Có nhiều định nghĩa về ĐTM nhưng hiện nay chưa có một định nghĩachung và đầy đủ vạn năng về ĐTM Dưới đây là một số định nghĩa về ĐTM:
Trang 13- “ ĐTM hoặc phân tích tác động môi trường là sự xem xét một cách có
hệ thống các hậu quả về môi trường của các đề án, chính sách và chươngtrình với mục đích chính là cung cấp cho người ra quyết định một bản liệt
kê và tính toán tác động mà các phương án hành động khác có thể manglại” (Theo Clark, BrianD, 1980)
- “ĐTM được coi là một kĩ thuật, một quá trình thu thập thông tin vềảnh hưởng môi trường của dự án từ người chủ dự án đến các người khác
và được tính trong việc ra quyết định cho dự án tiến hành hay không?”(Theo Do E, 1989)
- “ ĐTM là quá trình thu thập thông tin về ảnh hưởng tác động của dự án
đề xuất phân tích các thông tin này và giữ kết quả tới người ra quyết định”.(Theo IchemE, 1994)
- “ĐTM của hoạt động phát triển KT – XH là xác định phân tích và dựbáo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạtđộng có thể gây ra cho TNTN và CLCS của con người tại nơi có liên quanđến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh và khắc phụccác tác động tiêu cực” (Theo Lê Thạc Cán, 1994)
- Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, ĐTM được định nghĩa như sau:
“ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường củacác dự án, quy hoạch phát triển KT – XH của các cơ sở sản xuất, kinh doanhcông trình kinh tế, khoa học kĩ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng
và các công trình khác đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường.”
- Theo tổ chức KT – XH châu Á – TBD (ESCAP) thì ĐTM gồm 3 thànhphần: xác định, dự báo và đánh giá tác động của một dự án một chính sáchđến môi trường.”
- Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đưa ra một địnhnghĩa ngắn gọn: “ĐTM là một quá trình nghiên cứu được sử dụng để dự báonhững hậu quả môi trường của một dự án phát triển quan trọng dự kiến sẽthực hiện trên thực tế.”
Có nhiều định nghĩa về ĐTM, mỗi định nghĩa tuy nhấn mạnh những khíacạnh khác nhau nhưng đều nêu lên được những điểm chung của ĐTM là đánh
Trang 14giá, dự báo các tác động môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu cáctác động xấu chủ yếu của dự án.
1.1.3 Vai trò của ĐTM.
ĐTM có vai trò vô cùng quan trọng là công cụ để quy hoạch và quản lýcác hoạt động KT – XH đồng thời nó là công cụ quan trọng để bảo vệ môitrường và phát triển bền vững
1.1.3.1 ĐTM là công cụ để quy hoạch và phát triển.
Môi trường và phát triển luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và giữachúng tồn tại một mối mâu thuẫn, đó là phát triển càng nhanh thì càng cónhiều tác động tiêu cực đến môi trường và có xu hướng làm giảm chất lượngmôi trường sống ĐTM là một quá trình phân tích một cách hệ thống, chophép đánh giá và dự báo các tác động tiêu cực của một dự án hoặc một chínhsách môi trường, đồng thời đưa ra các chương trình làm giảm nhẹ các tácđộng tiêu cực, đưa ra các chương trình giám sát, quản lý môi trường Vì thếĐTM là công cụ xây dựng các quy hoạch phát triển KT – XH theo địnhhướng phát triển bền vững
ĐTM được thực hiện để giải quyết các hạn chế trong đánh giá các chỉ tiêukinh tế kĩ thuật theo các phương pháp truyền thống không tính đến các tácđộng về mặt môi trường ĐTM có vai trò rất quan trọng trong việc quy hoạch
dự án, sử dụng hợp lý TNTN và nguồn lực con người trong phát triển kinh tế.ĐTM tạo ra mối quan hệ phối hợp giữa các ngành kinh tế, các vấn đề môitrường tự nhiên và xã hội
1.1.3.2 ĐTM là công cụ quản lý các hoạt động phát triển.
ĐTM còn được sử dụng như một công cụ để quản lý các hoạt động pháttriển nhằm đảm bảo cho các hoạt động phát triển phải kết hợp giữa KT – XH
và sinh thái Nó là cơ chế cho phép hoà hợp giữa những vấn đề về môi trường
và kinh tế, từ đó ra những quyết định thực hiện các dự án phát triển KT – XH
1.1.3.3 ĐTM là công cụ để thực hiện bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Thông qua việc ĐTM sẽ xác định được các tác động tiêu cực của dự án và
đề xuất biện pháp giảm nhẹ chúng để tiết kiệm tài nguyên, hạn chế ô nhiễm
Trang 15môi trường Do vậy, ĐTM có vai trò như một công cụ thực hiện bảo vệ môitrường.
1.1.4 Lợi ích của việc ĐTM.
Tiến hành ĐTM các dự án sẽ mang lại các lợi ích về KT – XH và môitrường
1.1.4.1 Lợi ích về kinh tế.
ĐTM sẽ tiết kiệm vốn và chi phí vận hành của dự án Chi phí của dự án sẽtăng nếu ngay từ đầu không quan tâm đến vấn đề môi trường để rồi sau đó phải
có những thay đổi sửa lại khi công trình đã xây dựng xong nhưng chưa hợp lý
về môi trường Vì vậy, việc ĐTM từ giai đoạn sớm nhất sẽ có thể hạ tới mứcthấp nhất tối đa khả năng phải dành ra những khoản tiền không nhỏ để cải thiệntình hình môi trường bị xấu đi khi thực hiện dự án
1.4.1.2 Lợi ích về môi trường.
ĐTM sẽ giúp cho các nhà kỹ thuật lựa chọn được các phương án hợp lý vàbền vững về mặt môi trường Mặt khác, ĐTM sẽ giúp cho các dự án tuân thủtốt các tiêu chuẩn quốc gia, không gây phá vỡ và làm tổn hại đến môi trường.Đồng thời nó làm đẩy nhanh quá trình xét duyệt dự án, làm giảm thời gian vàchi phí để dự án được chấp thuận
1.4.1.3 Lợi ích về xã hội
ĐTM xem xét đầy đủ các tác động của dự án tới môi trường, xã hội nên sẽgiảm thấp nhất các tác động xấu của dự án tới xã hội Kết quả đánh giá đượccông bố rộng rãi và lấy ý kiến của cộng đồng dân cư những ngưòi được hưởnglợi cũng như những người bị ảnh hưởng làm thiệt hại Vì vậy, nhờ thực hiệnĐTM mà dự án đáp ứng được tối đa yêu cầu của xã hội và dễ được sự chấpnhận và ủng hộ rộng rãi của công chúng Trong quá trình ĐTM thường xuyên
có sự trao đổi và tiếp cận cộng đồng nên sẽ giúp cho cộng đồng dân cư trongvùng dự án hiểu rõ các vấn đề môi trường, tăng cường trách nhiệm của cộngđồng dân cư trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường
1.4.1.4.Mối quan hệ giữa đánh giá tác động môi trường với phát triển kinh tế
và các công cụ quản lý môi trường khác.
Kinh tếChính sách chiến
Trang 16Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa ĐTM với các công cụ quản lý
môi trường khác.
ĐTM là công cụ quản lý môi trường, nó có quan hệ chặt chẽ với tất cảcác công cụ khác
- Chính sách, chiến lược
Chính sách chiến lược là công cụ chỉ đạo toàn bộ hoạt động phát triển
KT – XH cũng như bảo vệ môi trường Nó có mối quan hệ mật thiết haichiều với ĐTM Một mặt ĐTM các dự án cụ thể phải được thực hiện trongkhuôn khổ các chính sách chiến lược, mặt khác các chính sách chiến lược
là đối tượng của ĐTM
- Luật pháp:
Bao gồm các luật, quy định, chế định liên quan bảo vệ môi trường.Thường thì mỗi quốc gia có một luật chung, luật cơ bản về ĐTM và cácluật khác như: khoáng sản bảo vệ rừng
Công cụ luật pháp giúp ĐTM trở thành công cụ bắt buộc đồng thời nócung cấp cơ sở để tiến hành ĐTM thuận lợi hơn Do đó khi ĐTM phải thuthập, nghiên cứu các văn bản luật cũng như các quy định
- Công cụ kế hoạch hoá
Với nền kinh tế ngày càng phát triển, kế hoạch hoá là công cụ không thểthiếu được Ngay cả việc bảo vệ môi trường trên quy mô lớn cũng cần phải
Trang 17quy hoạch nhằm đảm bảo khả năng thực tế cho việc thực thi.
Quy hoạch môi trường có mối quan hệ mật thiết với các quy hoạch pháttriển kinh tế, quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch sử dụng tài nguyên ĐTM các
dự án cụ thể phải bám sát công tác kế hoạch để có những đánh giá phù hợp.Ngược lại các quy hoạch lãnh thổ lại là đối tượng của ĐTM nghĩa là phảixem xét phù hợp với việc bảo vệ môi trường Nếu bước quy hoạch đúng thì
dự án thực thi sẽ không gây tác động đáng kể tới chất lượng môi trường
- Công cụ thông tin, dữ liệu
Có tính chất quyết định đúng đắn và độ chính xác của các nhận định vềhiện trạng tài nguyên, dự báo diễn biến các yếu tố môi trường cũng như cáctác động môi trường của dự án Đây là công cụ quan trọng không thể thiếuđược trong ĐTM Ngược lại, ĐTM cũng là cơ chế cung cấp thông tin phục
vụ nhiều mục đích khác: công tác lập kế hoạch, công tác quản lý môi trường
- Kế toán môi trường
Là sự phân tích tính toán nhằm xác định một cách định lượng với độ chínhxác nhất định về sự gia tăng hoặc suy thoái môi trường, dự trữ tài nguyên trongmột khoảng thời gian nào đó do các hoạt động phát triển mang lại
Trong ĐTM, kế toán môi trường giúp ta sử dụng được các chỉ tiêu đánhgiá kinh tế mở rộng
- Quản lý tai biến môi trường
Tai biến môi trường là hiện tượng xảy ra bất thường với tần suất thấpnhưng hậu quả nặng nề Người ta phân ra tai biến thiên nhiên (động đất, núilửa ) và tai biến nhân tạo (vỡ đập, tràn dầu ) Muốn làm giảm hậu quả vàthiệt hại khi tai biến xảy ra ĐTM phải xác định các loại tai biến và đặctrưng từng loài, đánh giá tần suất xảy ra tai biến và thiệt hại của nó Đồngthời ĐTM phải đưa ra được các biện pháp khắc phục
- Giáo dục đào tạo
Môi trường sống là tài sản chung của mọi người, vì vậy ai cũng phải có ýthức, trách nhiệm bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Việc nâng cao
Trang 18kiến thức cho đông đảo nhân dân sẽ giúp họ đóng góp có hiệu quả hơn vàocông tác ĐTM Cần phải tuyên truyền, giáo dục môi trường trên các phươngtiện truyền thông, đài báo nhằm năng cao ý thức cộng đồng.
- Nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ
Việc tăng cường sản xuất, áp dụng công nghệ cao dẫn đến việc khai tháctài nguyên nhiều hơn và xả rác vào môi trường nhiều chất ô nhiễm môitrường Với chức năng đồng hoá chất thải, môi trường chỉ chứa đựng rất nhỏphần còn lại phải được xử lý dựa vào chính công nghệ
Khoa học, công nghệ rất cần thiết cho việc ĐTM vì nếu nắm vững cáckiến thức về khoa học, công nghệ sẽ có khả năng phân tích các tác động củahoạt động sản xuất tới môi trường Ví dụ: Cùng sản xuất điện nhưng tác độngcủa nhà máy thủy điện, nhiệt điện và điện nguyên tử tới môi trường là khácnhau Vì vậy, ĐTM cần phải đánh giá được công nghệ nào ít gây tác động, dễkhắc phục hơn Điều đó rất quan trọng, giúp người sản xuất thay đổi côngnghệ lạc hậu bằng công nghệ tiên tiến hơn Mặt khác ĐTM phải đề xuất cácgiải pháp phòng tránh, khắc phục xử lý tiêu cực
- Công cụ kinh tế
Là công cụ tổng hợp dựa trên các công cụ trên và chỉ ra được khả năng vềtài chính Để khắc phục những thiệt hại về môi trường cần phải có vốn đầu tưcông cụ kinh tế sẽ giải quyết vấn đề này trong ĐTM Ngược lại ĐTM giúpthực hiện các công cụ kinh tế tốt hơn, việc xác định các chỉ tiêu chính xác
1.1.5 Đánh giá các tác động môi trường của dự án xây dựng hồ chứa nước.
1.1.5.1 Hồ chứa.
Hồ chứa là biện pháp công trình để dự trữ và điều tiết nguồn nước tựnhiên của sông suối đáp ứng yêu cầu sử dụng của con ngưòi Một hồ chứa cóthể có một hoặc vài đập ngăn nước sông (đập chính và đập phụ) tạo thành khuvực chứa nước ở lòng hồ, đập tràn xả lũ và cống lấy và điều tiết nước cho yêucầu sử dụng Đập ngăn nước chính của hồ chứa nước cần có một độ cao nhấtđịnh tạo ra dung tích chứa nước của hồ
Theo mục đích sử dụng có thể phân loại hồ chứa thành hồ chứa một mụctiêu và hồ chứa lợi dụng tổng hợp
Trang 19- Hồ chứa một mục tiêu chủ yếu là hồ chứa nhỏ, được xây dựng cho mộtmục tiêu nhất định như cấp nước, phát điện… Hồ chứa cấp nước lại có thểchia thành các loại hồ chứa cấp nước cho tưới, hồ chứa cấp nước cho sinhhoạt, hồ chứa cấp nước cho vui chơi giải trí…
- Hồ chứa lợi dụng tổng hợp hay là hồ chứa đa mục tiêu là các hồ chứa vừa vàlớn, có dung tích hàng trăm triệu m3 nước Các hồ chứa này được xây dựng chonhiều mục tiêu sử dụng nước như: tưới, phát điện, phòng lũ, giao thông thuỷ…trong đó có một hay hai mục tiêu là chính còn các mục tiêu khác là kết hợp
1.1.5.2 Những vấn đề môi trường chủ yếu trong giai đoạn thực hiện dự án.
Để xây dựng một hồ chứa từ khi bắt đầu tới khi vận hành dự án bao gồmcác hoạt động: chọn vị trí xây đập; di dân trong lòng hồ và tái định cư; chuẩn
bị công trường (xây dựng lán trại công nhân, làm đường thi công, chuẩn bị bãi
đổ vật liệu…); khai thác vận chuyển vật liệu, vận chuyển máy móc, trangthiết bị; thi công xây dựng các công trình chủ yếu (đập chính, đập tràn, cáchạng mục công trình); dâng nước hình thành hồ chứa, quản lý vận hành hồ,đáp ứng mục tiêu khai thác sử dụng nguồn nước của hồ theo thiết kế
Các hoạt động hồ chứa được chia làm 4 giai đoạn, trong mỗi giai đoạn lại
có những vấn đề môi trường phát sinh khác nhau và có những biện pháp khắcphục hợp lý
- Trong giai đoạn quy hoạch và nghiên cứu tiền khả thi cần chú ý đến việcchọn vị trí xây dựng tuyến đập sao cho hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất tàinguyên môi trường và ảnh hưởng đến di dân đặc biệt là những hồ chứa nằmtrong vùng nhạy cảm môi trường
- Trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi và thiết kế công trình cần xácđịnh các thông số thiết kế chủ yếu của hồ chứa (độ cao đập, hình thức vàthông số đập tràn lũ…) sao cho hợp lý và hạn chế các tác động xấu tới môitrường Đồng thời xem xét ảnh hưởng của vấn đề đền bù, di dân tới môitrường xã hội và kế hoạch tái định cư của dự án đưa ra đã phù hợp và hạn chếtác động xấu tới môi trường hay chưa?
- Trong giai đoạn thi công cần xem xét các hoạt động thi công như tổchức khu lán trại công nhân , làm đường thi công, chuẩn bị mặt bằng, thi công
Trang 20các hạng mục công trình đã hạn chế các tác động xấu tới môi trường do hoạtđộng thi công gây ra hay chưa?
- Trong giai đoạn quản lý vận hành cần xây dựng quy trình vận hành hồhợp lý để giảm các tác động xấu tới môi trường vùng hạ lưu và chú ý theo dõigiám sát môi trường
1.1.5.3 Tác động môi trường dự án khi xây dựng hồ chứa nước.
Do có dung tích chứa nước và khả năng điều tiết dòng chảy phù hợp yêucầu sử dụng của con người nên hồ chứa là loại công trình khai thác và sửdụng nguồn nước chủ yếu và rất phổ biến hiện nay Tuy nhiên việc xây dựng
hồ chứa nước có nhiều tác động đến ĐKTN và ĐKKT – XH Dù xây dựng hồchứa với mục đích nào thì đều có một đặc điểm chung là làm ngập một diệntích đất trong lòng hồ, trong đó có thể có dân cư sinh sống, có các loài độngthực vật, khoáng sản, các di tích lịch sử văn hoá… Việc xây dựng hồ chứa sẽ
có những tác động lớn tới cả vùng thượng du và hạ du của đập Vì vậy khixem xét các tác động môi trường của dự án hồ chứa nước cần phải xem xéttrên cả những tác động tích cực và hạn chế ở cả vùng thượng và hạ du đập
- Tác động tích cực:
+ Việc xây dựng các hồ chứa mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế xã hội:lợi ích về tưới tiêu, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển ngành du lịch, dịch vụ khuvực hồ… thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Sự phát triển của các ngành kinh tếtrên đã tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân trong khu vực
dự án, đồng thời tăng cường nguồn thu ngân sách cho địa phương Mặt khác, hồchứa nước tạo điều kiện cải thiện điều kiện cấp nước, phát triển các công trìnhlợi ích công cộng như: đường sá, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí…
+ Việc xây dựng các hồ chứa nước có nhiều tác động tích cực về môitrường Trước hết, cải thiện khí hậu vùng hồ, tạo cảnh quan đẹp thu hút đầu tưphát triển du lịch vùng hồ Mặt khác, tạo ra khu chứa nước lớn, nguồn nướcđiều hoà dễ sử dụng tạo nên hệ sinh thái mới trong khu vực lòng hồ, tạo thuậnlợi trong GTVT thuỷ khu vực thượng lưu hồ và điều hoà dòng chảy cho vùng
hạ lưu: giảm dòng chảy lũ và tăng dòng chảy cạn…
Trang 21- Các tác động tiêu cực về mặt KT – XH, môi trường trong khu vựcthượng lưu đập.
+ Làm mất và suy giảm tài nguyên và chất lượng nước môi trường:
Việc xây dựng hồ chứa sẽ làm mất diện tích đất ngập (đất rừng, đất nôngnghiệp, đất ở…), làm mất khoáng sản, phá vỡ nơi trú ngụ của động vật quýhiếm… Đồng thời làm tăng cường xói mòn, sạt lở đất bên bờ hồ, ngan cảnbùn cát vận chuyển xuống hạ lưu và gây bồi lắng lòng hồ, làm giảm dung tích
hồ chứa và tuổi thọ lòng hồ Đặc biệt làm giảm chất lượng nước hồ do sựphân huỷ của các cây cối bị ngập, nước thải sinh hoạt, các chất phế thải, sựtích tụ của các chất dinh dưỡng trong hồ tạo nên hiện tượng phì dưỡng làmcho các loài tảo và thực vật thuỷ sinh phát triển quá mức làm ảnh hưởng tớichất lượng nước…
+ Làm tổn hại đời sống dân cư trong lòng hồ:
Việc xây dựng hồ chứa sẽ làm một bộ phận dân cư phải di dời đi nơikhác, đồng thời làm mất nhà cửa, các cơ sở hạ tầng (đường giao thông, côngtrình công cộng, văn hoá…) và làm mất các giá trị truyền thống văn hoá, gâykhó khăn về vấn đề định cư, ảnh hưởng an ninh trật tự
- Các tác động tiêu cực đối với vùng hạ du công trình:
+ Làm giảm sút lượng phù sa trong nước sông do phần lớn phù sa bị giữlại trong vùng lòng hồ từ đó ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp vùng hạlưu Mặt khác, khi có hồ chứa làm giảm nguồn dinh dưỡng của nước sôngvùng hạ lưu do nguồn dinh dưỡng đã bị giữ lại trong vùng hồ từ đó làm giảmsút nguồn lợi thuỷ sản ở vùng hạ lưu và cửa sông Cùng với sự biến đổi chấtlượng nước trong hồ sẽ làm suy giảm chất lượng nước sông ở hạ lưu, nhất làlấy nước sử dụng cho sinh hoạt đô thị vùng hạ lưu…
Như vậy, việc xây dựng hồ chứa nước với bất kỳ mục đích nào đều cónhững tác dộng tiêu cực và tích cực đến ĐKTN, điều kiện KT – XH và môitrường vùng thượng, hạ du đập Do vậy, phải cân nhắc thật kỹ những tác độngtiêu cực của công trình tới môi trường tránh những tổn thất nặng nề
1.1.5.4 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của dự án xây dựng hồ chứa nước.
Trang 22Trong các dự án phát triển tài nguyên nước nói chung và các dự án xâydựng đập, hồ chứa nói riêng khi thực hiện dự án khó tránh khỏi những tácđộng tiêu cực Vì thế cần phải đề xuất các biện pháp cần thiết để giảm thiểutác động này Trong dự án xây hồ chứa có thể đưa ra các biện pháp giảm thiểutác động tiêu cực chủ yếu sau:
- Giảm nhẹ vùng ngập lụt trong khu vực thượng du hồ chứa, cần xem xétchọn vị trí tuyến đập thích hợp, chọn chiều cao đập thích hợp sao cho diệntích đất canh tác ít bị ngập nhất, số dân phải di dời, số km đường giao thôngquan trọng bị ngập ít nhất mà hiệu quả công trình vẫn đảm bảo
- Tổ chức tốt di dân tái định cư sẽ đảm bảo cuộc sống cho người dân vàhạn chế ảnh hưởng tới ổn định xã hội
- Thu dọn lòng hồ trước khi hồ tích nước sẽ giảm bớt được suy giảm chấtlượng trong hồ, đảm bảo yêu cầu sử dụng nước hạ lưu
- Tổ chức tốt quá trình thi công sẽ hạn chế các tác động xấu tới môitrường do thi công gây ra
- Thực hiện tốt quá trình vận hành (xây dựng quy trình vận hành hợp lý, tốiưu ) sẽ tiết kiệm được nước và giảm thiểu các ảnh hưởng xấu vùng hạ lưu
- Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn phòng hộ tránh xói mòn đất trên lưuvực thượng lưu hồ chứa và hạn chế bồi lắng trong hồ và nâng cao tuổi thọ củacông trình
- Xây dựng các công trình chỉnh trị, bảo vệ bờ sông hạ lưu hạn chế hiệntượng xói lở hạ lưu đập và bờ sông hạ lưu
Trang 23Lưu vực sông Đà có đặc điểm địa chất phức tạp và chưa ổn định Cácthành phần kiến tạo địa chất bao gồm nhiều phức hệ từ cổ đến trẻ, phát triểntheo trật tự từ các đá phun trào bazo dưới biển đến các đá xâm nhập mafic vàkết thúc với đá trầm tích phun trào axit, các xâm nhập granit dạng batolit.Toàn bộ lưu vực phân bố rộng trên nền đá vôi tạo cấu trúc caxto phức tạp, cónhiều đứt gãy ngang do cấu trúc địa chất kém ổn định, Vùng Tây Bắc có hoạtđộng địa chấn cao nhất cả nước nằm trong vùng động đất cấp 7, cấp 8.
Đặc điểm nổi bật của địa hình lưu vực sông Đà là núi và cao nguyên cao và
bị chia cắt thẳng đứng mạnh hơn nhiều so với các vùng khác ở Việt Nam Độcao trung bình của cả lưu vực bao gồm cả phần lưu vực Trung Quốc là 1130 m,riêng phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam cao 965 m Phía Đông lưu vực sông
Đà có dãy Hoàng Liên Sơn, Pu – Luông với các đỉnh núi cao từ 2500 – 3000 m
là đường chia nước giữa lưu vực sông Thao và sông Đà Phía Tây có dãy Pu –đen – đinh (1886m), Pu - Huổi – Long (2178m), Pu – Ta –Ma (1801 m) làđường chia nước lưu vực sông Đà, sông Mã và sông Mêkông Phía cực Bắc làdãy Pu – Xi – Luông (3076 m), Ngũ Đài Sơn (3048 m), phía đông nam là vùngnúi thấp Ba Vì là đường chia nước của sông Đà và sông Đáy
Với đặc điểm địa chất, địa hình như trên sông ngòi trong lưu vực sông Đà làsông trẻ, mức độ chia cắt mạnh, thung lũng hẹp sâu có dạng hinh chữ V, độ dốclớn nhiều thác ghềnh, tốc độ xâm thực mạnh Chính nhờ các đặc điểm này màdòng sông này đầy tiềm năng thuỷ điện vào bậc nhất nước ta
1.2.1.2 Khí hậu.
Với các đặc điểm nổi bật của địa hình theo hướng TB – ĐN rõ rệt, sự sắpxếp song song của địa hình núi, cao nguyên và thung lũng sông đã có tácđộng quan trong tới khí hậu trong lưu vực
Trước hết là dãy Hoàng Liên Sơn, Pu – Luông như bức tường thành tựnhiên làm suy yếu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Các dãy núi cao phíatây thuộc biên giới Việt – Lào đã tạo nên hiệu ứng phơn đối với gió mùa TâyNam Những dãy núi và thung lũng xếp song song theo hướng TB – ĐN tạođiều kiện cho gió mùa Đông Nam có thể xâm nhập sâu vào lưu vực sông Đà
Trang 24Số giờ nắng trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 h ở vùng núicao đến hơn 2000 h ở các thung lũng trong lưu vực sông Đà.[15]
Điều kiện vị trí và địa hình như trên đã quy định chế độ khí hậu của lưuvực sông Đà là có một mùa đông lạnh và khô, mùa hè nhiều mưa ở vùng cao
và thời tiết khô nóng ở vùng thấp Mùa đông tới muộn (sau 25/XII) và kếtthúc sớm Cực đại mưa xảy ra sớm vào khoảng tháng VI, tháng VII [15]Căn cứ vào sự phân hoá khí hậu có thể chia khí hậu lưu vực sông Đàthành các vùng khí hậu sau đây:
- Vùng Tây Bắc lưu vực sông Đà địa hình núi cao có khí hậu ẩm ướt đến
ẩm với lượng mưa trên 2000 mm vào mùa nóng, nhiệt độ trung bình thángVII trên 250C, nhiệt độ trung bình tháng I từ 9 – 170C, lượng mưa trung bìnhnăm là 1500 – 2790 mm
- Vùng núi thấp và cao nguyên Sơn La, Mộc Châu mùa hè ảnh hưởng rõcủa gió mùa tây nam có khả năng hạn tới 20%, lượng mưa trung bình 1100 –
1500 mm, trong đó mùa nông lượng mưa nhỏ hơn 1000 mm
Lưu vực sông đà có độ ẩm cao và ít thay đổi, độ ẩm tuyệt đối dao đọng từphạm vi 11,4 – 31,6 mb, độ ẩm tương đối 82 – 85%
Trong lưu vực sông Đà có một số trung tâm mưa lớn: trung tâm mưa lớnphía tây Hoàng Liên Sơn (2500 mm), lượng mưa tăng theo độ cao lớn nhấtvào tháng VI và tháng VIII Trung tâm mưa lớn thượng nguồn sông Đà thuộclãnh thổ Việt Nam (2400 – 3000 mm), trung tâm này tồn tại chủ yếu trongmùa hạ (tháng 6, tháng 7)
Sự phân bố lượng mưa trong năm phụ thuộc rõ ràng vào hình thái giómùa Gió mùa Tây Nam gây ra khoảng 85% tổng lượng mưa (tháng VII,tháng VIII, tháng XI), mùa hè số ngày mưa 100 – 140 ngày, tháng 7, tháng 8đạt 18 – 22 ngày/tháng.[15]
1.2.1.3 Đặc điểm thảm thực vật rừng của lưu vực sông Đà.
Thực vật trong hệ thống lưu vực sông Đà phong phú với nhiều loại thựcvật, do sự khác biệt độ cao, khí hậu nên được phân thành các loại:
+ Độ cao trên 700 m: phát triển rừng hỗn hợp lá rộng, lá kim ẩm á nhiệtđới, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới
Trang 25+ Độ cao dưới 700 m: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, ngoài racòn có rừng trồng và cây bụi…
Năm 1993, diện tích rừng lưu vực sông Đà là 282.340 ha (10,8% diện tíchđất tự nhiên) Trong đó rừng giàu chiếm 4% diệm tích đất tự nhiên, phân bố ởcác vùng núi cao 1000 – 2000 mthuộc địa phận tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắctỉnh Hòa Bình
Rừng trung bình và rừng nghèo phân bố rải rác trong lưu vực, ½ diện tíchnằm ở chân rừng đầu nguồn, khu vực tập trung nhiều rừng bao gồm huyện ĐàBắc, Tuần Giáo, Phù Yên, thị xã Sơn La Vùng ít rừng là huyện Sín Hồ,Mường Lay, Quỳnh Nhai Diện tích rừng liên tục giảm
Bảng 1.2: Độ che phủ rừng tỉnh Sơn La qua các năm.
1.2.2 Khái quát điều kiện KT – XH khu vực nghiên cứu.
1.2.2.1 Dân cư.
Lưu vực sông Đà thuộc lãnh thổ Việt Nam nằm ở địa phận các tỉnh LaiChâu (huyện Phong Thổ, Sín Hồ, thị xã Lai Châu), Sơn La (huyện Yên Châu,Mộc Châu, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Mường La, thành phố Sơn La ), Lào Cai(Than Uyên), Yên Bái, Phú Thọ và Hoà Bình Với diện tích tự nhiên hơn40.000 km2 Dân cư thuộc lưu vực sông Đà tập trung không đông khoảng hơn1,254 triệu người (1999) mật độ dân số trung bình của lưu vực hơn 30người/km2 Vì Tây Bắc là vùng kinh tê chưa phát triển so với các vùng kháctrên cả nước Đây là địa bàn của nhiều dân tộc: Kinh, Thái, Mường, Khơ -
Mú, La Há, Xá… Cộng đồng dân tộc nơi đây luôn đoàn kết xây dựng mảnhđất Tây Bắc ngày càng phát triển
Trang 26Tổng dân số trên khu vực Sông Đà thuộc 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu là1.479.900 người (2005), mật độ dân số thấp 48 người/km2 [18]
Với dự án thuỷ điện Sơn La thấp thì số dân phải di dời là 65.983 người,diện tích ngập là 19.976 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 5.774 ha,đất thổ cư là 1.213 ha, đất lâm nghiệp là 3.337 ha, các loại khác là 9.652 ha.Quy mô dân cư chịu ảnh hưởng của công trình này là 9 huyện, 45 xã, 329bản
Dân cư sống chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng còn khó khăn, lao động chủyếu hoạt động trong lĩnh vực Nông – Lâm – Thủy Sản
Nông – Lâm - Thuỷ Sản là ngành kinh tế chính ở đây, có vai trò vô cùngquan trọng đối với sự phát triển kinh tế Đặc biệt với ngành kinh tế này thìviệc cung cấp nước ổn định trong quá trình sản xuất đồng thời là mục đíchnuôi trồng thuỷ sản là cần thiết Vì vậy, việc xây dựng công trình thuỷ điệnSơn La với dung tích hồ chứa 9,26 tỷ m3 đảm bảo được mục đích trên Mặtkhác, có thể tạo đà phát triển du lịch vùng hồ tăng cường thu hút vốn đầu tưcủa nhà nước và địa phương góp phần thúc đẩy phát triển KT – XH
Tuy nhiên, với dung tích hồ chứa lớn 9,26 tỷ m3 công trình thủy điện Sơn
La sẽ có nhiều tác động lớn về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội Cụ thể việcxây đập ngăn nước tạo hồ sẽ tác động mạnh đến nguồn tài nguyên và môitrường nước, đồng thời làm mất một diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệplớn Mặt khác, làm biến đổi khí hậu lòng hồ Về mặt KT – XH công trình thủyđiện Sơn La sẽ làm cho một lượng lớn dân cư phải di dời, mất đi cơ sở vật
Trang 27chất (đường sá, các công trình công cộng…) cùng với đó các công trình vănhóa, di tích lịch sử phong tục tập quán của người dân có thể bị thay đổi, cácvấn đề xã hội tại nơi tái định cư.
Có thể thấy tác động của công trình thủy điện Sơn La là rất lớn nhưng vớiđộng lực phát triển của công trình thuỷ điện Sơn La bao gồm cả công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ thì chúng ta có thể hi vọng vào tương lai tươi sángcủa người dân vùng núi Tây Bắc trong những năm tới đây
Tiểu kết:
Như vậy ĐTM có vai trò quan trọng trong quy hoạch quản lý các hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường với các chức năng đánhgiá, dự báo các tác động môi trường từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểutác động tiêu cực của dự án
Đánh giá các tác động của công trình đập, hồ chứa tới tài nguyên môitrường nước cần phải chú ý tới các vùng thượng du và hạ du đập
Dựa vào những đặc điểm của khu vực nghiên cứu, cần đánh giá các tácđộng của công trình thuỷ điện Sơn La đến môi trường nước mặt trong mốiquan hệ với các thành phần tự nhiên khác (địa chất, địa hình, sinh vật, khíhậu ) và các yếu tố KT – XH
Trang 28Chương 2 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NƯỚC
KHU VỰC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA
2.1 Khái quát về công trình thuỷ điện Sơn La.
2.1.1 Mục tiêu xây dựng thuỷ điện Sơn La.
Sông Đà là phụ lưu của hệ thống sông Hồng Trên lãnh thổ Việt Namchiều dài của sông Đà khoảng 570 km từ Mường Tè (Lai Châu) đến Việt Trì(Phú Thọ) với độ chênh lệch cao khoảng 300 m, uốn khúc quanh co, núi nontrùng điệp Sông Đà và các phụ lưu của nó chứa đựng nhiều tiềm năng thuỷđiện to lớn và việc xây dựng các bậc thang thuỷ điện trên dòng sông nàynhằm khai thác tối đa tiềm năng đó
Công trình thuỷ điện Sơn La là bậc thang thứ hai trong sơ đồ khai thácnăng lượng trên dòng sông Đà Trước đó, chúng ta đã xây dựng và đi vàovân hành thành công 8 tổ máy của thủy điện Hoà Bình với sự giúp đỡ củaLiên Xô Dự án này được xem xét từ những năm 1960 trong các nghiên cứutổng hợp nguồn nước sông Đà Năm 1978, báo cáo tổng quan khai thác sông
Đà được nhà nước phê duyệt với nội dung sẽ xây hai đập thuỷ điện Đậpthuỷ điện Hoà Bình chúng ta xây dựng trước với mực nước dâng 115 m vàđập Tạ Bú tỉnh Sơn La Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), trước đây
là Bộ Năng lượng được giao làm chủ đầu tư dự án thuỷ điện Sơn La
Dự án thuỷ điện Sơn La đã được trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 9, Quốchội khoá X Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XI đã quyết định đầu tư xâydựng dự án thuỷ điện Sơn La với tuyến trình được chọn là Pa Vinh xã Ít Onghuyện Mường La tỉnh Sơn La Vị trí công trình được chọn dựa trên khảo sátcủa Công ty thiết kế điện I với một loạt tuyến năng lượng, trong đó Pa Vinh
là tuyến tối ưu hơn cả Đồng thời trong kỳ họp này Chính Phủ đã đưa ra vấn
đề cốt lõi nhất trong dự án là quyết định quy mô xây dựng thuỷ điện Sơn La
để có thể chính thức khởi công vào cuối năm 2005
Trang 29Việc quyết định bậc thang thuỷ điện Sơn La trên sông Đà xuất phát từnhu cầu điện năng của nước ta đặc biệt trong công cuộc xây dựng quá trìnhCNH – HĐH Là công trình trọng điểm Quốc gia, thuỷ điện Sơn La có vị trívai trò quan trọng cần thiết đối với sự phát triển KT – XH đất nước.
Theo quyết định 44/2001/QH10 về chủ trương xây dựng nhà máy thuỷđiện Sơn La Quốc hội đã đề ra 3 mục tiêu chính của công trình này:
- Cung cấp nguồn điện năng để phát triển KT – XH, phục vụ sự nghiệpCNH – HĐH đất nước
- Nâng cao tầng suất chống lũ cho sông Đà (125 – 500 năm) và cung cấpnước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho 20 triệu người và hàng trăm halúa cho ĐBSH
- Xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho nhân dân 3 tỉnh Sơn La, LaiChâu, Hoà Bình và vùng Tây Bắc.[22]
2.1.2 Lựa chọn phương án xây dựng thuỷ điện Sơn La.
Để tiến hành các mục tiêu cơ bản nêu trên, việc lựa chọn ra phương ánđược xem là hiệu quả nhất là một vấn đề quan trọng Công ty khảo sát thiết kếđiện I đã xây dựng các phương án tổ hợp công trình bậc thang thuỷ điện trêndòng chính và các phụ lưu sông Đà Từ năm 1978 – 1996, hàng loạt cácphương án được đưa ra, mỗi kỳ lại nổi lên như là phương án ưu tiên
Năm 1978: sơ đồ Hoà Bình -115 m + Tạ Bú -260 m (Phương án do BộThuỷ lợi và viện Thuỷ công Liên Xô kiến nghị)
Năm 1987: Sơ đồ Hoà Bình -115 m + Sơn La -265 m (Viện Năng lượng,
Bộ Năng lượng kiến nghị.)
Năm 1989: Sơ đồ Hoà Bình -115 m + Sơn La 180 – 240 m + Lai Châu-295m (Luận Chứng kinh tế - Kĩ thuật thuỷ điện Sơn La do Công ty khảo sátthiết kế I kiến nghị)
Tháng 8/1996: Hai phương án Sơn La cao và Sơn La thấp
- Phương án Sơn La cao: Hoà Bình 115m + Sơn La 265 m + Huội Quảng480m + {Nậm Pô, Nậm Chiến, Nậm Mức}
- Phương án Sơn La thấp: Hoà Bình 115 m + Sơn La 215 m +Pa Háng
295 m + Huội Quảng 480 m + {Nậm Pô, Nậm Chiến, Nậm Mức}
Trang 30Đây là 2 phương án tổ hợp về công trình bậc thang thuỷ điện được lựachọn Theo đây các công trình thuỷ điện trên dòng chính sông Đà là:
- Thuỷ điện Hoà Bình: Mực nước dâng bình thưòng (MNDBT) 115 m
- Thuỷ điện Sơn La, phương án Pa Vinh MNDBT 180 – 270 m
- Thuỷ điện Lai Châu (Pa Háng) MNDBT 295 m
Các công trình trên các sông nhánh quan trọng nhất:
+ Thuỷ điện Huội Quảng trên sông Nậm Mu 480 m
+ Thuỷ điện Nậm Chiến trên sông Nậm Chiến 960 m
+ Thuỷ điện Nậm Pô 390 m
+ Thuỷ điện Nậm Mức 365 m
Hai phương án đều có mặt mạnh và mặt yếu Khi so sánh các phương ánbậc thang, chúng ta đã xem xét một cách toàn diện hiệu ích cả các mặt: phátdiện, phòng lũ, cấp nước hạ du của tất cả các hồ chứa và nhà may thuỷ điệntrong hệ thống Và lựa chọn phương án nào sẽ đồng thời quyết định quy môcủa dự án thuỷ điện Sơn La
- Về khả năng cấp điện:
Theo PGS – TS Tô Bá Trọng (Liên hiệp hội KHKT Việt Nam) ưu điểmđầu tiên của phương án Sơn La Cao là sản lượng điện trung bình hàng nămcao hơn Theo phương án Sơn La cao thì khả năng cấp điện hàng năm là14,16 + 2,4 tỷ KWh, trong khi phương án Sơn La thấp chỉ 8,46 + 1 tỷ KWh.Theo lý thuyết sơ đồ có Sơn La cao MND 265 m hơn Sơn La thấp + thuỷ điệnLai Châu là:
+ Chênh lệch điện năng là 3 tỷ KWh
+ Chênh lêch công suất đảm bảo 738 KWh
Về thực tế thì thuỷ điện Lai Châu gần như không quá hiệu quả vì dungtích hồ quá nhỏ, giá thành đắt, các chỉ tiêu KHKT đều thấp so với giới hạncho phép, do đó chênh lệch giữa Sơn La cao và Sơn La thấp là rất lớn
Tuy nhiên, phương án Sơn La thấp còn để ngỏ các khả năng xây dựngcác nhà máy thuỷ điện trên dòng chính ở Lai Châu và các phụ lưu của nó sẽđóng vai trò là nguồn năng lượng bổ sung về điện năng chênh lệch so vớiSơn La cao
Trang 31- Về mặt cấp nước cho hạ du:
Phương án Sơn La cao có dung tích hữu ích 16 tỷ m3, trong khi đó Sơn Lathấp là 9,5 tỷ m3, thuỷ điện Lai Châu chỉ có 0,9 tỷ m3 Khả năng cấp nước mùakiệt cho ĐBSH theo yêu cầu 10 tỷ m3 (2010) và lên tới 15 tỷ m3 (2020) củaSơn La cao tốt hơn so với tổ hợp Sơn La thấp và Lai Châu
- Về phòng lũ:
Do dung tích hồ chứa của Sơn La cao nhiều hơn so với tổ hợp Sơn La thấp
và Lai Châu nên không chỉ có khả năng lưu chứa và điều tiết một khối lượngnước rất lớn cung cấp cho vùng hạ du Mặt khác còn đảm nhận vai trò phòngchống lũ cho vùng ĐBSH, đảm bảo mực nước Hà Nội luôn nhỏ hơn 11,5 m
- Về mặt an toàn cho các công trình vùng hạ du:
Lưu vực sông Đà nằm trong vùng có lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp,hiện nay các quá trình địa chất vẫn còn diễn ra khá là phức tạp Do vậy việcxây dựng và đảm bảo an toàn cho công trình đồ sộ trong điều kiện địa chất đótheo phương án Sơn La cao là phức tạp, nguy hiểm và tốn kém Mặt khác vớiphương án Sơn La cao, ngay trên thượng lưu xuất hiện một túi nước khổng lồ
là nguy cơ gây ra các chấn động địa chấn đặc biệt là nguy cơ động đất Ngượclại việc phân tán lượng nước hàng chục tỷ m3 vào 2 hồ chứa Sơn La thấp vàLai Châu sẽ giảm tác động địa chấn lớn và đảm bảo khả năng an toàn cao hơncho các công trình hạ du và thủ đô Hà Nội
Ngoài ra về mặt an ninh quốc phòng, đây là tỉnh giáp biên giới các nướcláng giềng núi non hiểm trở, địa hình phức tạp Do vậy việc lựa chọn phương
án cần đáp ứng các yêu cầu này Đối với Sơn La cao dung tích hồ chứa lên tới
16 tỷ m3 mực nước sẽ dâng lên biên giới phía Bắc làm ngập nhiều hang động,thị xã Lai Châu chia thành 3 vùng biệt lập, do đó an ninh quốc phòng khôngđược đảm bảo đồng thời gây ra sự chia rẽ cộng đồng và tính cố kết giữa cácdân tộc anh em
- Về mặt ngập lụt lòng hồ và tái định cư
Việc hình thành hồ chứa Sơn La sẽ làm ngập một diện tích đất đai và diệntích đất ngập theo 2 phương án có sự khác biệt tương đối Ở phương án Sơn Lacao diện tích ngập lòng hồ lớn hơn Sơn La thấp 15.917 ha, do vậy Sơn La thấp
Trang 32phần nào hạn chế vùng ngập giảm bớt tác động tới tài nguyên và môi trườnghơn so với Sơn La cao.
Bảng 2.1: Diện tích đất vùng ngập theo hai phương án.
Đơn v : haịLoại đất Phương án Sơn La cao Phương án Sơn La thấp
(Nguồn Công ty khảo sát thiết kế điện I).
Quỹ đất canh tác của 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu tập trung ở những vùngthấp ven sông, suối tạo thành những cánh đồng nhỏ Do đó, tổn thất đối vớivùng đất màu mỡ ở cả hai phương án là rất lớn trong đó đặc biệt là đất lúamột vụ và 2 vụ
Liên quan đến việc ngập vùng hồ, chúng ta phải di chuyển một lượng lớncác hộ dân với phạm vi di chuyển rộng Sự chênh lệch giữa phương án Sơn
La cao và Sơn La thấp là 4.386 hộ và 26.500 khẩu Sự chênh lệch này chủ yếu
ở tỉnh Lai Châu Phần lớn các hộ dân đều phải di chuyển tới vùng tái đinh cưđược dự kiến từ trước trên địa bàn cả 3 tỉnh
Như vậy, với quá trình xem xét các mặt một cách toàn diện, phương ánSơn La thấp không hiệu ích khai thác năng lượng, khả năng điều tiết nướcnhư Sơn La cao Tuy nhiên, xét về yêu cầu đảm bảo sự phát triển ổn định củavùng Tây Bắc và của cả nước, đảm bảo an ninh quốc phòng thì Sơn La thấp
có những ưu thế hơn cả Đặc biệt, hạn chế số dân phải di dời đảm bảo an toàncho đập Hòa Bình, đúng 3 mục tiêu và 5 yêu cầu đặt ra
Ngày 16/12/2002 Quốc hội đã thông qua nghị quyết về phương án xâydựng thuỷ điện Sơn La Để đảm bảo tính an toàn tuyệt đối của công trình,chính phủ đã quyết định xây dựng thuỷ điện Sơn La với mực nước dâng 205 –
215 m, không vượt quá 215m
Ngày 2/12/2005 Dự án thuỷ điện Sơn La đã chính thức được khởi côngtrên dòng chính sông Đà tại xã Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La
Trang 33Mực nước gia cường: 217 m
Công suất lắp máy: 2400 MW (gồm 6 tổ)
Điện lượng bình quân hàng năm: 9.459 tỉ kwh
Tổng vốn đầu tư: 42.476,9 tỉ
Vốn đầu tư bình quân: 36.786,97 tỉ (7500 tỉ dành cho công tác tái định cưtrong phạm vi thuỷ điện Sơn La)
Hiện nay, công trình thuỷ điện Sơn La đang tiến dần tới đích hoàn thành,
tổ máy số một đã chính thức phát điện vào ngày 17/12/2010 và chính thứcnghiệm thu đưa tổ máy số một vào vận hành ngày 25/12/2010 Ngày12/04/2011 đã chạy không tải thành công tổ máy số 2 và ngày 21/04/2011 tổmáy số 2 với công suất 400 MW của nhà máy thủy điện Sơn La đã hòa thànhcông vào lưới điện Quốc gia
2.2 Tài nguyên nước lưu vực sông Đà.
2.2.1 Đặc điểm mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Đà.
là 1010m Trong đó diện tích lưu vực sông Đà ở nước ta là 26.800 km2, dài 570
km, chiếm 16,9 % lưu vực miền Bắc gấp 2 lần lưu vực sông Thao
Trang 34Lưu vực sông Đà có dạng hình thuôn dài theo hướng TB – ĐN chạy theothung lũng sâu của các dãy núi Ai Lao Sơn tiếp đến dãy Hoàng Liên Sơn, bêntrái là dãy Vô Lương tiếp đến là dãy Pu – Đen – Đinh và các cao nguyên đá vôi
đã tạo nên hướng chảy nhất quán của sông Đà là hướng TB – ĐN Địa hình trênlưu vực sông Đà chủ yếu là núi và cao nguyên, các dãy núi ăn sát bờ sông khiếnthung lũng sông có dạng hẻm vực, sông đào lòng mạnh
Bảng 2.2: Những sông chủ yếu của lưu vực sông Đà.
Độcaonguồ
n (m)
CDsông(km)
Diệntíchlưuvực(km2)
Đặc trưng trung bình lưu vực
Độdốc(‰)
Chiềurộng(km)
Mật độlưới sông(km/km2)
Hệsốuốnkhúc
(Nguồn Tổng cục khí tượng Thuỷ Văn và Môi trường.)
Sông ngòi trong lưu vực sông Đà dày đặc và có thung lũng sâu, độ caonguồn lớn từ 600 – 2000 m, tổng lượng nước và lưu lượng nước lớn hệ số uốnkhúc cao từ 1,3 – 1,7, độ dốc lớn từ 30 – 55 ‰ Do có sự khác nhau về địahình, địa chất, mưa và lớp phủ thực vật nên mật độ sông suối trong lưu vựckhông đồng nhất và có sự phân hoá khá phức tạp Vùng núi đá phún xuất có độcao lớn phân bố bờ trái phía tây Hoàng Liên Sơn và Pu – Luông có mưa nhiềumật độ sông suối dày đặc (1,5 – 1,7 km/km2) Vùng núi thấp có mưa ít hơn vùngtrên, đá chủ yếu là sa diệp thạch, khí hậu khô nóng mật độ sông suối thuộc loạidày (0,5 – 1,5 km/km2) phân bố ở các vùng Tà Phình và Sín Chải bờ trái sông
Trang 35Đà phía đông nam sông Nậm Pô và Nậm Mức Vùng cao nguyên đá vôi mưa ít,mật độ sông suối từ thưa đến tương đối dày (0,5 – 1,0 km/km2) Vùng thượnglưu sông Nậm Bú mật độ sông suối thưa nhất (< 0,5 km/km2), đây là vùng mưa
ít nhiều đá vôi nên hạn chế sự phát triển của dòng chảy mặt [15]
2.2.1.2 Lưu vực hồ chứa Sơn La.
Hồ chứa Sơn La là bậc thang thứ hai trong sơ đồ khai thác dòng chínhSông Đà, có vị trí đập thuộc thượng nguồn sông Đà nằm hoàn toàn trongvùng núi và cao nguyên, có tới 72% diện tích trên 500 m nên độ cao trungbình của lưu vực lớn 1100 m (tính cả phần diện tích lưu vực ở Trung Quốc),
độ dốc địa hình từ 35 – 380.[15] Thung lũng sông dạng hẻm vực, lòng sôngsâu, hẹp, trên sông có 23 thác ghềnh các dãy núi ăn sát bờ sông nên các phụlưu đều có hưóng đổ thẳng góc vào dòng chính, đây chính là nguyên nhântăng tính ác liệt của dòng chảy lũ trên sông Nền nham thạch chủ yếu là sadiệp thạch nên mạng lưới sông suối trong khu vực hồ thuỷ điện kém phát triểnhơn so với các khu vực khác trung bình đạt 0,5 km/km2
2.2.2 Tài nguyên nước lưu vực hồ chứa Sơn La.
Tài liệu thuỷ văn.
Việc quan trắc thuỷ văn trên sông Đà được bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, tạithị xã Hoà Bình từ năm 1902, tại Thác Bờ năm 1912 và tại thị trấn Vạn Yên từnăm 1916 Đến trước năm 1945, trên lưu vực sông Đà được đặt thêm 11 trạmquan trắc mực nước trên đoạn sông từ Vạn Yên đến Thác Bờ Do chiến tranh(1945 - 1955) hầu hết các trạm thuỷ văn trên lưu vực sông Đà đều ngừng hoạtđộng Sau hoà bình lập lại, Nhà nước ta rất quan tâm đến điều tra các nguồn tàinguyên thiên nhiên và mạng lưới quan trắc thuỷ văn trên lưu vực sông Đà nóiriêng, toàn miền Bắc nói chung đi vào hoạt động đồng bộ, quan trắc có hệthống Cho đến nay trên lưu vực sông Đà đã xây dựng được 27 trạm quan trắctrên sông Tuy nhiên theo quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thuỷvăn của Tổng cục Khí tượng thuỷ văn và cùng với việc hồ chứa Hoà Bình đivào vận hành nên mạng lưới quan trắc thuỷ văn trên lưu vực sông Đà giảm.Nay trên lưu vực sông Đà có 12 trạm quan trắc đang hoạt động
2.2.2.1 Tiềm năng nước lưu vực hồ chứa Sơn La.
Trang 36Địa hình núi đa dạng từ vùng núi cao thuận lợi đón gió nhiều chiều đếncác cao nguyên khuất gió nên lượng mưa mang đến lưu vực sông Đà daođộng từ 1440 mm (trạm Sơn La) đến 2768 mm (trạm Sín Hồ) Lượng mưa có
xu hướng tăng theo độ cao địa hình, vùng thung lũng khuất gió mưa đạt 1500
mm tăng dần tới các vùng cao lên tới 3000 mm Trung bình hàng năm trêntoàn lưu vực tuyến đập Sơn La tiếp nhận lớp mưa là 1813 mm Lượng bốc hơiPiche quan trắc được dao động từ 650 – 950 mm so với thực tế lượng bốc hơitrên sông Đà là 709 mm, lượng bốc hơi khả năng lớn hơn nhiều Lượng nướcmưa lớn nhưng chênh lệch giữa bốc hơi thực tế và bốc hơi khả năng cũng lớnthể hiện trong khu vực nghiên cứu có mùa khô rất sâu sắc, độ ẩm thấp
2.2.2.2 Chế độ dòng chảy trên lưu vực sông Đà.
- Biến động dòng chảy nhiều năm.
Hàng năm lượng dòng chảy đổ vào lưu vực hồ chứa Sơn La là 48,3 tỷ m3tương ứng với modul dòng chảy là 35 l/s.km2 So với các sông suối khác trêncùng lãnh thổ thì lưu vực này có nguồn nước dồi dào Dưới tác động của điềukiện địa hình, phần lưu vực bờ trái sông Đà dãy Hoàng Liên Sơn có lượngdòng chảy lớn, modul dòng chảy đạt 40 l/s.km2 , bờ phải sông Đà có địa hìnhthấp hơn diện tích núi đá vôi lớn nên dòng chay khu vực này thấp nhất là vùngcao nguyên Mộc Châu – Sơn La, modul trung bình chỉ đạt 10 – 20 l/s.km2
Từ hình 2.1, ta thấy lớp dòng chảy bình quân nhiều năm của một số trạmtrên lưu vực sông Đà cao, cao nhất là trạm Nậm Mu với 1736 mm/năm, thấpnhất là trạm Thác Vai với 618mm/năm Qua đó, thấy được sự biến động củalớp dòng chảy trong lưu vực
Trang 37- Biến động dòng chảy trong năm.
Chịu ảnh hưởng của hoàn lưu ổn định, lượng dòng chảy trên lưu vực hồchứa khá ổn định nhưng trong từng năm lượng dòng chảy có sự phân mùa rõrệt phù hợp chế độ gió mùa trên lưu vực
Lưu lượng nước sông Đà thuộc loại lớn tai trạm Lai Châu từ năm 1986 – 2000,lưu lượng nước trung bình năm là 1113 m3/s, tại Hòa Bình là 1720 m3/s Trong đólưu lượng nước trung bình tháng cao nhất là vào tháng 7 và tháng 8, tại trạm HòaBình là 5.229 m3/s (tháng 7), tại trạm Lai Châu là 2.900 (tháng 7, tháng 8)
+ Mùa lũ.
Mùa lũ trên lưu vực sông Đà kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 trùng với thời
kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam Lưu lượng nước mùa lũ chiếm 70 – 77%
Trang 38lượng nước cả năm.Trong đó 3 tháng có lưu lượng nước lớn nhất (tháng VII,tháng VIII, tháng IX) chiếm 53 - 57% lưu lượng nước cả năm
Tại trạm Lai Châu thời kỳ 1986 – 2000 lưu lượng nước mùa lũ (tháng VIđến tháng X) chiếm 77,46 % lưu lượng nước cả năm, trong đó ba tháng VII,VIII, IX chiếm 57,4% lưu lượng nước cả năm
Hình 2.2: Biến trình năm của lưu lượng nước trạm Lai Châu (1986 – 2000).
Trạm Hòa Bình thời kỳ 1959 – 1985 lưu lượng nước mùa lũ chiếm 78,25%,thời kỳ 1986 – 2000 lượng nước mùa lũ chiếm 78,25% lượng nước cả năm.Trong đó ba tháng VII, VIII, IX chiếm 58,1% lượng nước cả năm Trạm HòaBình thời kỳ 1986 – 2000 lượng nước mùa lũ chiếm 65,25% lượng nước cả năm,trong đó ba tháng 7, 8, 9 chiếm 53,51% lượng nước cả năm
Mùa cạn Mùa lũ
Trang 39Hình 2.3 Biến trình năm của lưu lượng nước trạm Hòa Bình (1959 - 1985)
Hình 2.4 Biến trình năm của lưu lượng nước trạm Hòa Bình (1986 - 2000)
Đặc điểm lũ trên lưu vực sông Đà cũng khác nhau, lũ tháng V, tháng VIthường mang tính chất lũ núi, mực nước biến đổi mạnh Vào các tháng VII,VIII lũ lớn xuất hiện liên tiếp tạo thành nhiều đỉnh lũ Trung bình các thángnày thường xuất hiện 2 – 6 đỉnh lũ Do ảnh hưởng của áp thấp Miến – Ấn vàtrong các tháng này thưòng xuất hiện bão gây mưa trên diện rộng Đỉnh lũ caonhất hàng năm thường xuất hiện vào tháng VII, tháng VIII Thời gian lũ lên từ2- 6 ngày, lũ xuống chậm hơn lũ lên 2 – 3 lần
Trong giai đoạn 1962 – 2009, mực nước lũ lịch sử tại Quỳnh Nhai là15,074 m, trung bình mực nước lũ dâng là từ 5 - 10 m
Trang 40Bảng 2.4: Mực nước lũ theo từng giai đoạn trên hệ thống sông Đà
tại một số trạm.
Đơn v : m.ị
lịch sửLớn nhất Trung bình
(Số liệu thống kê Đài Khí tượng Thuỷ Văn Tây Bắc)
Độ dốc địa hình lớn, mưa với cường độ lớn trên bề mặt có thảm rừng bịphá hoại mạnh mẽ, thung lũng song bị thắt hẹp thuận lợi cho dòng chảy lũ tậptrung nhanh trên sông nên đặc điểm lũ sông Đà là lũ lớn, đỉnh lũ cao với biên
độ lũ cao nhất là 27,8 m và cường suất lũ 77,4 cm/h thuộc vào loại lơn nhất sovới các sông lớn nước ta [15]
+ Mùa cạn.
Do các dãy núi chạy song song thuận lợi cho gió mùa Tây Nam đi sâu vàothung lũng nhưng lại là nguyên nhân ngăn cản sự ảnh hưởng của các hoàn lưuĐông Bắc Lưọng mưa mùa khô trên lưu vực sông Đà chỉ chiếm 13,8% lượngmưa cả năm và liên tục từ tháng XII đến tháng III lượng mưa chỉ đạt 50mm/tháng Tổng lưu lượng dòng chảy 7 tháng mùa cạn (tháng I đến tháng V vàtháng XI, XII) chỉ chiếm 32 – 35 % lưu lượng nước cả năm Tháng III có dòngchảy nhỏ nhất chiếm 2% lượng dòng chảy cả năm
Tại trạm Lai Châu (1986 – 2000), tổng lưu lượng dòng chảy mùa cạnchiếm 22,54% lưu lượng nước cả năm Trong đó tháng III chỉ chiếm 1,8% lưulượng nước cả năm