Khái quát về công trình thuỷ điện Sơn La

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 28 - 33)

KHU VỰC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA

2.1 Khái quát về công trình thuỷ điện Sơn La

2.1.1 Mục tiêu xây dựng thuỷ điện Sơn La.

Sông Đà là phụ lưu của hệ thống sông Hồng. Trên lãnh thổ Việt Nam chiều dài của sông Đà khoảng 570 km từ Mường Tè (Lai Châu) đến Việt Trì (Phú Thọ) với độ chênh lệch cao khoảng 300 m, uốn khúc quanh co, núi non trùng điệp. Sông Đà và các phụ lưu của nó chứa đựng nhiều tiềm năng thuỷ điện to lớn và việc xây dựng các bậc thang thuỷ điện trên dòng sông này nhằm khai thác tối đa tiềm năng đó.

Công trình thuỷ điện Sơn La là bậc thang thứ hai trong sơ đồ khai thác năng lượng trên dòng sông Đà. Trước đó, chúng ta đã xây dựng và đi vào vân hành thành công 8 tổ máy của thủy điện Hoà Bình với sự giúp đỡ của Liên Xô. Dự án này được xem xét từ những năm 1960 trong các nghiên cứu tổng hợp nguồn nước sông Đà. Năm 1978, báo cáo tổng quan khai thác sông Đà được nhà nước phê duyệt với nội dung sẽ xây hai đập thuỷ điện. Đập thuỷ điện Hoà Bình chúng ta xây dựng trước với mực nước dâng 115 m và đập Tạ Bú tỉnh Sơn La. Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), trước đây là Bộ Năng lượng được giao làm chủ đầu tư dự án thuỷ điện Sơn La.

Dự án thuỷ điện Sơn La đã được trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá X. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XI đã quyết định đầu tư xây dựng dự án thuỷ điện Sơn La với tuyến trình được chọn là Pa Vinh xã Ít Ong huyện Mường La tỉnh Sơn La. Vị trí công trình được chọn dựa trên khảo sát của Công ty thiết kế điện I với một loạt tuyến năng lượng, trong đó Pa Vinh là tuyến tối ưu hơn cả. Đồng thời trong kỳ họp này Chính Phủ đã đưa ra vấn đề cốt lõi nhất trong dự án là quyết định quy mô xây dựng thuỷ điện Sơn La để có thể chính thức khởi công vào cuối năm 2005.

Việc quyết định bậc thang thuỷ điện Sơn La trên sông Đà xuất phát từ nhu cầu điện năng của nước ta đặc biệt trong công cuộc xây dựng quá trình CNH – HĐH. Là công trình trọng điểm Quốc gia, thuỷ điện Sơn La có vị trí vai trò quan trọng cần thiết đối với sự phát triển KT – XH đất nước.

Theo quyết định 44/2001/QH10 về chủ trương xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La Quốc hội đã đề ra 3 mục tiêu chính của công trình này:

- Cung cấp nguồn điện năng để phát triển KT – XH, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.

- Nâng cao tầng suất chống lũ cho sông Đà (125 – 500 năm) và cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho 20 triệu người và hàng trăm ha lúa cho ĐBSH.

- Xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho nhân dân 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình và vùng Tây Bắc.[22]

2.1.2 Lựa chọn phương án xây dựng thuỷ điện Sơn La.

Để tiến hành các mục tiêu cơ bản nêu trên, việc lựa chọn ra phương án được xem là hiệu quả nhất là một vấn đề quan trọng. Công ty khảo sát thiết kế điện I đã xây dựng các phương án tổ hợp công trình bậc thang thuỷ điện trên dòng chính và các phụ lưu sông Đà. Từ năm 1978 – 1996, hàng loạt các phương án được đưa ra, mỗi kỳ lại nổi lên như là phương án ưu tiên.

Năm 1978: sơ đồ Hoà Bình -115 m + Tạ Bú -260 m (Phương án do Bộ Thuỷ lợi và viện Thuỷ công Liên Xô kiến nghị).

Năm 1987: Sơ đồ Hoà Bình -115 m + Sơn La -265 m (Viện Năng lượng, Bộ Năng lượng kiến nghị.)

Năm 1989: Sơ đồ Hoà Bình -115 m + Sơn La 180 – 240 m + Lai Châu -295m (Luận Chứng kinh tế - Kĩ thuật thuỷ điện Sơn La do Công ty khảo sát thiết kế I kiến nghị).

Tháng 8/1996: Hai phương án Sơn La cao và Sơn La thấp.

- Phương án Sơn La cao: Hoà Bình 115m + Sơn La 265 m + Huội Quảng 480m + {Nậm Pô, Nậm Chiến, Nậm Mức}.

- Phương án Sơn La thấp: Hoà Bình 115 m + Sơn La 215 m +Pa Háng 295 m + Huội Quảng 480 m + {Nậm Pô, Nậm Chiến, Nậm Mức}.

Đây là 2 phương án tổ hợp về công trình bậc thang thuỷ điện được lựa chọn. Theo đây các công trình thuỷ điện trên dòng chính sông Đà là:

- Thuỷ điện Hoà Bình: Mực nước dâng bình thưòng (MNDBT) 115 m.

- Thuỷ điện Sơn La, phương án Pa Vinh MNDBT 180 – 270 m.

- Thuỷ điện Lai Châu (Pa Háng) MNDBT 295 m.

Các công trình trên các sông nhánh quan trọng nhất:

+ Thuỷ điện Huội Quảng trên sông Nậm Mu 480 m.

+ Thuỷ điện Nậm Chiến trên sông Nậm Chiến 960 m.

+ Thuỷ điện Nậm Pô 390 m.

+ Thuỷ điện Nậm Mức 365 m.

Hai phương án đều có mặt mạnh và mặt yếu. Khi so sánh các phương án bậc thang, chúng ta đã xem xét một cách toàn diện hiệu ích cả các mặt: phát diện, phòng lũ, cấp nước hạ du của tất cả các hồ chứa và nhà may thuỷ điện trong hệ thống. Và lựa chọn phương án nào sẽ đồng thời quyết định quy mô của dự án thuỷ điện Sơn La.

- Về khả năng cấp điện:

Theo PGS – TS Tô Bá Trọng (Liên hiệp hội KHKT Việt Nam) ưu điểm đầu tiên của phương án Sơn La Cao là sản lượng điện trung bình hàng năm cao hơn. Theo phương án Sơn La cao thì khả năng cấp điện hàng năm là 14,16 + 2,4 tỷ KWh, trong khi phương án Sơn La thấp chỉ 8,46 + 1 tỷ KWh.

Theo lý thuyết sơ đồ có Sơn La cao MND 265 m hơn Sơn La thấp + thuỷ điện Lai Châu là:

+ Chênh lệch điện năng là 3 tỷ KWh.

+ Chênh lêch công suất đảm bảo 738 KWh.

Về thực tế thì thuỷ điện Lai Châu gần như không quá hiệu quả vì dung tích hồ quá nhỏ, giá thành đắt, các chỉ tiêu KHKT đều thấp so với giới hạn cho phép, do đó chênh lệch giữa Sơn La cao và Sơn La thấp là rất lớn.

Tuy nhiên, phương án Sơn La thấp còn để ngỏ các khả năng xây dựng các nhà máy thuỷ điện trên dòng chính ở Lai Châu và các phụ lưu của nó sẽ đóng vai trò là nguồn năng lượng bổ sung về điện năng chênh lệch so với Sơn La cao.

- Về mặt cấp nước cho hạ du:

Phương án Sơn La cao có dung tích hữu ích 16 tỷ m3, trong khi đó Sơn La thấp là 9,5 tỷ m3, thuỷ điện Lai Châu chỉ có 0,9 tỷ m3. Khả năng cấp nước mùa kiệt cho ĐBSH theo yêu cầu 10 tỷ m3 (2010) và lên tới 15 tỷ m3 (2020) của Sơn La cao tốt hơn so với tổ hợp Sơn La thấp và Lai Châu.

- Về phòng lũ:

Do dung tích hồ chứa của Sơn La cao nhiều hơn so với tổ hợp Sơn La thấp và Lai Châu nên không chỉ có khả năng lưu chứa và điều tiết một khối lượng nước rất lớn cung cấp cho vùng hạ du. Mặt khác còn đảm nhận vai trò phòng chống lũ cho vùng ĐBSH, đảm bảo mực nước Hà Nội luôn nhỏ hơn 11,5 m.

- Về mặt an toàn cho các công trình vùng hạ du:

Lưu vực sông Đà nằm trong vùng có lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp, hiện nay các quá trình địa chất vẫn còn diễn ra khá là phức tạp. Do vậy việc xây dựng và đảm bảo an toàn cho công trình đồ sộ trong điều kiện địa chất đó theo phương án Sơn La cao là phức tạp, nguy hiểm và tốn kém. Mặt khác với phương án Sơn La cao, ngay trên thượng lưu xuất hiện một túi nước khổng lồ là nguy cơ gây ra các chấn động địa chấn đặc biệt là nguy cơ động đất. Ngược lại việc phân tán lượng nước hàng chục tỷ m3 vào 2 hồ chứa Sơn La thấp và Lai Châu sẽ giảm tác động địa chấn lớn và đảm bảo khả năng an toàn cao hơn cho các công trình hạ du và thủ đô Hà Nội.

Ngoài ra về mặt an ninh quốc phòng, đây là tỉnh giáp biên giới các nước láng giềng núi non hiểm trở, địa hình phức tạp. Do vậy việc lựa chọn phương án cần đáp ứng các yêu cầu này. Đối với Sơn La cao dung tích hồ chứa lên tới 16 tỷ m3 mực nước sẽ dâng lên biên giới phía Bắc làm ngập nhiều hang động, thị xã Lai Châu chia thành 3 vùng biệt lập, do đó an ninh quốc phòng không được đảm bảo đồng thời gây ra sự chia rẽ cộng đồng và tính cố kết giữa các dân tộc anh em.

- Về mặt ngập lụt lòng hồ và tái định cư.

Việc hình thành hồ chứa Sơn La sẽ làm ngập một diện tích đất đai và diện tích đất ngập theo 2 phương án có sự khác biệt tương đối. Ở phương án Sơn La cao diện tích ngập lòng hồ lớn hơn Sơn La thấp 15.917 ha, do vậy Sơn La thấp

phần nào hạn chế vùng ngập giảm bớt tác động tới tài nguyên và môi trường hơn so với Sơn La cao.

Bảng 2.1: Diện tích đất vùng ngập theo hai phương án.

Đơn v : haị

Loại đất Phương án Sơn La cao Phương án Sơn La thấp.

Diện tích đất ngập. 35.893 19.976

Đất nông nghiệp 10.650 5.774

Đất thổ cư 2.264 1.213

Đất nông nghiệp còn rừng 5.520 337

Loại khác 17.872 9.652

(Nguồn Công ty khảo sát thiết kế điện I).

Quỹ đất canh tác của 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu tập trung ở những vùng thấp ven sông, suối tạo thành những cánh đồng nhỏ. Do đó, tổn thất đối với vùng đất màu mỡ ở cả hai phương án là rất lớn trong đó đặc biệt là đất lúa một vụ và 2 vụ.

Liên quan đến việc ngập vùng hồ, chúng ta phải di chuyển một lượng lớn các hộ dân với phạm vi di chuyển rộng. Sự chênh lệch giữa phương án Sơn La cao và Sơn La thấp là 4.386 hộ và 26.500 khẩu. Sự chênh lệch này chủ yếu ở tỉnh Lai Châu. Phần lớn các hộ dân đều phải di chuyển tới vùng tái đinh cư được dự kiến từ trước trên địa bàn cả 3 tỉnh.

Như vậy, với quá trình xem xét các mặt một cách toàn diện, phương án Sơn La thấp không hiệu ích khai thác năng lượng, khả năng điều tiết nước như Sơn La cao. Tuy nhiên, xét về yêu cầu đảm bảo sự phát triển ổn định của vùng Tây Bắc và của cả nước, đảm bảo an ninh quốc phòng thì Sơn La thấp có những ưu thế hơn cả. Đặc biệt, hạn chế số dân phải di dời đảm bảo an toàn cho đập Hòa Bình, đúng 3 mục tiêu và 5 yêu cầu đặt ra.

Ngày 16/12/2002. Quốc hội đã thông qua nghị quyết về phương án xây dựng thuỷ điện Sơn La. Để đảm bảo tính an toàn tuyệt đối của công trình, chính phủ đã quyết định xây dựng thuỷ điện Sơn La với mực nước dâng 205 – 215 m, không vượt quá 215m.

Ngày 2/12/2005. Dự án thuỷ điện Sơn La đã chính thức được khởi công trên dòng chính sông Đà tại xã Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La.

Các thông số chính sau:

Mực nước dâng bình thường: 215 m Dung tích tất cả hồ chứa: 9,26 tỉ m3 Dung tích hữu ích: 5,97 tỉ m3

Mực nước chết: 180 m Mực nước gia cường: 217 m

Công suất lắp máy: 2400 MW (gồm 6 tổ) Điện lượng bình quân hàng năm: 9.459 tỉ kwh Tổng vốn đầu tư: 42.476,9 tỉ

Vốn đầu tư bình quân: 36.786,97 tỉ (7500 tỉ dành cho công tác tái định cư trong phạm vi thuỷ điện Sơn La).

Hiện nay, công trình thuỷ điện Sơn La đang tiến dần tới đích hoàn thành, tổ máy số một đã chính thức phát điện vào ngày 17/12/2010 và chính thức nghiệm thu đưa tổ máy số một vào vận hành ngày 25/12/2010. Ngày 12/04/2011 đã chạy không tải thành công tổ máy số 2 và ngày 21/04/2011 tổ máy số 2 với công suất 400 MW của nhà máy thủy điện Sơn La đã hòa thành công vào lưới điện Quốc gia.

Một phần của tài liệu PHẦN mở đầu (Trang 28 - 33)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(84 trang)
w