1. Trang chủ
  2. » Tất cả

DÂN số và PHÁT TRIỂN KINH tế

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 716,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Module Sức khỏe dân số Bộ môn Y học xã hội 6 DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Trần Thị Bích Hồi,Trần Thị Thúy Hà MỤC TIÊU 1 Trình bày được khái niệm về phát triển, phát tri.

Trang 1

6

DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trần Thị Bích Hồi,Trần Thị Thúy Hà

MỤC TIÊU:

1 Trình bày được khái niệm về phát triển, phát triển bền vững, phân tích được mối quan hệ giữa dân số và phát triển

2 Trình bày và phân tích được mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế

3 Phân tích được những thách thức về dân số trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay

NỘI DUNG:

1 Khái niệm về phát triển, mối quan hệ giữa Dân số và phát triển:

1.1 Phát triển và phát triển bền vững

1.1.1.Phát triển:

Phát triển thường được quan niệm là “sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bền vững môi trường” Đối với các nước nghèo thì “phát triển” được hiểu cụ thể hơn liên quan đến việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Ngày nay, nói đến phát triển, người ta thường nhấn mạnh đến tầm nhìn dài hạn, nhấn mạnh tính bền vững của phát triển

Phát triển được hiểu là quá trình một xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội

ấy coi là thiết yếu

Các nhu cầu thiết yếu bao gồm: dinh dưỡng, giáo dục tiểu học, sức khỏe, vệ sinh, cung

cấp nước sạch và nhà ở Ngân hàng thế giới (WB) đã cụ thể hóa chúng bằng một loạt các chỉ tiêu sau:

- Dinh dưỡng: lượng calo, chất đạm được cung cấp bình quân đầu người, tỷ lệ đạt được so với yêu cầu

- Giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ học sinh tiểu học (tính trên số dân từ 5 đến 14 tuổi)

- Dân số, sức khỏe: tỷ lệ chết trẻ em, tuổi thọ bình quân

- Vệ sinh: tỷ lệ dân số được hưởng các phương tiện vệ sinh, tỷ lệ dân số được cung cấp nước sạch

Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình giảm dần

và đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng

1.1.2 Phát triển bền vững:

Phát triển cũng có những tác động tiêu cực Trong khi cố gắng “đáp ứng các nhu cầu thiết yếu” cho một qui mô dân số khổng lồ và mỗi ngày một tăng lên, loài người đã làm phá hủy môi trường tự nhiên: suy giảm diện tích rừng; cạn kiệt nguồn nguyên liệu, nhiên liệu; thải nhiều khí

“nhà kính”, nước bẩn và bóc lột đất đến bạc màu, sa mạc hóa Vì vậy, phát triển bền vững được

coi là sự tăng trưởng về kinh tế, sự tiến bộ về xã hội và sự bền vững về môi trường

Sơ đồ 1.1: Các nhóm mục tiêu phát triển bền vững

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Mục tiêu kinh tế

Tăng trưởng cao, ổn

định

Mục tiêu xã hội

Cải thiện xã hội

Công bằng xã hội

Mục tiêu môi trường

Cải thiện chất lượng MT

Bảo vệ MT, TNTN

Trang 2

Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu như sau: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh” Ngoài mục tiêu an ninh-quốc phòng, mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu

lớn của phát triển bền vững có thể mô tả bằng Sơ đồ 1.1

Do phát triển không chỉ đơn thuần là tăng trưởng hay phát triển kinh tế mà còn là tiến bộ về xã hội và sự bền vững về môi trường, nên phát triển thường được đo lường, phản ảnh bằng một Hệ thống gồm các nhóm chỉ tiêu, như: Nhóm chỉ tiêu kinh tế, nhóm chỉ tiêu dân số - KHHGĐ, nhóm chỉ tiêu y tế và sức khoẻ,…; nhóm chỉ tiêu về môi trường

Ngoài việc sử dụng cả một bộ, với hàng chục, thậm chí là hàng trăm chỉ tiêu để đo lường trình độ phát triển, từ năm 1990 Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã đưa ra và không ngừng hoàn thiện chỉ tiêu tổng hợp: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) Chỉ số này được tổng hợp từ các chỉ tiêu phản ảnh thành tựu về sức khỏe, giáo dục và mức sống Việc chọn chỉ tiêu nào để phản ảnh các thành tựu này và tổng hợp chúng như thế nào tạo nên các phương pháp tính HDI khác nhau Chỉ số này được tổng hợp từ ba yếu tố: thu nhập quốc dân bình quân đầu người; trình độ giáo dục và tuổi thọ bình quân Các nước có trình độ phát triển cao có HDI > 0,8; các nước có trình độ phát triển trung bình có HDI từ 0,5 đến 0,8 và trình

độ phát triển thấp có HDI < 0,5

 Nhóm 1: Các nước phát triển rất cao, nếu có HDI từ 0,8 đến 1,0

 Nhóm 2: Các nước phát triển cao, nếu có HDI từ 0,7 đến dưới 0,8

 Nhóm 3: Các nước phát triển trung bình, nếu có HDI từ 0,5 đến dưới 0,7

 Nhóm 4: Các nước phát triển thấp nếu có HDI dưới 0,5

Nhóm 2 và nhóm 3 cũng được gọi là các nước đang phát triển HDI của Việt Nam, gần đây tăng nhanh, thứ bậc phát triển được cải thiện và hiện được xếp vào nhóm nước có trình độ phát triển trung bình (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Chỉ số phát triển con người Vịệt Nam trong những năm qua

HDI

Tuổi thọ

dự kiến khi sinh

GNI1 bình quân đầu người

Số năm đi học trung bình từ 25 tuổi trở lên*

Thứ hạng HDI của Việt Nam** Báo cáo phát triển năm 1990 0,475 70,6 1369 3,9

Báo cáo phát triển năm 2010 0,653 74,8 4266 7,5

Báo cáo phát triển năm 2015 0,680 75,1 5314 8,0

Báo cáo phát triển năm 2016 0,685 75,2 5638 8,1

Báo cáo phát triển năm 2017 0,690 75,2 5916 8,2

Báo cáo phát triển năm 2018 0,693 75,3 6220 8,2 118/189

*Barro và Lee 2018

** So với tổng số các nước tham gia xếp hạng Nguồn: Báo cáo phát triển con người toàn cầu của UNDP từ 1990 đến 2018

Tuy nhiên, phát triển là một khái niệm tổng hợp, bao hàm nhiều mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường Do vậy, việc đo lường mức độ phát triển chỉ mang ý nghĩa tương đối

1 GNI (Gross National Income): Thu nhập quốc gia là chỉ tiêu phản ánh kết quả thu nhập lần đầu được tạo ra từ các yếu tố sở hữu của một quốc gia tham gia vào hoạt động sản xuất trên lãnh thổ quốc gia đó hay ở nước ngoài trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

Trang 3

8

Mức chết Mức sinh

Chính sách

Quy mô, Cơ

cấu, Phân

bố dân số

1.1.3 Mối quan hệ giữa Dân số và Phát triển:

Lịch sử đã chứng minh rằng, ở những bậc thang phát triển khác nhau thì tình trạng dân số cũng khác hẳn nhau Chẳng hạn, số liệu thống kê ở các nước “đã phát triển” và “đang phát triển” cho thấy:

(i) Mức sinh ở hai nhóm nước này có sự khác biệt rất lớn

Từ năm 1950 cho đến nay, số con trung bình của một phụ nữ ở các nước “đang phát triển” bao giờ cũng nhiều gấp hơn hai lần ở những nước “đã phát triển”

(ii) Tình trạng chết của trẻ em

Năm 2010, ở các nước “đã phát triển”, bình quân cứ 1000 trẻ được sinh ra thì có 6 trẻ bị chết dưới

1 tuổi Trong khi đó, ở các nước “đang phát triển”, con số này là 81, tức là nhiều hơn gần 14 lần!

(iii) Qui mô dân số ở các nước “đang phát triển” lớn hơn và tăng nhanh hơn nhiều so với các nước “đã phát triển”

Năm 1950, các nước “đã phát triển” có 831,9 triệu dân, đến năm 1999 có 1,181 triệu, tức là tăng lên 1,42 lần Trong khi đó, cũng khoảng thời gian này, số dân ở các nước “đang phát triển” đã tăng từ 1.638,8 triệu dân lên 4.800 triệu, tức là tăng lên tới 2,91 lần

(iv) Tỷ lệ trẻ em dưới 14 tuổi trong tổng dân số ở các nước “đang phát triển” cũng cao hơn nhiều so với các nước “đã phát triển”

Do mức sinh ở các nước đang phát triển cao nên tỷ lệ trẻ em ở các nước này cao và thường gấp đôi ở các nước đã phát triển, (Bảng 1.3)

Bảng 1.2: Tỷ lệ nhóm dân số (0-14) tuổi trên thế giới, giai đoạn (1950-2050)

Đơn vị :%

Các nước đã phát triển 27.3 24.2 18.3 15.0 15.5

Các nước đang phát triển 37.6 41.1 32.8 26.0 21.8

Các nước kém phát triển 41.1 44.7 43.1 37.9 29.1

Nguồn: Đặng Nguyên Anh, Xã hội học Dân số, NXB Khoa học Xã hội Hà nội, 2007 (v) Ngược lại, tỷ lệ người già (65 tuổi trở lên) trong tổng dân số ở các nước “đang phát triển”, cũng năm 2010, lại thấp hơn nhiều so với các nước “đã phát triển”: 6% so với 16% Đặc

biệt, ở các nước kém phát triển nhất, tỷ lệ này chỉ có 3%

Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy dân số đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nhân loại Nếu trái đất mới có vài ngàn người thì sẽ không có bức tranh phát triển như ngày nay Nhờ số dân đạt đến một quy mô đáng kể mới có thể phân công lao động, chuyên môn hoá, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy xã hội phát triển Tuy nhiên, khi dân số đã đạt tới 7 tỷ người thì quy mô và tiếp tục gia tăng đã đặt ra những vấn đề rất nghiêm trọng đe doạ quá trình phát triển, đặc biệt ở những nước nghèo

Như vậy, cả lý luận và thực tế đều chứng tỏ tồn tại mối quan hệ hai chiều, chuyển hoá nhân quả giữa dân số và phát triển Có thể biểu diễn mối quan hệ này qua Sơ đồ1.2 sau:

Xã hội

Trang 4

Sơ đồ 1.2: Quan hệ Dân số và Phát triển

Quy mô, cơ cấu và phân bố dân số theo lãnh thổ tác động đến kinh tế, xã hội và môi trường, tức là đến sự phát triển Đến lượt nó, các kết quả này sẽ tác động mạnh đến mức sinh, mức chết và di cư Khi quy mô, cơ cấu, phân bố dân số tác động tiêu cực hoặc tích cực đến phát triển, nhà nước sẽ có chính sách dân số thích hợp nhằm điều chỉnh mức sinh, mức chết và di cư Mức sinh, mức chết cao hay thấp, di cư nhiều hay ít lại đưa tới việc xác định Quy mô, cơ cấu và phân bố dân số ở một lãnh thổ nhất định, tại một thời điểm nhất định Quá trình tương tác nói trên lại tiếp diễn

Từ những bằng chứng và phân tích trên rõ ràng tồn tại mối quan hệ chặt chẽ hai chiều giữa một bên là dân số và bên kia là sự phát triển

2 Khái niệm phát triển kinh tế - Mối quan hệ giữa Dân số và Phát triển kinh tế:

2.1 Khái niệm Phát triển kinh tế là sự tăng thu nhập bình quân đầu người (theo Ngân hàng Thế

giới, 1991)

Thu nhập bình quân đầu người (tính theo năm) là tổng thu nhập quốc gia chia cho tổng dân số Có hai cách tính tổng thu nhập quốc gia:

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất

cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá

sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product ) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi dân số của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định không kể

làm ra ở đâu (trong nước hay ngoài nước)

Một mặt rất quan trọng của phát triển kinh tế là vấn đề phúc lợi xã hội Phát triển kinh tế không chỉ bao gồm tăng sản lượng, tăng sức sản xuất mà nó còn bao hàm cả khả năng tiêu thụ những sản phẩm cần thiết cho việc nâng cao đời sống Như vậy phát triển kinh tế bao gồm những tiêu chí như: tăng thu nhập, việc làm ổn định, phát triển giáo dục, có sức khỏe tốt, tiêu thụ nhiều thực phẩm hơn và ở trong những căn nhà đầy đủ tiện nghi, được đáp ứng những dịch vụ công cộng như nước sạch, điện, giao thông, giải trí, phòng chống cháy nổ

2.2 Dân số và nguồn lao động

Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế với ưu thế là kinh tế tri thức và về công nghệ với

ưu thế là công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin thì việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển bền vững Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số lượng và chất lượng Mục tiêu của sự phát triển là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự

phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển

2.2.1 Các khái niệm:

Dân số trong độ tuổi lao động: bộ phận dân số có đủ sức khỏe, trí tuệ, khả năng lao động

sáng tạo, gắn với độ tuổi nhất định (nam: 15-59 tuổi; nữ 15-54 tuổi)

Việc so sánh số người “ngoài độ tuổi lao động” và số người “trong độ tuổi lao động cho

ta tỷ số dân số trong độ tuổi phụ thuộc (tỷ số phụ thuộc chung) Đây là chỉ số thường được dùng làm chỉ báo về gánh nặng kinh tế mà bộ phận dân số sản xuất phải cáng đáng Những nước có mức sinh rất cao thường có tỷ số phụ thuộc cao nhất và một bộ phận lớn dân số là trẻ em

Tỷ lệ phụ thuộc dân số: DR =

P0-14+ P60+

x 100

P15-59

Dân số hoạt động kinh tế: bao gồm tất cả những người có thể cung cấp sức lao động cho

các hoạt động sản xuất ra các hàng hóa kinh tế hoặc các dịch vụ trong khoảng thời gian lưạ chọn

Trang 5

10

đối với cuộc điều tra kể cả đối với những người làm trong lĩnh vực dân sự và trong lực lượng vũ

trang

Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm:

- Người làm việc nhà;

- Học sinh, sinh viên;

- Người hưởng lợi tức, thu nhập mà không phải làm việc (do đầu tư, tài sản

cho thuê, tiền bản quyền phát minh sáng chế, quyền tác giả hay hưởng thụ do các

năm làm việc trước đó);

- Những người khác: nhận được trợ cấp, các hỗ trợ có tính chất tư nhân khác

và những người không thuộc một lớp nào trong các lớp người kể trên, ví dụ trẻ em

Bảng 2.1: Tỷ lệ phụ thuộc qua các năm, 1989-2014

Dependency ratio in the period, 1989-2014

Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (0-

14 tuổi) - Child dependency

ratio (0-14)

69,8 54,2 35,4 36,1 34,9 34,6 35,4 33,8

Tỷ lệ phụ thuộc người già

(65+) - Old dependency ratio

(65+)

8,4 9,4 9,3 9,9 10,1 10,3 10,6 10,2

Tỷ lệ phụ thuộc chung

Total dependency ratio

78,2 63,6 44,7 46,0 45,0 44,9 46,0 44,0

Đơn vị tính - Unit %

Nguồn: TCTK, Điều tra biến động dân sốvà KHHGĐ 1/4/2013

TCTK, Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014

Source: GSO, The 1/4/2013 population change and family planning survey

GSO, The 2014 Vietnam Intercensal population and housing surv

Khi “Tỷ số phụ thuộc” giảm đến 50 trở xuống, tức là cứ 100 người trong độ tuổi “hoạt động

kinh tế” thì chỉ có không quá 50 người ở độ tuổi “phụ thuộc”, người ta nói rằng, đây là cơ cấu dân số “vàng”

Cơ hội do cơ cấu “vàng” mang lại là số người trong độ tuổi hoạt động kinh tế nhiều, số người phụ thuộc ít có thể nâng cao tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, điều này cũng gây

ra thách thức về nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm

2.2.2 Một số thước đo cơ bản:

• Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (CLFPR-Crud Labour Force Participation

Rate): là tỷ số giữa dân số hoạt động kinh tế và tổng dân số (%) Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu

phần trăm dân số của mỗi giới tham gia vào lực lượng lao động Tỷ lệ này bị ảnh hưởng bởi cấu trúc dân số

• Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (GLFPR-General Labour Force Participation

Rate) : là tỷ số giữa số người tham gia hoạt động kinh tế và số người trên một độ tuổi nào đó

• Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo giới và tuổi (ASSLFPR-Age, Sex

Specific Labour Force Participation Rate): là tỷ lệ giữa số người tham gia hoạt động kinh tế ở

một độ tuổi của một giới trên số dân tương ứng ở độ tuổi/nhóm tuổi của giới đó

Cả hai chỉ số GLFPR và ASSLFPR không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu tuổi, giới

nên có thể sử dụng để so sánh giữa các vùng hoặc giữa các quốc gia

Cả ba chỉ tiêu trên đều có thể tính cho thành thị, nông thôn, cho các vùng trong nước và các nhóm dân số khác nhau

2.3 Mối quan hệ giữa dân số và nguồn lao động:

Trang 6

Dân số và nguồn lao động có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Dân số là cơ sở tự nhiên hình thành nên nguồn lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội Nguồn lao động là

bộ phận dân số trong tuổi lao động và có khả năng lao động - bộ phận dân số chủ lực và năng động nhất trong dân số, nó quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động sản xuất của xã hội Quan hệ dân số

- lao động và việc làm ở nước ta có những đặc trưng sau:

- Việt Nam có quy mô dân số lớn và phát triển nhanh nên quy mô của lực lượng lao động cũng rất lớn và thường phát triển nhanh hơn so với tổng dân số và nhanh hơn so với số chỗ làm việc được tạo thêm Điều này có nghĩa là cung lao động lớn hơn cầu, dẫn tới số thất nghiệp tích luỹ tăng lên và tình trạng thiếu việc làm khá phổ biến

- Tuy số lượng lao động lớn nhưng chất lượng lao động lại thấp Năm 2009, tỷ lệ lao động được đào tạo từ sơ cấp trở lên chưa đến 14% Sức khoẻ của người lao động kém thể hiện qua các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, tình trạng bệnh tật, Nguyên nhân của tình trạng chất lượng lao động thấp, một phần là trước đây mức sinh cao, trẻ em không được chăm sóc và ít được đi học

- Cơ cấu lao động theo ngành nghề của Việt Nam thể hiện tình trạng lạc hậu của nền kinh

tế Năm 2009, lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm 51,9% Trong khi đó, nước ta đất nông nghiệp ít, nên tình trạng thất nghiệp, nông nhàn phổ biến mọi nơi và ở mức cao

- Vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ nên đã tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động từ các vùng khác, tạo ra dòng di dân ngày càng lớn Với những đặc trưng kể trên, vấn đề tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động trở thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội cấp bách nhất của nước ta hiện nay

2.3 Gia tăng dân số và phát triển kinh tế

2.3.1 Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế:

Quan sát mức gia tăng dân số và thành tựu kinh tế ở các nước sẽ thấy một thực tế tương phản sâu sắc là: Các nước đã phát triển, mức GDP bình quân đầu người rất cao song tỷ lệ gia tăng dân số lại rất thấp do mức sinh thấp Ngược lại, đối với nhiều nước chậm phát triển, trong khi mức bình quân GDP đầu người rất thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lại cao, gấp hàng chục lần so với các nước đã phát triển (Bảng 2.2)

Bảng 2.2: GDP bình quân đầu người và chỉ tiêu dân số ở một số nước, năm 2010

Nước

GDP/người (Đô

la Mỹ)

Tỷ suất sinh thô (‰)

Tỷ suất chết thô

‰)

Tỷ lệ tăng dân

số (%)

Các nước đã phát triển

Các nước kém phát triển

Nguồn: http://esa.un.org/

Rõ ràng, ở các nước kém phát triển, nâng cao đời sống nhân dân hay đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế là nhiệm vụ cốt lõi Vấn đề đặt ra là: Gia tăng dân số nhanh hay chậm có ảnh hưởng như thế nào đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế ?

Khi dân số tăng lên thì lực lượng lao động cũng tăng với tốc độ thường cao hơn tốc độ tăng dân số Một số nguồn tài nguyên như đất đai, mặt nước lại có hạn Vì thế, số lao động trên

Trang 7

12

một đơn vị diện tích đất đai tăng lên Điều này có thể làm cho tổng sản phẩm tăng lên nhưng sản phẩm bình quân đầu người, thậm chí là bình quân cho một lao động lại giảm đi

Khi dân số tăng nhanh có thể làm cho chất lượng nguồn nhân lực giảm xuống hoặc ở mức

thấp và hầu như không cải thiện được Điều này trước hết liên quan đến việc cung cấp không đầy

đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em và cả người lao động, trình độ học vấn thấp và lao động phần lớn không được đào tạo Do đó, năng suất lao động không cao, khiến cho Tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm

Tỷ lệ gia tăng GNP, tỷ lệ gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng GNP/đầu người có mối liên hệ như sau:

Tỷ lệ gia tăng GNP BQQĐN = Tỷ lệ gia tăng GNP – Tỷ lệ gia tăng dân số

 Như vậy để tăng được chỉ tiêu GNP tính trên đầu người (GNP per capita) thì tổng sản phẩm quốc dân phải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số Tốc độ gia tăng dân số giảm cũng sẽ làm tăng GNP bình quân đầu người

2.3.2 Gia tăng dân số và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế

Phát triển kinh tế đòi hỏi không những tăng trưởng kinh tế mà còn cả dịch chuyển cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá dẫn đến dịch chuyển cơ cấu lao động Việc dịch chuyển cơ cấu lao động theo ngành kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế - xã hội nhưng đối với các nước đang phát triển và nước ta, dân số đã làm chậm quá trình chuyển đổi này với những lý do sau:

Một là, mức sinh ở nông thôn (nơi lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp) thường cao

hơn rất nhiều, thậm chí gấp đôi so với thành thị (nơi lực lượng lao động chủ yếu làm công nghiệp và dịch vụ)

Hai là, sản xuất công nghiệp và dịch vụ thường đòi hỏi vốn lớn Trong khi đó, mức sinh và

tỷ lệ phụ thuộc cao đã hạn chế tích luỹ mở rộng các ngành kinh tế cần nhiều vốn này

Ba là, do mức sinh cao nên lực lượng lao động ở nông thôn đông đảo, phần lớn là lao động

giản đơn, ít có cơ hội đào tạo nghề Năm 2009, ở nông thôn lao động đã qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật chỉ chiếm 8% dân số từ 15 tuổi trở lên Vì vậy, khó chuyển đổi sang công nghiệp

và dịch vụ là những khu vực đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn

2.3.3 Tác động của kinh tế đến dân số

Kinh tế tác động đến dân số thông qua việc tác động đến mức sinh, mức chết và di cư Các nước giàu có thì mức sinh, mức chết, nhất là mức chết trẻ em đều thấp, còn các nước nghèo đói thì ngược lại Mối quan hệ ngược chiều giữa kinh tế và mức sinh do các nguyên nhân chính như sau:

Trang 8

Thứ nhất, một nền kinh tế phát triển, dựa trên công cụ sản xuất hiện đại, cơ giới hóa, tự

động hóa thường có nhu cầu lao động ít về số lượng nhưng cao về chất lượng Điều này sẽ thúc đẩy các cặp vợ chồng sinh đẻ ít để dành nguồn lực chăm sóc con cái về sức khỏe, giáo dục và đào tạo nghề

Thứ hai, khi kinh tế phát triển, con người có thể nảy sinh nhiều nhu cầu để nâng cao chất

lượng cuộc sống, đòi hòi chất lượng cao hơn đối với việc thỏa mãn các như cầu: học tập, nhà ở, phương tiện đi lại, chăm sóc sức khỏe, du lịch, vui chơi, giải trí,…Các nguồn lực, kể cả thời gian dành cho việc sinh con và chăm sóc con sẽ phải “cạnh tranh” với các nhu cầu này Đẻ ít như một giải pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa các nhu cầu nói trên

Thứ ba, ở các nước giàu có, việc sinh con không có mục tiêu kinh tế mà đơn thuần là

thỏa mãn nhu cầu về tình cảm Trong khi đó chi phí nuôi con lại lớn Do vậy mức sinh thấp Ở các nước nghèo thì tình hình ngược lại Chế độ kinh tế cũng tác động mạnh đến mức sinh Chế

độ bao cấp, nhất là bao cấp trong nuôi, dạy và phòng, chữa bệnh cho trẻ em sẽ khuyến sinh Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, cha mẹ có trách nhiệm trang trải chi phí cho các dịch vụ nuôi dạy trẻ Do đó cũng dẫn đến hạn chế sinh

Đối với mức chết, nghèo đói thường đi đôi với tình trạng suy dinh dưỡng, mù chữ, mất vệ sinh, hệ thống y tế kém phát triển, … Những yếu tố này sẽ nâng cao tỷ lệ bệnh tật và tử vong Nghèo đói đôi khi trực tiếp làm cho mức chết tăng lên Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, năm

2011, ở vùng Sừng Châu Phi, hàng chục ngàn người đã chết đói, khoảng 12 triệu người có nguy

cơ tử vong do không có thức ăn

Đối với di cư, ở những nơi giàu có, kinh tế phát triển, mức sống cao tạo nên lực hút cho di

cư đến Ngược lại, những vùng nghèo đói, việc làm ít, tạo ra lực đẩy nên xuất cư mạnh

Do tác động đến cả mức sinh, mức chết và di cư, đương nhiên đến quy mô, cơ cấu, phân

bố và chất lượng dân số

Để xã hội phát triển, những người lao động phải sản xuất không chỉ đủ tiêu dùng cho họ

mà cho cả những người phụ thuộc vào họ và còn phải nhiều hơn thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất

Vì vậy, ở các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em thường lớn, nên tích luỹ nhỏ và tăng chậm Trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”, lao động nhiều, nếu đủ việc làm và việc làm có thu nhập cao sẽ tạo ra tích lũy lớn

2.3.4 Mối quan hệ dân số và đói nghèo:

Theo Liên hợp quốc, có 2 loại đói nghèo:

Đói nghèo tuyệt đối: là tình trạng 1 bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu

cơ bản tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống

Đói nghèo tương đối: là tình trạng 1 bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng

Chỉ tiêu đói nghèo: Ngân hàng thế giới sử dụng mức chi tiêu 1USD/người/ngày hay 365 USD/người/năm Các nước phát triển như nước Mỹ quy định những gia đình có mức thu nhập bình quân/năm dưới 13680 USD là nghèo đói

Tại Việt Nam, theo Nghị định số: Số: 07/2021/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2021 – 2025 quy định như sau:

Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 (điều 2 của NĐ)

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 -

2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ

Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2022 -

2025 (điều 3 của NĐ)

1 Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025

Trang 9

14

a) Tiêu chí thu nhập

- Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng

- Khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng

b) Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và

vệ sinh; thông tin

- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin c) Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này

2 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025

a) Chuẩn hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên b) Chuẩn hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản

c) Chuẩn hộ có mức sống trung bình

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

d) Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình quy định tại Khoản 2 Điều này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh

xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025

Tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Hiện nay, ở các nước có thu nhập thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lại cao Điều này làm hạn chế việc nâng cao tỷ lệ gia tăng GNP bình quân đầu người và số tuyệt đối của chỉ tiêu này Hậu quả là số người sống trong nghèo đói tăng lên và việc giải thoát khỏi đói nghèo thêm khó khăn hơn, chậm chạp hơn

Vì vậy, chương trình xoá đói, giảm nghèo hết sức chú ý tới giải pháp kế hoạch hoá gia đình Đối với các nước phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số thấp tạo điều kiện tăng nhanh GNP bình quân đầu người Kết quả của các xu hướng biến đổi nói trên làm cho khoảng cách giàu - nghèo giữa các nước đang phát triển và các nước đã phát triển ngày càng xa

Phát triển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến dân số cả về số lượng và chất lượng Người ta đã nhận thấy GDP có tương quan nghịch với tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi Những nước có kinh tế phát triển, đầu tư ngân sách cho y tế sẽ cao hơn, tiến bộ khoa học kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh tật cũng như hạn chế sinh đẻ hoặc sinh đẻ với số con mong muốn, đúng thời gian và khoảng cách Các hệ thống dịch vụ và điều kiện khác như giao thông vận tải, giáo dục, nhà ở, vui chơi giải trí cũng góp phần đáng kể nâng cao chất lượng dân số Các nước chậm phát triển đang ở trong vòng luẩn quẩn: Để giảm mức sinh, cần phải có điều kiện vật chất kỹ thuật, cần phải phát triển kinh tế, song để có thể phát triển kinh tế lại cần hạn chế tốc độ tăng dân số

3 Những thách thức đặt ra cho Việt Nam quá trình phát triển kinh tế hiện nay

Trang 10

Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, quy mô dân số nước ta là 96,2 triệu người Như vậy, nước ta đã tăng thêm 1,5 triệu người so với cùng kỳ năm 2018, tương đương tỷ lệ tăng dân số là 1,56%, không đạt kế hoạch năm 2019 (chỉ tiêu dân số là 95,7 triệu người, tỷ lệ tăng dân số là 1,06%) (Báo cáo của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tại Lễ mít tinh kỷ niệm Ngày dân số thế giới 11/7, ngày 11/7/2019)

Bên cạnh đó, theo Tổng cục Thống kê, tổng tỷ suất sinh cả nước năm 2019 là 2,09 con, đây là năm thứ ba liên tiếp mức sinh dưới mức sinh thay thế (năm 2017 là 2,04 con, năm 2018 là 2,05 con) Tuy nhiên, hiện nay, mức sinh rất khác biệt giữa các vùng miền, khu vực (phụ lục tài liệu (6) Quyết định số: 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020)

Tính đến thời điểm ngày 01/4/2019, tỷ số giới tính khi sinh trên cả nước là 111,5 bé trai/100 bé gái Tuy nhiên, kết quả Tổng cục Dân số tổng hợp từ các tỉnh, thành phố, tính đến ngày 31/12/2019, con số này là 108 bé trai/100 bé gái Như vậy, nếu so kế hoạch đặt ra là 114 bé trai/100 bé gái thì đã hoàn thành chỉ tiêu khống chế tỷ số giới tính khi sinh Tuy tỷ số giới tính khi sinh năm 2019 đã giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở mức cao Đặc biệt, năm 2019, tỷ lệ người sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng tăng; tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt và vượt kế hoạch đề ra; công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được chú trọng, số người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần/năm ngày càng tăng Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em mới sinh được sàng lọc sơ sinh là 40%, tăng 2% so với năm 2018 nhưng không đạt kế hoạch (chỉ tiêu là 70%) (Báo cáo của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tại

Lễ mít tinh kỷ niệm Ngày dân số thế giới 11/7, ngày 11/7/2019) Dân số Việt Nam hiện đã bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 khi tỷ lệ những người từ 60 tuổi trở lên đạt 10% và sớm trở thành nước có dân số già vào khoảng năm 2032 khi tỷ lệ này chạm “ngưỡng” 20% Trong khi

đó, những người cao tuổi hiện nay phần lớn là những người đã trải qua thời kỳ chiến tranh, nghèo khó nên sức khỏe yếu; hơn 70% sống ở nông thôn, phần lớn không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…

Hiện dân số Việt Nam tăng nhanh, thị trường của ta cũng rất lớn nhưng thu nhập bình quân người dân vẫn thấp, phải làm sao nghiên cứu vượt ngưỡng thu nhập trung bình “khắc phục tình trạng chưa giàu đã già”

Mặc dù đã có những điều chỉnh chính sách, quy định theo hướng làm tăng mức sinh, song ở hầu hết những nơi mức sinh đã xuống thấp, chưa có dấu hiệu tăng mức sinh trở lại, thậm chí vẫn tiếp tục giảm, nhất là các tỉnh phía Nam Trong khi tại phía Bắc, mức sinh không ổn định, một số nơi đã tăng cao trở lại

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng thừa nam thiếu nữ đã ở mức cao, ngày càng lan rộng, cả thành thị và nông thôn Tâm lý ưa thích con trai; lạm dụng khoa học, công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi ngày càng phổ biến

Dân số vàng của nước ta mới chỉ đạt tiêu chí về số lượng; chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng suất lao động còn hạn chế; chưa có nghiên cứu chuyên sâu để đề ra giải pháp, ban hành cơ chế chính sách đồng bộ phát huy lợi thế dân số vàng

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, trong khi các điều kiện kinh tế - xã hội chưa được chuẩn bị tốt để kịp thích ứng

Về chất lượng dân số, hiện nay chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp, chậm được cải thiện Tuổi thọ bình quân cao nhưng số năm trung bình sống khỏe mạnh còn thấp Tỷ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em và suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn cao, chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền

Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn khá phổ biến ở một số dân tộc thiểu số Việc bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số dưới 10 nghìn người còn hạn chế, đặc biệt là dân tộc rất ít người

Chúng ta cũng đang tồn tại những hạn chế về phân bố dân số và di cư Từ năm 1989 đến nay, di dân diễn ra với cường độ mạnh, chủ yếu là từ nông thôn đến thành thị, đa số là người trẻ tuổi, nữ nhiều hơn nam Dự báo di cư tiếp tục tăng trong thời gian tới

Ngày đăng: 16/11/2022, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Chí Liêm, Dân số học, Hà nội, Nhà xuất bản Y học, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
2. Jeni Klugman, Human Development Reports 2011, UNDP, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Development Reports 2011
4. Tổng cục dân số - KHHGĐ, Tài liệu môn dân số và phát triển, Tài liệu dùng cho các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình đạt chuẩn viên chức dân số, , Hà Nội, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu môn dân số và phát triển: Tài liệu dùng cho các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình đạt chuẩn viên chức dân số
Tác giả: Tổng cục dân số - KHHGĐ
Nhà XB: Tổng cục dân số - KHHGĐ
Năm: 2014
5. Quyết định Số: 14/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 09 năm 2018: về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Số: 14/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 09 năm 2018: về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2018
6. Quyết định số: 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt "Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt "Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2020
3. Tạp chí Dân số và Phát triển, http://www.gopfp.gov.vn, Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w