Tác động của công trình thuỷ điện Sơn La đến tài nguyên môi trường nước mặt trong giai đoạn thi công công trình

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 51 - 56)

KHU VỰC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

Chương 3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TRÌNH

3.2 Tác động của công trình thuỷ điện Sơn La đến tài nguyên môi trường nước mặt trong giai đoạn thi công công trình

Công trình thuỷ điện Sơn La được khởi công chính thức vào cuối năm 2005, xây dựng trong giai đoạn 2005 - 2010 và phát điện tổ máy 1 vào 25/12/2011 và dự tính hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 2015 với cấp công trình đặc biệt.

Kéo dài từ năm 2005 đến 2012 trên một diện tích rộng hàng nghìn hecta. Trong giai đoạn này các hoạt động có tác động lớn đến môi trường nước bao gồm các hoạt động của công trình (xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng phụ trợ, tiếp nhận vật liệu xây dựng, khai thác nguyên liệu, vận chuyển vật liệu xây dựng máy móc, các hoạt động đào, san ủi, đổ đất đá...), bao gồm: san ủi mặt bằng, đào đất đá với khối lượng 16.350.700 m3, đào, đắp đất, đá cho đê quai: 1.757.000 m3, khai thác vật liệu xây dựng : 9.000.000 m3, vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng

Tác động lớn đến chế độ và môi trường nước sông tự nhiên, các quá trình vận động đất đá từ bề mặt xuống lòng sông và tạo ra dòng chảy cát bùn trong sông lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hồ chứa Hoà Bình

3.2.1. Hoạt động của công trình:

Trong thời kỳ tích nước, dòng chảy trên sông Đà bị chặn hoàn toàn bởi công trình Sơn La, nước đến hồ Hoà Bình chỉ còn lại ở lưu vực khu giữa (5900 km2) chiếm 10% dòng đến hồ tự nhiên, giảm rất đáng kể ảnh hưởng đến lượng nước hoạt động của hồ Hòa Bình. Dòng chảy lũ về hồ Hoà Bình bị thay đổi không lớn khi chặn dòng đợt 1 (02/12/2005) và sẽ thay đổi lớn khi chặn dòng đợt 2 (23/12/2008), đặc biệt đợt 3 (15/05/2010), do công trình tạo sự điều tiết dòng chảy lũ. Sau khi chặn dòng hoàn toàn, dòng chảy lũ bị điều tiết xả mạnh xuống hạ du với đầu nước cao hơn hẳn so với tự nhiên, gia tăng vận tốc dòng chảy vào hồ Hòa Bình (đặc biệt ở khu vực đuôi hồ Hòa Bình khoảng 20 - 40 km) khi hồ ở mực nước trước lũ thậm trí tới cao trình 100 m. Trong điều kiện này, dòng chảy từ hồ Sơn La sẽ có tác dụng xói lở mạnh phần cát bùn lắng đọng ở đuôi hồ đưa vào sâu lòng hồ (phần dung tích chết), làm tăng tuổi thọ của công trình.

Tương tự như đối với công trình Hoà Bình, trong thời kỳ bắt đầu tích nước (chưa hoàn công) chế độ sóng xả lớn nối tiếp với các sóng ngừng xả trong một số mùa lũ gây thay đổi chế độ dòng chảy vùng hạ du công trình Sơn La, tác động rõ rệt đến dao động mực nước tại tuyến đập. Tác động này chỉ kéo dài từ 1 đến 2 mùa lũ.

3.2.2 Các chất thải phát sinh trong qua trình xây dựng:

- Khai thác nguyên vật liệu (mỏ đá): Nước thải mỏ ở đây chủ yếu là nước mưa chảy tràn. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng công trình Sơn La, dự kiến sẽ khai thác đá bazan pocfirit từ các mỏ: Bản Pênh, Hủa Non, Nậm Păm và Bản Đơm với tổng diện tích khai thác hơn 100 km2. [18] Lượng mưa lớn sẽ cuốn trôi theo đất đá trong khu khai thác mang xuống sông. Khu vực dự án nằm trong vùng có lượng mưa lớn và theo các nghiên cứu thực nghiệm ở trong vùng tổng lượng mưa ngày trên 300 mm sẽ sinh ra 36 - 40 nghìn m3 nước có độ đục nước lên tới 500 - 1100 mg/l. Và đây là nguồn tăng dòng chảy cát bùn trong lòng sông.

- Chất thải từ hoạt động vận tải thuỷ: Luồng tầu được thiết kế từ đập Hòa Bình đến Sơn la sẽ phải có độ sâu tối thiểu là 1,8 đến 2,2 m và rộng là 42 m.

Do vậy hàng năm trên đoạn sông dài 35 km từ Tạ Hộc đến Pa Vinh phải tiến hành nạo vét khoảng 120.000 m3 cát bùn. Ngoài ra tại cảng cũng phải thường xuyên nạo vét khoảng 70.000 m3 và phá 1.500 m3 đá. [18]

Luồng tầu sẽ làm tràn dầu làm giảm chất lượng nước sông.

- Chất thải do tập trung công nhân trong giai đoạn thi công: đây là khu vực tập trung nhân công với mật độ cao, thời kỳ cao điểm nhất có thể đạt đến 35.000 người. Khu nhà ở của công nhân được bố trí ở thung lũng thượng lưu suối Chiến và đây cũng là nguồn nước cấp sinh hoạt cho công nhân đồng thời cùng là nguồn dẫn nước thải. Việc tập trung công nhân và những những đi theo sẽ phát sinh lượng rất lớn chất thải sinh hoạt.

+ Nước thải sinh hoạt: Với số lượng công nhân là 35.000 người thì số lượng người đi theo sẽ tương đương, vì vậy lượng người lúc cao điểm trên công trường sẽ là 70.000 người. Theo các quy định hiện hành cho phép xác định lưu lượng nước thải theo tiêu chuẩn cấp nước (100 l/người.ngày đêm), tổng lượng nước thải hàng ngày sẽ là 7.000 m3.

Kết quả phân tích chất lượng nước sông Đà tỉnh Sơn La (2008) đợt 1 và đợt 2 cho thấy chất lượng nước sông Đà có sự thay đổi, các chỉ số pH, Cu, Fe, BOD5, DO cũng tăng lên so với chất lượng nước sông khi chưa có công trình thủy điện Sơn La. Cụ thể pH từ 7,2 – 8,4 so với môi trường nước sông tự

nhiên trước đó tăng 0,2 – 1, hàm lượng Fe tăng 0,1 – 0,7 mg/l, hàm lượng BOD5 tăng lên 7 mg/l, COD tăng 15 mg/l.

So với QCVN 08 – 2008 giới hạn B1 (giới hạn dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợ hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như B2) các chỉ số chất lượng nước có xu hướng tăng cao là do tác động công trình thủy điện Sơn La trong giai đoạn thi công. Trong quá trình xây dựng nguồn chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp khó kiểm soát nên tổng lượng chất rắn lơ lửng tăng 26 mg/l, hàm lượng Cu, Fe, Zn đều tăng. Đồng thời các chất thải hữu cơ vào dòng chảy trong qua trình xây dựng nhiều hơn nên nhu cầu oxy hóa hóa học và nhu cầu oxy hóa sinh học tăng nên, do đó hàm lượng DO giảm thấp nhất là 3,22 mg/l.

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả phân tích chất lượng nước sông Đà tỉnh Sơn La (2008). Đợt 1: 25/08/2008 – 20/09/2008.

Đơn v : mg/l.ị Vị trí quan trắc pH Cu Fe TS

S Zn BOD

5

CO

D DO

Chân cầu thuỷ điện Sơn La 8,4 0,0 6

0,0

6 76 0,1

6 12,6 25,3 4,76 Bến phà Pá Uôn - Quỳnh Nhai 8,4 0,0

6

0,0

7 72 0,1

6 13 25,7 4,6

Cảng Tà Hộc – Mai Sơn 7,2 0,0 7

0,0

8 68 0,0

4 12,4 24,2 3,22

Bến phà Vạn Yên 8,3 0,0

9

0,0

8 75 0,0

6 11,2 18,4 6,34

Chân cầu Tạ Khoa 8,2 0,1

1

0,1

1 71 0,0

8 12,8 25,7 5,49 QCVN (2008) BTNMT B1 5,5 -

9 0,5 1,5 50 1,5 15 30 ≥ 4

(Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Sơn La) Trong kết quả tổng hợp phân tích chất lượng nước sông đợt 2/2008, ta thấy chỉ còn hàm lượng các chất không vượt quá tiêu chuẩn như đợt I nhưng

so với môi trường nước sông tự nhiên thì các chỉ tiêu đánh giá COD, pH, TSS tăng.

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả phân tích chất lượng nước sông Đà tỉnh Sơn La (2008) Đợt 2: 02/11/2008 – 30/11/2008.

Đơn v : mg/l.ị

Vị trí quan trắc pH Cu Fe TSS Zn BOD5 COD DO

Chân cầu thuỷ điện

Sơn La 8,3 0,07 0,08 48 0,15 9,1 24,3 4,78

Bến phà Pá Uôn -

Quỳnh Nhai 7,9 0,07 0,07 46 0,16 9,6 21,8 4,8 Cảng Tà Hộc – Mai

Sơn 7,4 0,07 0,07 42 0,04 9,2 21,3 3,44

Bến phà Vạn Yên 8,1 0,08 0,09 43 0,07 8,4 11,8 6,41 Chân cầu Tạ Khoa 8,1 0,1 0,09 44 0,07 9 14,7 5,64

TCVN (2008) BTNMT B1

5,5 -

9 0,5 1,5 50 1,5 15 30 ≥ 4

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 51 - 56)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(84 trang)
w