Trong những năm gần đây, cùng với sự đi lên của toàn cầu, nước ta cũng đạt được những thành tựu nhất định về khoa học kĩ thuật ở các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu,…Nhưng bên cạnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của CN Mác Lênin về thất
nghiệp và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên sinh viên: Cao Thị Khánh Huyền
Mã sinh viên: 11218918
Lớp tín chỉ: LLNL1106(122)_24
Số thứ tự: 24
Hà Nội, tháng 10/2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
I Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp
1. Bản chất của thất nghiệp
2. Một số khái niệm liên quan đến thất nghiệp
3. Phân loại thất nghiệp
II Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
1. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam
2 Nguyên nhân thất nghiệp
3 Một số giải pháp giảm tỷ lệ thất nghiệp
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, thế giới đã có không ít bước nhảy vọt về nhiều mặt, đưa văn minh nhân loại ngày càng trở nên tân tiến Trong những năm gần đây, cùng với sự đi lên của toàn cầu, nước ta cũng đạt được những thành tựu nhất định về khoa học kĩ thuật ở các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu,…Nhưng bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm và có những hành động để giảm thiểu tối đa như tệ nạn xã hội, thất nghiệp, lạm phát,…Có quá nhiều vấn nạn trong xã hội ngày nay cần được giải quyết nhưng có lẽ vấn đề gây nhức nhối và được quan tâm hàng đầu hiện nay chính là thất nghiệp
Để có thể trình bày một cách rõ ràng tình hình thất nghiệp dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, từ đó liên hệ với thực tiễn, khái quát thực trạng thất nghiệp của Việt Nam trong những năm gần đây, em quyết định chọn đề tài nghiên cứu này và đề ra một
số giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng thất nghiệp
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp
1 Bản chất của thất nghiệp
Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản Ở xã hội cộng đồng xã hội nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc Trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm Ngay cả trong xã hội nô lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài Các nền kinh tế theo học thuyết Mác – Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động)
Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp
2 Một số khái niệm liên quan đến thất nghiệp
- Thất nghiệp là những người trong lực lượng lao động xã hội không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm
- Lực lượng lao động xã hội là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu lao động
- Tỉ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động
3 Phân loại thất nghiệp
- Theo đặc trưng của người thất nghiệp: Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng
đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào… Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế Với mục đích
đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:
Thất nghiệp chia theo giới tính
Thất nghiệp theo lứa tuổi
Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ
Trang 5 Thất nghiệp chia theo ngành nghề
Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc
- Phân theo lý do thất nghiệp: Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt rõ thất nghiệp
tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc Trong nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề, cấp bậc) Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ Vì thế xảy ra hiện tượng:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người
lao động khống muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…) Thất nghiệp loại này thường là tạm thời
Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người
lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động…
Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng
xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp, thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động
- Phân theo nguồn gốc thất nghiệp:
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng
của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…
Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung- cầu lao động
(giữa các ngành nghề, khu vực…) Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh
tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải
Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao
động giảm xuống Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu (Còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái
Trang 6của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý
thuyết cổ điển Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều nhiều quốc gia (Chính phủ hoặc công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm
II Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2019
Việt Nam có tỷ lệ thất nghiệp thấp
Đổi mới kinh tế và chính trị trong 30 năm qua đã thúc đẩy phát triển kinh tế và nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008 Mặc dù vậy, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp nói riêng và hệ thống an sinh xã hội nói chung tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện để phục
vụ tốt người lao động, do đó đa số người dân phải làm mọi công việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thường thấp hơn so với các nước đang phát triển Theo kết quả TĐTDS&NO 2019, tỷ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là 2,05%; trong đó theo giới tính thì tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15 tuổi trở lên là 2,00%, còn ở
nữ giới là 2,11%
Bên cạnh đó, Kết quả TĐTDS&NO 2019 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của người dân ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự khác biệt khá lớn Việt Nam có tới 65,57% dân số cư trú ở khu vực nông thôn nhưng tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn lại thấp hơn gần hai lần so với khu vực thành thị Tỷ lệ thất nghiệp chung của người dân từ 15 tuổi trở lên ở nông thôn chỉ có 1,64% (trong đó ở nam giới là 1,59%, ở nữ giới là 1,69%); trong khi đó ở thành thị, tỷ lệ này lên tới 2,93% (trong đó ở nam giới là 2,86%, còn ở nữ giới là 3,01%) Sự khác biệt về cơ hội tiếp cận thông tin về việc làm, trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng lựa chọn công việc linh hoạt của người lao động có thể là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này
Tính theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp cao nhất cả nước với 2,65% dân số; tại đây tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 2,96%,
Trang 7ở nông thôn là 2,14%; còn theo giới tính thì nữ giới lại có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới trong Vùng với mức tương ứng là 2,71% và 2,60% Đứng thứ 2 là Đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ thất nghiệp chiếm 2,42% số dân trong vùng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ 2,14% 2 Vùng kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất cả nước lần lượt là Trung du và miền núi phía Bắc 1,20% và Tây Nguyên 1,50%
Biểu 1: Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính, thành thị, nông thôn và vùng kinh tế - xã hội
(theo số liệu của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019)
Đơn vị: %
Chung
Thành thị, nông thôn Giới tính Thành
thị Nông thôn Nam Nữ
TOÀN QUỐC 2,05 2,93 1,64 2,00 2,11
Trung du và miền núi phía Bắc 1,20 2,15 1,02 1,22 1,18
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Đồng bằng sông Cửu Long 2,42 3,39 2,12 2,07 2,87
Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thuộc về nhóm lao động có trình độ cao đẳng (3,19%), tiếp đến
là nhóm có trình độ đại học (2,61%) Nhóm có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn lại là những lao động trình độ thấp hơn như trung cấp (1,83%), sơ cấp (1,3%) và không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (1,99%) Riêng đối với nhóm có trình độ trên đại học, do nhu cầu cao về trình độ chuyên môn trong thời kỳ đổi mới nên có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất (chỉ 1,06%) Các số liệu cũng cho thấy, hầu như ở các trình độ chuyên môn kỹ thuật tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới luôn cao hơn so với nam giới, đặc biệt đối với nhóm lao động có trình
độ sơ cấp (có tỷ lệ 4,57%)
Trang 8Biểu 2: Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính, thành thị, nông thôn và trình độ chuyên môn kỹ thuật ( theo số liệu của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019)
Đơn vị: %
Chung Thành thị, nông thôn
Giới tính Thành thị Nông thôn Nam Nữ
Cơ cấu dân số của những người thất nghiệp
Theo Kết quả TĐTDS&NO 2019, những người thất nghiệp thường có độ tuổi khá trẻ; Hầu hết nguồn thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 tuổi (chiếm tới 91,7% tổng số người thất nghiệp của cả nước); trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15-54 tuổi cao hơn nữ giới trong cùng độ tuổi, tương ứng là 92,6% tổng số nam giới thất nghiệp và 90,9% tổng
số nữ giới thất nghiệp Người trong độ tuổi từ 25-54 tuổi có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, chiếm gần một nửa tổng số lao động thất nghiệp của cả nước (47,3%); và thực trạng này
ở khu vực thành thị lên tới 52,7% và ở khu vực nông thôn là 42,9%
Điều đáng nói là Kết quả Tổng điều tra cũng chỉ ra rằng, đối với tỷ lệ lao động thất nghiệp theo trình độ tốt nhất đạt được, người thất nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động thất nghiệp (18,9%) trong khi người thất nghiệp chưa được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn hạn (bao gồm: Sơ cấp, trung cấp) chiếm tỷ trọng thấp hơn rất nhiều (6,6%)
Trang 9Biểu 3: Tỷ lệ lao động thất nghiệp theo giới tính, nhóm tuổi và thành thị, nông thôn
(theo số liệu của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019)
Đơn vị: %
Các chuyên gia lý giải có hiện trạng này là do nhóm lao động có trình độ chuyên môn thấp thường sẵn sàng làm các công việc giản đơn và không đòi hỏi chuyên môn cao với mức lương thấp trong khi những người có trình độ học vấn cao lại cố gắng tìm kiếm công việc với mức thu nhập phù hợp hơn Ngoài ra, chính sách tuyển lao động của các nhà tuyển dụng đối với nhóm lao động có trình độ cao cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ này, bởi yêu cầu đối với lao động đã qua đào tạo ở các trình độ càng cao càng khắt khe hơn so với lao động giản đơn và cũng do nhóm lao động đã qua đào tạo thường có yêu cầu về mức thu nhập cao hơn nhóm lao động giản đơn
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội ngày nay, thất nghiệp đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu, không loại trừ một quốc gia nào từ những nước nghèo đói cho đến những nước đang phát triển hay có nền công nghiệp phát triển Do vậy, các số liệu cụ thể
về tình trạng thất nghiệp từ Kết quả TĐTDS&NO 2019 sẽ góp phần làm rõ nét hơn bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam; để từ đó Chính phủ có chiến lược cụ thể giảm tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 102 Nguyên nhân thất nghiệp
- Thiếu định hướng nghề nghiệp
Sinh viên khi thiếu định hướng nghề nghệp sẽ dẫn đến việc hconj ngành nghề không phù hợp với bản thân Điều này sẽ gây ra tình trạng chán nản, chần chừ không muốn tìm việc vì không biết nên tìm công việc gì là tốt nhất cho mình
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp
Việt Nam có nguồn lao động vô cùng dồi dào nhưng chất lượng chưa cao Trong bối cảnh toàn cầu hóa đồng thời khoa học công nghệ phát triển thì trình độ chuyên môn ký thuật của người lao động Việt Nam chưa đạt yêu cầu Có những công việc yêu cầu về trình độ đào tạo cũng như đào tạo chuyên môn cao và một bộ phận lớn người lao động không đáp ứng được
- Thiên tai, dịch bệnh
Thiên tai có thể ảnh hưởng đến bộ phận lớn trong lực lượng lao động tại những vùng bị thiệt hại, khiến họ bị mất việc trong một khoảng thời gian dài
Covid-19 là một dịch bệnh nguy hiểm, lây lan qua đường hô hấp vì thế mà phải hạn chế tiếp xúc và áp dụng giãn cách xã hội Điều này dẫn đến hầu hết những công việc phải dừng lại Tình hình dịch bệnh kéo dài đã làm biết bao người lao động mất việc làm, thậm chí nhiều công ty, doanh nghiệp phải phá sản vì không thể cẩm cự
- Mức lương chưa hấp dẫn
Mức lương ở thị trường lao động chưa thực sự hấp dẫn với người lao động Nhiều lao động vẫn còn loay hoay tìm việc vì mức lương của thị trường không xứng đáng với trình độ của họ
3 Một số giải pháp giảm tỉ lệ thất nghiệp
- Hướng nghiệp hiệu quả và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực
Công tác giáo dục và đào tạo phải phù hợp với yêu cầu và thực tế phát triển của nền kinh tế, vì thế ngành giáo dục phải không ngừng cải cách chương trình, nội dung cũng như phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp mà đặc biệt quan tâm đến giáo dục ở bậc đại học và dạy nghề cho phù hợp với thực tế Đào tạo nghề cần căn
cứ trên định hướng phát triển kinh tế, coi trọng công tác dự báo nhu cầu lao động theo các trình độ
Định hướng, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Kéo dài thời gian học nghề và nâng cao trình độ trung bình Đào tạo và nâng cao năng lực hệ thống quản
lý lao động – việc làm, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện cho người lao động học tập suốt đời
Trang 11- Người lao động tự nâng cao chuyên môn kĩ thuật
Khi có điều kiện và cơ hội, bản thân người lao động nên chủ động học hỏi, tiếp thu
và cập nhật những kiến thức mới để nâng cao chuyên môn và tay nghề của mình
Đó là cách giúp người lao động tăng cơ hội tìm kiếm việc làm và thăng tiến trong công việc, đồng thời thu nhập cá nhân cũng sẽ tăng lên
- Bảo hiểm thất nghiệp
Người lao động nên tham gia bảo hiểm thất nghiệp để khi họ mất việc làm sẽ có một khoản tiền trang trải cho cuộc sống và có cơ hội tìm một công việc mới Hơn nữa, bảo hiểm thất nghiệp còn hỗ trợ người lao động học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm (Điều 42 Luật việc làm 2013) Điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp là phải đóng bảo hiểm thất nghiệp
đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật
- Kích cầu
Sự giảm sút của tổng cầu là nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và công nhân bị thất nghiệp Vì vậy, cần thiết phải có
sự can thiệp của Nhà nước nhằm nâng cao tổng cầu trong nền kinh tế Trong học thuyết của Keynes, ông đã nhấn mạnh tới các công cụ và chính sách kinh tế mà Nhà nước có thể sử dụng đẻ tác động tới nền kinh tế nhằm nâng cầu, bao gồm các công cụ và chính sách kinh tế như: chính sách khuyến khích đầu tư, công cụ tài chính và chính sách tài khóa, công cụ tiền tề và lãi suất của Chính phủ
- Mở rộng các trung tâm giới thiệu việc làm
Nhà nước tiếp tục mở rộng thêm các trung tâm giới thiệu việc làm nhằm kết nối cung và cầu lao động Việc này giúp người lao động rút ngắn thời gian tìm việc làm cũng như thời gian tuyển dụng của các doanh nghiệp
- Tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội
Năm 2020 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 15/2020/QĐ-TTg về thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, hỗ trợ lao động bị giảm sâu thu nhập, có mức sống dưới mức sống tối thiểu với 62 nghìn tỷ Hỗ trợ này của Chính phủ đã giúp hơn 20 triệu đối tượng lao động bị ảnh hưởng do COVID-19