1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI tập lớn học kỳ Kinh tế vi mô

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hàng hóa công cộng – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tập lớn học kỳ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,56 KB
File đính kèm Bai tap lon hoc ky Kinh te vi mo 1 HLU.zip (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ MÔN KINH TẾ HỌC VI MÔ Đề 05 Hàng hóa công cộng – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Bài được 9 điểm Bài được 9 điểm Bài được 9 điểm Điều quan trọng nhắc lại 3 lần. Chúc các bạn thành công

Trang 1

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

MÔN KINH TẾ HỌC VI MÔ

Đề 05 : Hàng hóa công cộng – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 2

I Lý thuyết về Hàng hóa công cộng (HHCC) 2

1 Khái niệm hàng hóa công cộng (HHCC) 2

2 Nguyên nhân ra đời Hàng hóa công cộng 2

3 Đặc điểm của hàng hóa công cộng (HHCC) 3

4 Phân biệt các loại hàng hóa công cộng 3

a Hàng hóa công cộng thuần túy (Pure Public Goods) 3

b Hàng hóa công không thuần túy (Impure Public Goods) 4

II Thực tiễn về Hàng hóa công cộng ở Việt Nam 4

1 Thực tiễn một số HHCC điển hình 4

a Giáo dục 4

b Y tế 5

c Giao thông vận tải 6

d Bưu chính viễn thông 6

e Một số dịch vụ khác 6

2 Những vấn đề gặp phải trong cung cấp HHCC ở Việt Nam 7

a Hiệu quả cung cấp HHCC thấp 7

b Bộ máy hành chính nhà nước còn nhiều bất cập 8

c Thiếu hụt ngân sách trong cung cấp HHCC 9

3 Giải pháp: Đổi mới cung cấp HHCC 9

a Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung cấp HHCC 9

b Cải thiện chất lượng HHCC của khu vực Nhà nước 10

c Tăng cường giám sát của cộng đồng đối với việc hoạch định chính sách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công 10

PHẦN KẾT LUẬN 11

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

“Sản phẩm xã hội” hay “hàng khuyến dụng” hay “hàng hóa công cộng”

(social product or merit good or public good) là hàng hóa hay dịch vụ như giáo

dục, y tế do chính phủ cung cấp vì lợi ích xã hội hay một nhóm dân cư nhất định Không có mối liên hệ trực tiếp giữa việc chi tiêu dùng sản phẩm xã hội và việc trả tiền cho chúng Mọi người trả tiền cho sản phẩm xã hội bằng cách nộp thuế theo luật thuế, chứ không phải bằng cách mua hàng hóa trên thị trường

Và nâng cao hiệu quả sử dụng hàng hóa công cộng là một vấn đề cấp thiết trong xã hội mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam ta nói riêng hiện nay Khi mà chủ thể cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cộng ở nước ta vẫn chủ yếu là Nhà nước, thì ngân sách quốc gia gặp nhiều khó khăn, gánh nặng Trong khuôn khổ bài viết này, em sẽ đề cập, giải thích và đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I Lý thuyết về Hàng hóa công cộng (HHCC)

1 Khái niệm hàng hóa công cộng (HHCC)

Trong kinh tế học, Hàng hóa công cộng hay dịch vụ công cộng là hàng

hóa và dịch vụ mang hai tính chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ; theo

đó không thể loại trừ một cách hiệu quả các cá nhân khỏi việc sử dụng hàng hóa công cộng và việc một cá nhân sử dụng loại hàng hóa này không làm ảnh hưởng đến giá trị và tính có thể sử dụng của nó đối với cá nhân khác Theo Gravelle và Rees: "Đặc điểm xác định hàng hóa công cộng là việc tiêu dùng của một cá nhân không thực sự hay có khả năng làm giảm giá trị sẵn có để nó được tiêu dùng bởi cá nhân khác"

Nói tóm lại hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Ví dụ: Lợi ích của quốc phòng, chương trình y tế quốc gia, chương trình giáo dục công cộng

2 Nguyên nhân ra đời Hàng hóa công cộng

Có thể thấy Hàng hóa công cộng là hàng hóa hữu ích cho xã hội, không thể hoặc rất khó khăn để chia nhỏ hàng hóa thành từng đơn vị tiêu dùng (khẩu phần) và lợi ích tiêu dùng HHCC chỉ có thể hưởng thụ chung giữa tất cả mọi người, việc người này tiêu dùng không làm giảm lợi ích thụ hưởng của người khác Vì vậy nó không dễ gì ngăn cản những cá nhân không đóng góp tài chính

để cung cấp tiêu dùng chúng, khi đó học thành những “kẻ ăn không” Điều này đặc biệt khó khăn nếu khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa này vì học không có khả năng cưỡng chế các cá nhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp trong khi đó Chính phủ có thể khắc phục phần nào được vấn đề ăn

Trang 5

không này bằng cách buộc cá nhân phải đóng góp bắt buộc thông qua thuế, rồi

sử dụng thuế thu được để tài trợ cho việc sản xuất và cung cấp HHCC

3 Đặc điểm của hàng hóa công cộng (HHCC) : Để một hàng hóa trở thành

hàng hóa công cộng, hàng hóa đó cần phải thỏa mãn 1 hoặc 2 đặc điểm sau:

Một là, nó không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở hữu

cá nhân về hàng hóa ấy Thật khó để buộc mọi người phải trả tiền trực tiếp khi

sử dụng hàng hóa mà không dành riêng cho mình, bởi vì nếu không trả tiền trực tiếp, họ cũng không thể hưởng thụ được hàng hóa ấy

Hai là, việc sử dụng hàng hóa công của người này không ảnh hưởng đáng

kể đến việc sử dụng của người khác bởi vì chi phí tăng thêm để tiêu dùng hàng hóa tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không Tuy nhiên, không phải bất

kì một hàng hóa được gọi là hàng hóa công nào cũng đảm bảo một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, mà tùy theo mức độ bảo đảm, mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hóa công Đó là hàng hóa công thuần túy và hàng hóa công không thuần túy

4 Phân biệt các loại hàng hóa công cộng

a Hàng hóa công cộng thuần túy (Pure Public Goods)

Hàng hóa công cộng thuần túy là loại hàng hóa công cộng không thể định suất sử dụng và việc định suất sử dụng là không cần thiết Có nghĩa là mọi người đều có thể sử dụng hàng hóa, mức độ sử dụng phụ thuộc vào nhu cầu của

họ và các quy định chung

Trong nhiều trường hợp mức độ này không thể định suất hoặc định suất

sẽ không có hiệu quả Như vậy hàng hóa công cộng thuần túy là loại hàng hóa

Trang 6

công cộng phải đảm bảo được đặc điểm đầu tiên là hàng hóa thuộc quyền sở hữu công cộng, không thể loại trừ các cá nhân sử dụng chúng

Hàng hóa công cộng thuần túy bảo đảm một phần của đặc điểm thứ hai, bao gồm: chương trình quốc phòng, chương trình y tế, chương trình phòng chữa cháy, hải đăng, chương trình phổ thông giáo dục… Nhưng nó không bảo đảm đặc điểm thứ hai bao gồm: không khí trong sạch, sông ngòi ao hồ, đường sá có mật độ lưu thông cao

b Hàng hóa công không thuần túy (Impure Public Goods)

Là hàng hóa công có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ các cá nhân sử dụng nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định Như vậy hàng hóa công cộng không thuần túy là loại hàng hóa công cộng không đảm bảo được điều kiện đầu tiên nhưng bảo đảm được điều kiện thứ hai Có nghĩa là hàng hóa công cộng không thuần túy hoàn toàn có thể thuộc quyền sở hữu của một cá nhân nào đó và do đó nó có thể được định suất và loại trừ các cá nhân khác trong việc sử dụng Tuy nhiên, việc tiêu dùng hàng hóa của người này cũng không làm ảnh hưởng đáng kể đến việc tiêu dùng của người khác

II Thực tiễn về Hàng hóa công cộng ở Việt Nam

1 Thực tiễn một số HHCC điển hình

a Giáo dục

Nếu như năm 1945 nước ta còn 95% người dân mù chữ, thì đến thời điểm hiện tại cả nước đã có hơn 97% người dân biết chữ Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học Từ năm 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi 15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung

Trang 7

bình của người dân đạt 7,3 năm Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh

Bên cạnh việc không ngừng tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục từ 8,6% năm 1985 tăng lên 12,3% năm 2003, Nhà nước ta đã tích cực vận động, thu hút vốn ODA, tài trợ của các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi Với mức chi cho giáo dục - đào tạo hàng năm hiện nay tương đương 20% tổng chi ngân sách nhà nước, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới đầu tư cho Giáo dục- đào tạo cao nhất

Tuy nhiên, do quy mô nền kinh tế còn nhỏ, trong khi nước ta lại có dân số trẻ, số lượng người đi học rất lớn, ngân sách đầu tư cho linh vực này còn chưa đáp ứng được nhu cầu So với các nước trên thế giới và với cả cơ sở đào tạo có yếu tố nước ngoài, cơ sở giáo dục xã hội hóa, thì mức học phí của nước ta rất thấp, cơ sở vật chất cho GD&ĐT vừa thiếu, vừa lạc hậu

b Y tế

Trong lĩnh vực Y tế, hệ thống y tế nhà nước đã được xây dựng và phát triển tương đối rộng khắp Nhà nước nay đã có quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân Tổng chi cho Y tế năm 2010 của Việt Nam chiếm khoảng 7% GDP Trong đó chi tiêu từ ngân sách nhà nước chiếm 3% GDP, phần còn lại là chi tiêu tư cho y tế, chủ yếu là các khoản chi từ tiền túi của người bệnh

Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng chi phí cho Y tế Một nghiên cứu do Tổ chức Y tế thế giới kết hợp với Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện cho thấy năm 2010 có 2,5% số hộ gia đình bị rơi vào cảnh đói nghèo và 3,9% số hộ gia đình phải đối mặt với khó khăn về tài chính do các khoản chi phí khám chữa bệnh gây ra

Trang 8

c Giao thông vận tải

Lĩnh vực cung ứng dịch vụ vận tải thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế, chủ yếu là vận tải đường ô tô và đường sông, còn vận tải đường hàng không và vận tải biển vẫn tập trung chủ yếu trong tay các công ty nhà nước

Vốn đầu tư cho ngành giao thông 3 năm (2009-2011) khoảng 181.324 tỷ đồng, bình quân 60.441 tỷ đồng/năm, trong đó vốn trung ương(TW) chiếm 61% vốn địa phương chiếm 39% (Các dự án vốn TW thì ngân sách nhà nước chiếm 35,6%; Trái phiếu chính phủ 40% và ngoài ngân sách 24,3%)

Có thể thấy ngành giao thông vận tải chủ yếu do nhà nước đảm nhận, khu vực tư nhân gần như chưa tham gia vào lĩnh vực này Nhìn chung, nhu cầu đi lại

và kinh doanh của người dân được đáp ứng tốt hơn; song chất lượng dịch vụ chưa cao Tình trạng tắc nghẽn giao thông ở các đô thị chưa được khắc phục Tai nạn giao thông tiếp diễn nghiêm trọng

d Bưu chính viễn thông

Việc cung ứng dịch vụ bưu chính viễn thông có bước phát triển mạnh Trước thời kỳ đổi mới, dịch vụ viễn thông chủ yếu nhằm phục vụ cho các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và một số cơ sở sản xuất Đối với người dân, điện thoại khi đó còn là một thứ rất xa xỉ Đến năm 1990, cả nước mới có 114 nghìn chiếc điện thoại, với mật độ 0,17 máy/100 dân Cùng với chính sách cải cách kinh tế

và mở cửa, ngành bưu chính viễn thông trong một thời gian ngắn đã thay đổi căn bản từ một hệ thống lạc hậu sang mạng kỹ thuật số hiện đại mở rộng cả cho các vùng nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo, đảm bảo thông tin nội địa

và quốc tế thông suốt

e Một số dịch vụ khác

- Cấp nước đô thị : Hệ thống cấp nước tại các đô thị được đầu tư xây dựng bằng

nhiều nguồn vốn khác nhau, từ năm 1998 đến nay tổng mức đầu tư cho cấp nước đô thị khoảng 19.000 tỷ đồng (nguồn vốn nước ngoài chiếm khoảng 80%)

và kết quả đạt được: khoảng 449/755 đô thị có hệ thống cấp nước sạch tập

Trang 9

trung, tổng công suất thiết kế đạt khoảng 6,1 - 6,2 triệu m3/ngày đêm, mức sử dụng nước sạch đạt bình quân 90 lít/người/ngày, tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước đạt 76%, tỷ lệ thất thoát trung bình đã giảm từ 40% năm 2000 xuống còn khoảng 30% năm 2010

- Thoát nước và xử lý nước thải : Hầu hết các cô thị tỉnh lị đã và đang được

đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước, hiện có 7 đô thị có trạm xử lý nước thải sinh hoạt đang hoạt động với các công suất khác nhau , 11 đô thị đang triển khai các dự án xây dựng hệ thống thoát nước và 11 đô thị khác đang triển khai công tác đấu thầu thiết kế hoặc thi công xây dựng Tổng công suất các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị khoảng 315.000m3/ngày đêm

- Dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị : Tỷ lệ

thu gom trung bình đạt 82% Tỷ lệ thu hồi các thành phần có khả năng tái chế

và tái sử dụng khoảng 20-25% Công tắc phân loại CTR tại hộ gia đình cũng đang ở giai đoạn triển khai thí điểm tại một số phường, xã ở Hà Nội và TP HCM Công nghệ xử lý CTR chủ yếu được sử dụng hiện nay là chôn lấp và chế biến chất thải hữu cơ thành phân compost; công nghệ đốt rác mới chỉ tập trung

xử lý chất thải rắn nguy hại y tế

- Dịch vụ về cung cấp điện và chiếu sáng đô thị : Tại các đô thị loại đặc biệt và

loại I, II đã có 90% các tuyến đường chính cấp đô thị được chiếu sáng, tại các

đô thị loại III, IV, tỷ lệ này chiếm gần 80% Các đô thị loại IV và loại V tập trung chiếu sáng đường phố chính chủ yếu là những đoạn quốc lộ, tỉnh lộ đi qua

đô thị Việc sử dụng rộng rãi nguồn sáng, thiết bị chiếu sáng tiết kiệm cũng đã

và đang được triển khai tại các địa phương

2 Những vấn đề gặp phải trong cung cấp HHCC ở Việt Nam

a Hiệu quả cung cấp HHCC thấp

Các HHCC này nhìn chung không chỉ thiếu về số lượng, mà chất lượng phục vụ còn thấp do khối lượng HHCC Nhà nước tiếp nhận cung ứng trực tiếp

Trang 10

còn quá lớn trong khi hệ thống cung cấp HHCC còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện

Sự độc quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc cung ứng một số HHCC là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả cung ứng HHCC thấp Tình trạng độc quyền đã làm tăng tính quan liêu, cửa quyền của Bộ máy nhà nước Hoạt động dưới sự bao bọc của Nhà nước, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm cung cấp HHCC chưa thực sự phải đối mặt với cạnh tranh và nguy

cơ phá sản nên chưa có động lực để giảm chi phí, hạ giá thành và nâng cao hiệu quả cung cấp HHCC Có thể thấy rõ trong ngành điện, với sự độc quyền của EVN, giá điện tăng liên tục ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của người dân

b Bộ máy hành chính nhà nước còn nhiều bất cập

Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước đang bộc lộ nhiều điểm yếu, không phù hợp với chức năng của nền hành chính nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường và do đó không có khả năng cung ứng những hàng hóa, dịch vụ mà thực

tế đòi hỏi Hệ thống thể chế hành chính còn chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự kỷ cương chưa nghiêm Phương thức tổ chức bộ máy hành chính chưa có khoa học, còn cồng kềnh, vừa tập trung quan liêu, vừa phân tán; chưa có những

cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức cung ứng HHCC

Một yếu tố cơ bản khác làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng cung ứng HHCC của Nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn và kỹ năng hành chính, tệ nạn quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một

bộ phận cán bộ, công chức

Trang 11

c Thiếu hụt ngân sách trong cung cấp HHCC

Mặc dù nguồn kinh phí từ ngân sách cho hoạt động sự nghiệp tăng nhanh hơn các lĩnh vực khác, song vẫn ở mức rất hạn chế, không đảm bảo được chi phí cần thiết của các đơn vị nhà nước cung cấp HHCC Mức ngân sách hạn hẹp như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cung cấp HHCC, làm thu hẹp diện dịch

vụ được cung ứng cũng như chất lượng dịch vụ, trước hết là không đủ trả lương thỏa đáng cho cán bộ, nhân viên trong các ngành cung ứng HHCC, nhất là các giáo viên, cán bộ y tế, công nhân vệ sinh môi trường, tiếp đó là không đáp ứng được yêu cầu phát triển Trong khí ấy, nhu cầu của nhân dân về các lĩnh vực này đang tăng lên nhanh chóng với đòi hỏi cao hơn về chất lượng khi mức sống ngày một cải thiện Thực trạng này dẫn đến những bất cập trong việc cung cấp HHCC của Nhà nước, đồng thời làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực, phá hủy nền tảng đạo đức của xã hội

3 Giải pháp: Đổi mới cung cấp HHCC

a Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung cấp HHCC

Thực ra, việc khu vực phi nhà nước cung cấp HHCC đã có từ thời xa xưa Lịch sử cho thấy rằng, hầu hết các dịch vụ y tế đều được thực hiện trên cơ sở tư nhân bởi những bà đỡ, các thầy lang Cho đến thế kỷ XX nhà nước mới giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội như giáo dục và y tế, và ngày nay, trong trào lưu cải cách nhà nước trên khắp thế giới, việc cung cấp HHCC lại được chuyển từng phần thích hợp cho khu vực phi nhà nước và đang trở thành một xu thế phát triển

Bằng việc chuyển hoạt động cung cấp HHCC cho khu vực tư nhân, nhà nước có thể sử dụng cạnh tranh giữa các nhà cung ứng dịch vụ với nhau để có được nhà cung ứng dịch vụ có hiệu quả nhất Chính vì thế, thúc đẩy cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giữa khu vực công và tư đang là một mục tiêu được nhiều nước hướng tới nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng

Ngày đăng: 09/11/2022, 08:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w