Cơ sở thực tiễn

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 22 - 28)

1.2.1 Khái quát diều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.

1.2.1.1 Địa chất, địa hình.

Sông Đà là phụ lưu của sông Hồng, được bắt nguồn từ vùng núi cao Ngụy Sơn, Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng TB – ĐN, sau đó ngoặt sang hướng Đông tới thị xã Hoà Bình chuyển hướng Bắc đổ vào sông Hồng ở đoạn Trung Hà. Diện tích lưu vực sông Đà ở nước ta là 26.800 km2, dài 570 km, chiếm 16,9 % lưu vực miền Bắc gấp 2 lần lưu vực sông Thao.

Lưu vực sông Đà có đặc điểm địa chất phức tạp và chưa ổn định. Các thành phần kiến tạo địa chất bao gồm nhiều phức hệ từ cổ đến trẻ, phát triển theo trật tự từ các đá phun trào bazo dưới biển đến các đá xâm nhập mafic và kết thúc với đá trầm tích phun trào axit, các xâm nhập granit dạng batolit.

Toàn bộ lưu vực phân bố rộng trên nền đá vôi tạo cấu trúc caxto phức tạp, có nhiều đứt gãy ngang do cấu trúc địa chất kém ổn định,. Vùng Tây Bắc có hoạt động địa chấn cao nhất cả nước nằm trong vùng động đất cấp 7, cấp 8.

Đặc điểm nổi bật của địa hình lưu vực sông Đà là núi và cao nguyên cao và bị chia cắt thẳng đứng mạnh hơn nhiều so với các vùng khác ở Việt Nam. Độ cao trung bình của cả lưu vực bao gồm cả phần lưu vực Trung Quốc là 1130 m, riêng phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam cao 965 m. Phía Đông lưu vực sông Đà có dãy Hoàng Liên Sơn, Pu – Luông với các đỉnh núi cao từ 2500 – 3000 m là đường chia nước giữa lưu vực sông Thao và sông Đà. Phía Tây có dãy Pu – đen – đinh (1886m), Pu - Huổi – Long (2178m), Pu – Ta –Ma (1801 m) là đường chia nước lưu vực sông Đà, sông Mã và sông Mêkông. Phía cực Bắc là dãy Pu – Xi – Luông (3076 m), Ngũ Đài Sơn (3048 m), phía đông nam là vùng núi thấp Ba Vì là đường chia nước của sông Đà và sông Đáy.

Với đặc điểm địa chất, địa hình như trên sông ngòi trong lưu vực sông Đà là sông trẻ, mức độ chia cắt mạnh, thung lũng hẹp sâu có dạng hinh chữ V, độ dốc lớn nhiều thác ghềnh, tốc độ xâm thực mạnh. Chính nhờ các đặc điểm này mà dòng sông này đầy tiềm năng thuỷ điện vào bậc nhất nước ta.

1.2.1.2 Khí hậu.

Với các đặc điểm nổi bật của địa hình theo hướng TB – ĐN rõ rệt, sự sắp xếp song song của địa hình núi, cao nguyên và thung lũng sông đã có tác động quan trong tới khí hậu trong lưu vực.

Trước hết là dãy Hoàng Liên Sơn, Pu – Luông như bức tường thành tự nhiên làm suy yếu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Các dãy núi cao phía tây thuộc biên giới Việt – Lào đã tạo nên hiệu ứng phơn đối với gió mùa Tây Nam. Những dãy núi và thung lũng xếp song song theo hướng TB – ĐN tạo điều kiện cho gió mùa Đông Nam có thể xâm nhập sâu vào lưu vực sông Đà.

Số giờ nắng trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 h ở vùng núi cao đến hơn 2000 h ở các thung lũng trong lưu vực sông Đà.[15]

Điều kiện vị trí và địa hình như trên đã quy định chế độ khí hậu của lưu vực sông Đà là có một mùa đông lạnh và khô, mùa hè nhiều mưa ở vùng cao và thời tiết khô nóng ở vùng thấp. Mùa đông tới muộn (sau 25/XII) và kết thúc sớm. Cực đại mưa xảy ra sớm vào khoảng tháng VI, tháng VII. [15]

Căn cứ vào sự phân hoá khí hậu có thể chia khí hậu lưu vực sông Đà thành các vùng khí hậu sau đây:

- Vùng Tây Bắc lưu vực sông Đà địa hình núi cao có khí hậu ẩm ướt đến ẩm với lượng mưa trên 2000 mm vào mùa nóng, nhiệt độ trung bình tháng VII trên 250C, nhiệt độ trung bình tháng I từ 9 – 170C, lượng mưa trung bình năm là 1500 – 2790 mm.

- Vùng núi thấp và cao nguyên Sơn La, Mộc Châu mùa hè ảnh hưởng rõ của gió mùa tây nam có khả năng hạn tới 20%, lượng mưa trung bình 1100 – 1500 mm, trong đó mùa nông lượng mưa nhỏ hơn 1000 mm.

Lưu vực sông đà có độ ẩm cao và ít thay đổi, độ ẩm tuyệt đối dao đọng từ phạm vi 11,4 – 31,6 mb, độ ẩm tương đối 82 – 85%.

Trong lưu vực sông Đà có một số trung tâm mưa lớn: trung tâm mưa lớn phía tây Hoàng Liên Sơn (2500 mm), lượng mưa tăng theo độ cao lớn nhất vào tháng VI và tháng VIII. Trung tâm mưa lớn thượng nguồn sông Đà thuộc lãnh thổ Việt Nam (2400 – 3000 mm), trung tâm này tồn tại chủ yếu trong mùa hạ (tháng 6, tháng 7).

Sự phân bố lượng mưa trong năm phụ thuộc rõ ràng vào hình thái gió mùa. Gió mùa Tây Nam gây ra khoảng 85% tổng lượng mưa (tháng VII, tháng VIII, tháng XI), mùa hè số ngày mưa 100 – 140 ngày, tháng 7, tháng 8 đạt 18 – 22 ngày/tháng.[15]

1.2.1.3 Đặc điểm thảm thực vật rừng của lưu vực sông Đà.

Thực vật trong hệ thống lưu vực sông Đà phong phú với nhiều loại thực vật, do sự khác biệt độ cao, khí hậu nên được phân thành các loại:

+ Độ cao trên 700 m: phát triển rừng hỗn hợp lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới.

+ Độ cao dưới 700 m: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, ngoài ra còn có rừng trồng và cây bụi…

Năm 1993, diện tích rừng lưu vực sông Đà là 282.340 ha (10,8% diện tích đất tự nhiên). Trong đó rừng giàu chiếm 4% diệm tích đất tự nhiên, phân bố ở các vùng núi cao 1000 – 2000 mthuộc địa phận tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình.

Rừng trung bỡnh và rừng nghốo phõn bố rải rỏc trong lưu vực, ẵ diện tớch nằm ở chân rừng đầu nguồn, khu vực tập trung nhiều rừng bao gồm huyện Đà Bắc, Tuần Giáo, Phù Yên, thị xã Sơn La. Vùng ít rừng là huyện Sín Hồ, Mường Lay, Quỳnh Nhai. Diện tích rừng liên tục giảm.

Bảng 1.2: Độ che phủ rừng tỉnh Sơn La qua các năm.

Đơn v : %.ị

Năm 1945 1968 1976 1985 1999

Độ che phủ rừng 55 35 17 6 21,1

Nguyên nhân diện tích rừng giảm do khai thác gỗ quá mức không có quy hoạch, đốt phá nương làm rẫy. Thảm thực vật bị tàn phá gây xói mòn đất tầng mặt, thoái hoá đất. Hiện nay, diện tích rừng đã tăng lên nhanh chóng do chính sách trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc của Đảng và nhà nước.

1.2.2 Khái quát điều kiện KT – XH khu vực nghiên cứu.

1.2.2.1 Dân cư.

Lưu vực sông Đà thuộc lãnh thổ Việt Nam nằm ở địa phận các tỉnh Lai Châu (huyện Phong Thổ, Sín Hồ, thị xã Lai Châu), Sơn La (huyện Yên Châu, Mộc Châu, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Mường La, thành phố Sơn La ), Lào Cai (Than Uyên), Yên Bái, Phú Thọ và Hoà Bình. Với diện tích tự nhiên hơn 40.000 km2. Dân cư thuộc lưu vực sông Đà tập trung không đông khoảng hơn 1,254 triệu người (1999) mật độ dân số trung bình của lưu vực hơn 30 người/km2. Vì Tây Bắc là vùng kinh tê chưa phát triển so với các vùng khác trên cả nước. Đây là địa bàn của nhiều dân tộc: Kinh, Thái, Mường, Khơ - Mú, La Há, Xá… Cộng đồng dân tộc nơi đây luôn đoàn kết xây dựng mảnh đất Tây Bắc ngày càng phát triển.

Tổng dân số trên khu vực Sông Đà thuộc 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu là 1.479.900 người (2005), mật độ dân số thấp 48 người/km2. [18]

Với dự án thuỷ điện Sơn La thấp thì số dân phải di dời là 65.983 người, diện tích ngập là 19.976 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 5.774 ha, đất thổ cư là 1.213 ha, đất lâm nghiệp là 3.337 ha, các loại khác là 9.652 ha.

Quy mô dân cư chịu ảnh hưởng của công trình này là 9 huyện, 45 xã, 329 bản.

Dân cư sống chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng còn khó khăn, lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực Nông – Lâm – Thủy Sản.

1.2.1.2 Kinh tế - xã hội.

Kinh tế nơi đây còn chậm phát triển, tuy nhiên nhờ sự nỗ lực của người dân các dân tộc thì nền kinh tế các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình đang có sự chuyển mình. Hoạt đông kinh tế ở đây chủ yếu tập trung ở lĩnh vực Nông – Lâm - Thuỷ Sản, các hoạt động Công nghiệp và Dịch vụ chưa phát triển mạnh. Trước đây, Sơn La còn nằm trong danh sách “những tỉnh trắng” về Công nghiệp. Nhưng năm 2010, Sơn La đã ra khỏi danh sách này, trong cơ cấu Công nghiệp thì Sơn La đang tận dụng thế mạnh chính của mình là công nghiệp điện lực (bao gồm thuỷ điện vừa và nhỏ.)

Nông – Lâm - Thuỷ Sản là ngành kinh tế chính ở đây, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Đặc biệt với ngành kinh tế này thì việc cung cấp nước ổn định trong quá trình sản xuất đồng thời là mục đích nuôi trồng thuỷ sản là cần thiết. Vì vậy, việc xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La với dung tích hồ chứa 9,26 tỷ m3 đảm bảo được mục đích trên. Mặt khác, có thể tạo đà phát triển du lịch vùng hồ tăng cường thu hút vốn đầu tư của nhà nước và địa phương góp phần thúc đẩy phát triển KT – XH.

Tuy nhiên, với dung tích hồ chứa lớn 9,26 tỷ m3 công trình thủy điện Sơn La sẽ có nhiều tác động lớn về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội. Cụ thể việc xây đập ngăn nước tạo hồ sẽ tác động mạnh đến nguồn tài nguyên và môi trường nước, đồng thời làm mất một diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp lớn. Mặt khác, làm biến đổi khí hậu lòng hồ. Về mặt KT – XH công trình thủy điện Sơn La sẽ làm cho một lượng lớn dân cư phải di dời, mất đi cơ sở vật

chất (đường sá, các công trình công cộng…) cùng với đó các công trình văn hóa, di tích lịch sử phong tục tập quán của người dân có thể bị thay đổi, các vấn đề xã hội tại nơi tái định cư.

Có thể thấy tác động của công trình thủy điện Sơn La là rất lớn nhưng với động lực phát triển của công trình thuỷ điện Sơn La bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì chúng ta có thể hi vọng vào tương lai tươi sáng của người dân vùng núi Tây Bắc trong những năm tới đây.

Tiểu kết:

Như vậy ĐTM có vai trò quan trọng trong quy hoạch quản lý các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường với các chức năng đánh giá, dự báo các tác động môi trường từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của dự án.

Đánh giá các tác động của công trình đập, hồ chứa tới tài nguyên môi trường nước cần phải chú ý tới các vùng thượng du và hạ du đập.

Dựa vào những đặc điểm của khu vực nghiên cứu, cần đánh giá các tác động của công trình thuỷ điện Sơn La đến môi trường nước mặt trong mối quan hệ với các thành phần tự nhiên khác (địa chất, địa hình, sinh vật, khí hậu...) và các yếu tố KT – XH.

Chương 2

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 22 - 28)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(84 trang)
w