Lời giới thiệu Trong khi dân số thế giới sẽ chính thức cán mốc 7 tỉ người vào ngày 31/10 thì tổ chức Liên Hợp Quốc LHQ vừa cho biết con số này sẽ còn tăng lên rất nhanh và đến năm 2100,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
BỘ MÔN: SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG
BÀI BÁO CÁO: MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ
Chủ đề: Dân số Thế giới và Việt Nam qua các thời kì.
Ảnh hưởng của việc tăng dân số với môi trường
Trang 2
Huế
Trang 3Lời giới thiệu
Trong khi dân số thế giới sẽ chính thức cán mốc 7 tỉ người vào ngày 31/10 thì tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) vừa cho biết con số này sẽ còn tăng lên rất nhanh và đến năm 2100, dân số thế giới sẽ đạt ít nhất 10 tỉ và
có thể lên tới 15 tỉ người nếu tỉ lệ sinh chỉ cần cao hơn một chút so với dự báo.Trong bản báo cáo trước thềm lễ kỷ niệm ngày 31/10 ghi dấu ấn người thứ 7 tỉ ra đời, Quỹ Dân số LHQ (UNFPA) cảnh báo sự gia tăng dân số này tạo ra sức ép vô cùng to lớn đối với việc xóa đói giảm nghèo cũng như bảo vệ môi trường Giám đốc điều hành UNFPA Babatunde Osotimehin khẳng định: “Đây là một thách thức mà cần phải hành động ngay Vấn đề dân số là vấn đề vô cùng quan trọng đối với nhân loại và cả Trái Đất”
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng thế giới nên tập trung vào cách thức giúp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn thay vì chỉ lo lắng về con số Ông cũng kêu gọi chú trọng tới quyền của phụ nữ và những người trẻ tuổi để giúp kiểm soát được tình trạng dân số toàn cầu
UNFPA cho biết các dự báo mới cho biết dân số toàn cầu sẽ đạt mốc 9,3 tỉ người vào năm 2050, tăng hơn so với con số dự báo trước đó
và hơn 10 tỉ người vào cuối thế kỷ này Mặc dù vậy, báo cáo của tổ chức trên cũng khẳng định “chỉ cần có thay đổi nhỏ về tỉ lệ sinh, đặc biệt là ở những nước đông dân nhất, dân số thế giới có thể tăng cao hơn: đến năm
2050 có thể là 10,6 tỉ người và hơn 15 tỉ người vào năm 2100”
Dân số thế giới qua các thời kì:
Trang 4- Khoảng 2.000 năm trước: Dân số thế giới vào khoảng 300 triệu người.
- Năm 1800: 1 tỉ người
- Năm 1927: 2 tỉ người
- Năm 1959: 3 tỉ người
- Năm 1974: 4 tỉ người
- Năm 1987: 5 tỉ người
- Năm 1999: 6 tỉ người
- Năm 2011: 7 tỉ người
- Đến năm 2050: Dự kiến khoảng 9,3 tỉ người
- Đến năm 2100: Dự kiến khoảng 10 tỉ người
(Nguồn: UNFPA)
Mỗi năm dân số thế giới có thêm khoảng 80 triệu người, tương đương với dân số của Đức, Việt Nam hoặc Êtiôpia Số người trong độ tuổi dưới
25 chiếm 43% dân số thế giới
Lý do chính khiến dân số thế giới tăng trong các thập kỷ vừa qua là do
sự Bùng nổ dân số trong những năm 1950 và 1960
Tuổi thọ trung bình tăng từ mức khoảng 48 tuổi trong đầu những năm
1950 lên khoảng 68 trong thập niên đầu tiên trong thiên niên kỷ mới Tỉ
lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 2/3
Châu Á chiếm 4,2 tỉ người và dự kiến sẽ đạt 5,2 tỉ người vào năm 2052 trước khi giảm dần Trung Quốc là đất nước có số dân lớn nhất thế giới, với 1,35 tỉ người, sau đó là Ấn Độ 1,24 tỉ người Vào năm 2025, Ấn Độ
sẽ có số dân là 1,46 tỉ người, qua đó vượt Trung Quốc khi đó mới có 1,39
tỉ người
Trang 5Dân số Việt Nam qua các thời kì:
Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người
so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm
Trong đó:
- Thời kỳ 1921 - 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;
- Thời kỳ 1943 - 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và sốngười bị chết trong chiến tranh
- Thời kỳ 1957 - 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng
3,08%/năm;
- Thời kỳ 1976 - 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng
2,21%/năm;
- Thời kỳ 1985 - 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng
1,60%/năm; riêng thời kỳ 2000 - 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm
Như vậy, mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh
Với quy mô gần 86,2 triệu người, Việt Nam là nước đông dân thứ 12 trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Nhật Bản, Mexico, Philippines
Trang 6Mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp trên 5 lần và đứng thứ 41 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp hơn 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á, cao gấp đôi và đứng thứ 16/50 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á
Việt Nam có tỷ lệ tăng tự nhiên hiện ở mức 1,2%, cao thứ 8 ở Đông Nam Á, cao thứ 32 ở châu Á và đứng thứ 114 trên thế giới Đó là kết quả tích cực của công tác kế hoạch hóa dân số từ khá sớm
Tuổi thọ bình quân đạt 72 tuổi (nam 70 tuổi, nữ 73 tuổi), đứng thứ 4 ở Đông Nam Á, đứng thứ 20 ở châu Á và đứng thứ 83 trên thế Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm
1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm
Việt Nam có tỷ lệ tăng tự nhiên hiện ở mức 1,2%, cao thứ 8 ở Đông Nam Á, cao thứ 32 ở châu Á và đứng thứ 114 trên thế giới Đó là kết quả tích cực của công tác kế hoạch hóa dân số từ khá sớm
Trang 7Sự gia tăng dân số tác động đến môi trường như thế nào?
Tác động môi trường của sự gia tăng dân số thế giới có thể mô tả bằng công thức tổng quát:
I= P x A x T
Trong đó:
I là ảnh hưởng lên môi trường
Trang 8P là dân số (bao gồm kích cỡ, sự gia tăng dân số và sự phân bố dân số)
A là mức độ giàu có (sự tiêu dùng trên một đầu người)
T là công nghệ được sử dụng để cung cấp cho mức độ tiêu dùng
Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên
thế giới biểu hiện ở các khía cạnh:
- Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp v.v
- Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
- Sự chênh lệch về độ phát triển dân số giữa các tốc nước công nghiệp hoá và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá
Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức
- Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư Ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn
Trang 9- Do dân số tăng nhanh, đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm nên
dù năng suất lúa có tăng nhanh, bình quân lương thực đầu người vẫn tăng chậm
Dân số tăng nhanh như hiện nay đã gây ra hệ quả nhiều mặt từ công
ăn việc làm, phát triển kinh tế, lương thực đến nhà ở, học hành, văn hóa, y tế và phần nào tác động tiêu cực đến môi trường sống với những dấu hiệu cụ thể như:
- Tác hại của môi trường đối với con người chủ yếu là những tổn thất về sức khỏe, năng suất lao động và các tác hại khác: Sức khỏe, niềm hạnh phúc của con người bị giảm sút do ốm đau và chết yểu, vì suy thoái chất lượng nước và không khí, vì những nguy hiểm khác của môi trường Các chất gây ô nhiễm có thể làm nảy sinh những vấn đề về y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp do sự thay đổi môi trường vật lý, tác động của nó trải rộng từ việc tăng bức xạ ánh sáng mặt trời đến việc giảm dinh dưỡng Sức khỏe
bị suy yếu làm giảm năng suất lao động của con người và sự suy thoái môi trường làm giảm hiệu năng của nhiều nguồn tài nguyên mà con người sử dụng trực tiếp
- Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, rừng nước ta bị tàn phá một cách nhanh chóng Trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng nước
ta đã bị giảm hơn một nửa, từ 19 triệu ha xuống còn 9 triệu ha, bình quân mỗi năm giảm 200 ngàn ha Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài khai thác gỗ và các loại lâm sản một cách bừa bãi, còn do nhu cầu lương thực cho số dân tăng quá nhanh đòi hỏi phải phá rừng mở rộng diện tích canh tác Một số dân tộc ít người có tập quán du canh, du cư, rừng sau khi đốt phát thành nương rẫy chỉ gieo trồng được vài ba vụ là lại phải di chuyển sang nơi khác phá rừng làm nương rẫy mới Quá trình trên cứ lặp đi lặp
Trang 10lại hết đời này sang đời khác làm cho diện tích rừng tự nhiên nhanh chóng bị thu hẹp lại Rừng không chỉ là nguồn cung cấp gỗ mà còn có các chức năng xã hội và sinh thái rộng lớn Diện tích rừng giảm sút, diện tích đất trống, đồi trọc tăng lên làm lũ lụt xảy ra nhiều hơn
- Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số và mật độ dân số cao trên thế giới Nền kinh tế nước ta chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, cho nên dân số tăng cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên, gồm cả tài nguyên đa dạng sinh học, ngày càng sử dụng nhiều hơn Dân số tăng đã gây sức ép lớn đến tài nguyên do nhu cầu sử dụng đất để canh tác nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng tăng, dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ồ ạt, gây tác động lớn đến các hệ sinh thái tự nhiên Từ đó, tài nguyên sinh vật ngày càng cạn kiệt, số lượng các loài ngày càng ít đi, khối lượng các quần thể sinh vật ngày càng suy giảm, nguồn gen ngày càng nghèo nàn
- Dân số gia tăng và tình trạng khan hiếm nước đang đẩy thế giới đến trước nguy cơ khủng hoảng lương thực và môi trường Tình trạng này chỉ
có giảm thiểu nếu áp dụng các phương pháp kỹ thuật nông nghiệp hiệu quả hơn, sử dụng hệ sinh thái thông minh hơn
Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) và Viện Quản lý nước quốc tế (IWMI) mới đưa ra cảnh báo nói trên Tuần lễ Nước thế giới 2011 (22-28/8) Dự kiến mới nhất cho hay, dân số thế giới dự kiến sẽ tăng từ 7 tỷ người năm 2011 lên ít nhất 9 tỷ người trong năm 2050, làm gia tăng nhu cầu về nước và làm trầm trọng hơn tình trạng Trái Đất nóng dần lên do biến đổi khí hậu Khoảng 1,6 tỷ người đang sống ở những vùng khan hiếm nước, nhưng con số này sẽ nhanh chóng lên tới 2 tỷ nếu thế giới tiếp tục cách thức sử dụng nước như hiện nay
Trang 11Với tốc độ sử dụng nước cho nông nghiệp, đô thị hóa và sản xuất thực phẩm, lượng nước sử dụng trong nông nghiệp sẽ tăng từ 70-90% so với mức 7.130 km3 hiện nay để nuôi sống số dân 9 tỷ người vào năm 2050 Trong khi đó, các vùng sản xuất lương thực chính đều đang phá vỡ
ngưỡng sử dụng nước, bao gồm các vùng đồng bằng ở miền Bắc Trung Quốc, ở Punjab (Ấn Độ) và ở Hoa Kỳ
Việc áp dụng các phương pháp kỹ thuật nông nghiệp nhằm nâng cao sản lượng và mở rộng diện tích canh tác sẽ dẫn đến thảm họa khó tránh khỏi
là làm suy thoái hoặc phá hủy hoàn toàn nguồn nước sạch trên Trái Đất
và hệ sinh thái ven biển, các yếu tố giữ vai trò quan trọng đảm bảo sự sống
- Trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển, nhưng thường đi kèm với đó lại là các
phương thức khai thác thiếu tính bền vững; các họat động khai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mong muốn tối đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường, hoặc không có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, cùng với
cơ chế quản lý lỏng lẻo của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất, Vấn đề khai thác tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển ở nhiều khu vực, quốc gia ngày càng đứng trước nhiều thách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm đến mức báo động
Trang 12Kết quả nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, FAO và các tổ chức quốc tế khác đều chỉ ra rằng, hiện khoảng hơn 80% lượng cá toàn cầu đã bị khai thác, trong đó có đến 25% lượng cá toàn cầu bị khai thác quá mức
(overexploited) hoặc bị khai cạn kiệt (depleted), trong khi nhiều loài sinh vật biển khác đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt khi sản lượng đánh bắt giảm đến 90% trong những năm gần đây
Bên cạnh thực trạng nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản biển, tài
nguyên dầu khí và những nguồn tài nguyên biển không tái tạo khác đang
bị khai thác quá mức, thiếu tính bền vững, nạn phá hủy rạn san hô, thảm
cỏ biển, rừng ngập mặn cũng ngày một tăng ở nhiều nơi trên thế giới Theo ước tính, cỏ biển đã mất 30 – 60% và rừng ngập mặn – chiếm 1/3 diện tích rừng thế giới – mất đến 70% và khoảng 11% các rạn san hô trên toàn cầu đã bị phá hủy hoàn toàn trước năm 1998 Trong vòng 20 năm qua, các nước Đông Nam Á đã mất đi 12% số rạn san hô, 48% số rạn san
hô khác đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng Các rạn san hô thường là môi trường sống của khoàng 1/4 các loài cá, đồng thời còn là nơi cư trú của các loài sinh vật biển khác Sự mất dần của các rạn san hô
và sẽ khiến lượng cá bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí còn dẫn đến sự tuyệt chủng của một số sinh vật biển do chúng không còn nơi để cư trú và sinh sản Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà còn gây phát sinh nhiều vấn đề kinh tế-xã hội do sự thiếu hụt thực phẩm cung cấp cho những cư dân sống ở các đảo và các vùng ven biển, kéo theo những cuộc di dân hàng loạt từ các vùng ven biển vào các vùng trung tâm…
Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai thác, sử dụng không hợp lý và thiếu tính bền vững, môi trường biển ở nhiều khu vực trên trái đất đang chịu nhiều thách thức và các mối đe dọa trầm trọng
Trang 13khi dân cư ven biển ngày càng tăng, các họat động kinh tế ven biển ngày càng phát triển, nhiều cửa sông ven biển bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị thải ra cùng với nạn phá hủy rừng ngập mặn ngày càng tăng, và sự gia tăng về tần suất và mức độ ảnh hưởng của thiên tai bão lũ do biến đổi khí hậu …
Trong một báo cáo của Trung tâm về các giải pháp đại dương (Center for Ocean Solutions) xuất bản vào tháng 5 năm 2009 với tựa đề “Hệ sinh thái và Con người của Thái Bình dương: Các mối đe dọa và Cơ hội hành động”, với sự tham gia của hơn 30 nhà khoa học thuộc các lĩnh vực tự nhiên, vật lý và xã hội, từ nguồn thông tin, dữ liệu phân tích tổng hợp của
3400 bài báo, báo cáo khoa học của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, báo cáo đã nêu chi tiết về các mối đe dọa chính đối với môi trường biển
và đại dương, các ảnh hưởng của chúng và đưa ra lộ trình cùng với các biện pháp đối phó với những mối đe dọa này Theo kết quả nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo, trong các mối đe dọa chính mà môi trường biển đang phải đối mặt tại 50 quốc gia và vùng lãnh thổ này gặp phải, tại các nước giàu cũng như nước nghèo, tại các quốc gia, quần đảo, khu vực đông hay thưa dân cư đều có một điểm rất chung ớ mức rất phổ biến và đang ở mức độ báo động đó là:
(i) Ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ đất liền và từ biển,
(ii) Phá hủy nơi cư trú tự nhiên,
(iii) Khai thác và đánh bắt cá quá mức,
(iv) Tác động của biến đổi khí hậu,
(v) Cuối cùng, các mối đe dọa đối với môi trường đó là: sự xâm nhập của các loài ngoại lai và các mối đe cộng hưởng của các mối đe dọa kể trên