Biện pháp giảm thiểu tác động xấu của công trình

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 73 - 77)

KHU VỰC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

Chương 3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TRÌNH

3.5. Biện pháp giảm thiểu tác động xấu của công trình

Như vậy trong quá trình xây dựng đến quá trình vận hành hồ chứa đều có những tác động tiêu cực tới công trình. Để giảm thiểu nhưng tác động rủi ro của công trình tới tài nguyên môi trường nước cần có những biện pháp cụ thể trong từng giai đoạn.

3.5.1 Trong quá trình xây dựng công trình.

- Trong thời kỳ tích nước, dòng chảy trên sông Đà bị chặn hoàn toàn bởi công trình Sơn La, nước đến hồ Hoà Bình chỉ còn lại ở lưu vực khu giữa (5.900 km2) chiếm 10% dòng đến hồ tự nhiên, giảm rất đáng kể ảnh hưởng đến lượng nước hoạt động của hồ Hòa Bình. Vì vậy cần chọn thời điểm chặn dòng hoàn toàn khi mực nước hồ Hoà Bình ở mức nước trước lũ 90 m.

- Cần giảm lượng cát bùn đưa xuống sông và lòng hồ do quá trình khai thác nguyên vật liệu (mỏ đá) cần đào hào xung quanh mỏ để cô lập nước mưa trong phạm vi mỏ. Lượng nước này trước khi đưa vào sông sẽ được xử lý bằng biện pháp bãi thải.

- Về nước thải sinh hoạt:

Do tập trung công nhân trong giai đoạn thi công nên lượng nước thải sinh hoạt lớn (khoảng 7.000 m3/ngày đêm). Nước thả sinh hoạt là nguồn nước chứa nhiều vi khuẩn Ecoli, cần được xử lý bằng cách xây dựng khu vệ sinh tự hoại ở các khu lán trại và công trường sau đó phải được xử lý trước khi đổ ra sông suối.

- Chất thải công nghiêp, xây dựng:

Bao gồm: dầu nhớt, nước thải từ các trạm bê tông, cốt thép có lẫn xi măng và cát và có tính kiềm cao… Cần có các biện pháp làm hạn chế tràn dầu, nước thải trong quá trình xây dựng phải qua xử lý lắng đọng chất rắn trước khi đổ ra sông suối.

+ Nghiêm cấm việc để dòng chảy ô nhiễm dầu mỡ xuống trực tiếp sông, hồ bắt buộc phải được xử lý trước khi thải ra hệ thống nước tự nhiên.

+ Các trạm bê tông phải được xây dựng trên nền vững chắc, tránh thấm xuống tầng nước ngầm, nước từ khu trộn bê tong phải được để lắng trước khi đổ vào sông suối.

+ Cần có những biện pháp tuyên truyền nâng cao ý thức công nhân, người dân trong khu vực dự án.

3.5.2 Trong quá trình vận hành công trình.

3.5.2.1 Các vấn đề điều tiết dòng chảy.

Trong thời kỳ đầu tích nước lượng nước sông sẽ giảm và chất lượng nước sông bị ảnh hưởng bởi vật liệu xây dựng. Vì vậy việc điều tiết dòng chảy phải tuân thủ đúng quy trình điều phối và thông tin đúng kịp thời cho dân cư vùng hạ du. Thực tế cho thấy trong giai đoạn thi công công trình đặc biệt là khi ngăn đập, chặn dòng tích nước hồ chứa đã làm ảnh hưởng lớn đến điều tiết dòng chảy tại vùng hạ du đặc biệt là hồ Hòa Bình nhất là trong giai đoạn mưa ít. Điều đó ảnh hưởng đến việc sản xuất điện của nhà máy thủy điện Hòa Bình không đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân. Mặt khác do nhu cầu sử dụng nước vùng hạ du ĐBSH cho việc sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Vì vậy vấn đề điều tiết dòng chảy vô cùng quan trọng cần phải được giám sát thường xuyên. Cụ thể là việc quan trắc và giám sát thủy văn (mực nước, lưu lượng nước…) tại vùng lòng hồ và hạ du công trình là thực sự cần thiết.

3.5.2.2 Chống xói mòn bề mặt trên lưu vực hồ chứa.

Tây Bắc là vùng có điều kiện địa hình thuận lợi vấn đề hình thành dòng chảy vì vậy, việc tăng cường lớp thảm phủ rừng có tác dụng đến việc điều hoà dòng chảy trong lưu vực cũng như chống xói mòn lưu vực bề mặt. Khi hình thành lòng hồ Sơn La đã làm mất 3.337 ha rừng vì vậy cần được bổ xung để

đảm bảo tỷ lệ che phủ trên lưu vực. Cần trồng cây gây rừng ven bờ hồ, giữ đất tránh hiện tượng sạt lở, diện tích cần trồng rừng tối thiểu đạt 3.337 ha. Các dải rừng trồng phòng hộ sạt lở ven bờ thường rộng từ 10 m trở lên (ven hồ tính từ MNDBT vào tới chân đồi).

Mặt khác việc quan trắc, giám sát xói mòn bề mặt lưu vực hồ chứa là cần thiết. Để có được kết quả chính xác và có những biện pháp kịp thời thì địa hình khu vực hồ chứa và địa hình hạ du cần được tiến hành thường xuyên với tần suất 1 lần/tháng trong 5 năm vận hành đầu tiên.

3.5.2.3 Các biện pháp phòng tránh bồi lắng hồ chứa.

- Phát triển các công trình trên sông suối nhỏ để giữ phù sa lại trước khi đổ vào sông lớn. Do Tây Bắc là vùng núi cao, lượng mưa khá lớn thuận lợi cho việc hình thành dòng chảy tạm thời mang theo nguyên vật liệu đổ vào sông suối gây bồi lấp lòng hồ. Vì vậy việc phát triển công trình thủy lợi trên sông suối nhỏ sẽ hạn chế phần lớn vật liệu trước khi đổ vào hồ.

- Dùng dòng chảy mạnh để cuốn cát dùn đã bồi lắng trong lòng hồ, có kế hoạch nạo vét hồ chứa thường xuyên để tăng tuổi thọ lòng hồ.

3.5.2.4 Đảm bảo chất lượng nước hồ chứa và hạ du công trình.

- Lượng sinh khối trong lòng hồ Sơn La không lớn vì vậy biến đổi chất lượng nước hồ không lớn trong mọi trường hợp thu dọn lòng hồ. Và tác động đến môi trường xung quanh của biến đổi chất lượng nước (cụ thể cấp nước cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội hay đảm bảo đời sống thuỷ sinh...) không đáng kể, tương tự như đối với trường hợp không có dự án. Theo tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt hoặc nuôi trồng thuỷ sản hàm lượng oxy hoà tan (DO > 5 mg/l) thấy rằng để đảm bảo các tiêu chuẩn sử dụng nước hồ, lòng hồ trước khi tích nước cần thu dọn sơ bộ. Như vậy vừa đảm bảo được các tiêu chuẩn sử dụng nước và tận thu các sản phẩm của rừng.

- Khi vận hành cần thường xuyên xả đáy tạo điều kiện xáo động các lớp nước đảm bảo lưu thông lượng oxy khu vực đáy hồ, giảm lượng chất hữu cơ tầng đáy.

- Bên cạnh đó cần kiểm soát các loại phân bón cho cây trồng trren phía thượng lưu (với cây công nghiệp loại phân bón cónguồn gốc Nitơ và Phôtphat rất lớn) sẽ được tích luỹ và quay vòng trong hồ chứa, thúc đẩy sự phát triển các loại rong tảo trong hồ, tăng độ phì hoá của hồ chứa và ảnh hưởng tới hoạt động của nhà máy thuỷ điện.

- Đồng thời phải thường xuyên giám sát chất lượng nước hồ, nước sông trong lưu vực. Việc giám sát này thông qua các trạm đo, trạm quan trắc. Các chỉ tiêu cần quan tâm trong chất lượng nước mặt là màu sắc của nước, mùi vị của nước, hàm lượng COD, DO, BOD, pH, Fe, TSS, colifrom. Việc quan sát chưa đủ cần phải so sánh các chỉ tiêu với tiêu chuẩn môi trường trong những năm mới nhất của BTN&MT. Nếu vượt quá chỉ tiêu cần tìm hiểu rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc phục kịp thời, nhanh chóng tránh gây hậu quả đáng tiếc.

3.5.2.5 An toàn công trình.

- Để tránh kẹt cửa van xả lũ cần chú ý trong vấn đề điều hành nếu không sẽ làm tăng nhanh chóng mực nước ở trong hồ gây nguy hiểm cho công trình và an toàn hạ du. Do vậy cần chuyển lượng nước dôi ra bằng các cửa tràn trnhs sự cố.

- Củng cố hệ thống đê, chuẩn bị các vùng phân lũ và xây dựng thêm hồ điều tiết trên hệ thống sông Lô và sông Gâm.

Tiểu kết:

Công trình thủy điện Sơn La có nhiều tác động tới nguồn TNTN và môi trường nói chung và tài nguyên môi trường nước nói riêng. Tác động của công trình thủy điện tới tài nguyên môi trường nước thể hiện rõ trong giai

đoạn thi công và vận hành công trình. Nhưng nhìn chung những tác động tiêu cực của công trình thủy điện Sơn La đến tài nguyên và môi trường nước không lớn. Vì vậy cần phải có những đề xuất và biện pháp hợp lý, hiệu quả nhằm giảm thiếu các tác động của công trình trong từng giai đoạn thi công và vận hành nhà máy.

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 73 - 77)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(84 trang)
w