Trong tình thế chung của toàn cầu, Việt Nam với phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN TM&KTQT -
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Trần Mai Anh
Mã SV: 11217502 Lớp: Kinh tế chính trị Mác – Lênin (221)_21
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
I Lý luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế 3
1 Khái niệm 3
2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế 3
3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 4
II Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 5
1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 5
2 Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển của Việt Nam 7
2.1 Tác động tích cực 7
2.2 Tác động tiêu cực 11
III Giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 13
1 Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức 13
2 Xây dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động hội nhập KTQT 14
3 Đổi mới sáng tạo công nghệ 15
4 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu phân tích, dự báo 16
5 Nâng cao năng lực cạnh của doanh nghiệp 17
6 Nâng cao năng lực cán bộ hội nhập 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và
có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan
hệ giữa con người với con người Trong thực tế đời sống, giữa con người vớicon người cần phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau để có thể tồn tại và pháttriển Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải có sựliên kết, kết nối với các quốc gia khác
Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòihỏi các quốc gia phải nỗ lực mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực
và quốc tế Đây chính là một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
Trong tình thế chung của toàn cầu, Việt Nam với phương châm “đa dạng
hóa, đa phương hóa quan hệ” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, phát triển”,
cũng đã và đang từng bước tiến bộ và chủ động để hội nhập kinh tế quốc tế Đây
là một vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện naycũng như trong tương lai Trong quá trình hội nhập, Việt Nam cùng nội lực dồidào sẵn có kết hợp với ngoại lực sẽ nhanh chóng nắm bắt thời cơ để có thể pháttriển kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội to lớn giúp mởrộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút các vốn đầu tư nước ngoài, tiếpnhận những khoa học công nghệ tiên tiến và đặc biệt hơn nữa là những kinhnghiệm của các nước phát triển kinh tế Chính vì vậy, chúng ta cũng cần phảinắm rõ được thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước để từ đó đưa rađược những giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tếcủa Việt Nam
Với mong muốn tìm hiểu rõ bản chất, thực trạng của quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ra thế giới nên em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Thực
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam”.
Trang 42 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
“Toàn cầu hóa là quá trình tạo ra liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càngtăng giữa các quốc gia trên quy mô toàn cầu Toàn cầu hóa diễn ra trên nhiềuphương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, … Trong đó, toàn cầu hóa kinh
tế là xu thế nổi trội nhất vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúcđẩy toàn cầu hóa các lĩnh vực khác.”
“Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượtqua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nềnkinh tế trong sự vận động và phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thốngnhất.”
Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, việc hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tấtyếu khách quan, bởi vì: “Toàn cầu hóa kinh tế đã lôi cuốn tất cả các nước có hệthống phân công lao động quốc tế, các mối liên hệ quốc tế giữa sản xuất và traođổi ngày càng gia tăng, khiến cho nền kinh tế của các nước trở thành một bộphận hữu cơ và không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu Trong toàn cầu hóakinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên phạm vi toàn cầu Do đó nếukhông thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế các nước không thể tự đảm bảo đượccác điều kiện cần thiết cho sản xuất buôn bán trong nước Hội nhập kinh tế quốc
tế mang đến cơ hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đã và đangxuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được các thành tựu của cách mạng côngnghiệp, biến nó thành động lực cho sự phát triển.”
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của
các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay
Trang 5Đối với các nước đang và kém phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội
để họ tiếp cận và sử dụng các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học công nghệ, kinh nghiệm của các nước cho phát triển Khi các nước tư bản giàu
-có, nhất các công ty xuyên quốc gia đang nắm trong tay những nguồn lực vậtchất và phương tiện hùng mạnh nhất để tác động lên toàn thế giới thì chỉ có pháttriển kinh tế mở và hội nhập quốc tế, các nước đang và kém phát triển mới cóthể tiếp cận được những nguồn lực này cho quá trình phát triển của mình
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường có thể giúp cho các nước đang và kémphát triển có thể tận dụng thời cơ phát triển rút ngắn thu hẹp khoảng cách vớicác nước tiên tiến, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng rõ rệt
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở cửa thị trường, thu hút vốn, thúc đẩy côngnghiệp hóa, tăng tích lũy, tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao mức thunhập tương đối của các tầng lớp dân cư
Tuy nhiên, điều cần chú ý ở đây là chủ nghĩa tư bản hiện đại với ưu thế về vốn
và công nghệ đang ”ráo riết thực hiện ý đồ chiến lược” biến quá trình toàn cầuhóa thành quá trình tự do hóa kinh tế và áp đặt chính trị theo quỹ đạo tư bản chủnghĩa Điều này khiến cho các nước đang và kém phát triển phải đối mặt vớikhông ít rủi ro, thách thức, nhất là: gia tăng sự phụ thuộc do nợ nước ngoài, tìnhtrạng bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch - thương mại giữa các nước đangphát triển và phát triển Bởi vậy các nước đang và kém phát triển cần phải cóchiến lược hợp lý tìm kiếm các đối sách phù hợp để thích ứng với quá trình toàncầu hóa đã bình diện và đầy nghịch lí
3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập hiệu quả, thành
công
Hội nhập kinh tế quốc tế là một việc tất yếu Tuy nhiên, đối với Việt Nam, việchội nhập kinh tế quốc tế không phải bằng mọi giá Quá trình hội nhập phải đượccân nhắc kỹ lưỡng với lộ trình rõ ràng và cách thức tối ưu, do đó đòi hỏi phải có
sự chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện thích hợp trong nội bộ nền kinh tế cũng nhưcác mối quan hệ
Trang 6Bên cạnh đó, các điều kiện sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sựhoàn thiện và hiệu lực của thể chế, nguồn nhân lực và am hiểu môi trường quốc
tế, nên kinh tế có năng lực sản xuất thực … là những điều kiện chủ yếu để thựchiện hội nhập thành công
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế
quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ, nhiều hình thức đadạng Theo đó hội nhập kinh tế quốc tế có thể được coi là nông hay sâu tùy vàomức độ tham gia của một đất nước vào các quan hệ kinh tế đối ngoại, các tổchức quốc tế hoặc khu vực… Theo đó, mức độ cơ bản theo thứ tự từ thấp đếncao của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là: thỏa thuận thương mại ưu đãiPTA, khu vực mậu dịch Tự do FTA, liên minh thuế quan CU, thị trường chung,
…
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoạicủa một nước gồm nhiều hình thức đa dạng như: ngoại thương, đầu tư quốc tế,hợp tác quốc tế, …
II Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã và đang từng bước hội nhập vàonền kinh tế khu vực nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, mở rộng và làmsâu sắc hơn quan hệ ngoại giao với các nước trên toàn thế giới, tham gia tích cực
và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế
Trong Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng caohiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,bảo vệ môi trường” Sau đó, lần lượt trong các Đại hội lần thứ X và XI củaĐảng, chúng ta đã có thêm những bước tiến quan trọng trong nhận thức và hànhđộng hội nhập quốc tế Điển hình là việc Đảng ta đã nhấn mạnh: “Chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên cáclĩnh vực khác” hay “Thực hiện nhất quán các đường lối; đa phương hóa, đa dạng
Trang 7hóa quan hệ; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộngđồng quốc tế…” Đặc biệt, đến Đại hội XII: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh
tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiếnlược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mạiquan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệmới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đấtnước… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học -công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cùng với việc thực hiện những chủtrương đã đề ra, hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tếsâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2021, chúng ta đã có quan
hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia; có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư vớihơn 221 quốc gia và vùng lãnh thổ Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 chính là một bước tiếnquan trọng, đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới,đưa quá trình hội nhập từ cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực(ASEM năm 1996, APEC năm 1998) lên đến cấp độ toàn cầu Đặc biệt, Việt
Trang 8Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo anLiên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009, 2020-2021 và Chủ tịch Hội đồng Liênnghị viện ASEAN trong hai năm ASEAN 2010 và 2020 Đây chính là cơ hộigiúp chúng ta phát huy tiếng nói trong các khuôn khổ đa phương, cùng các đốitác tham gia quá trình định hình các cấu trúc, xây dựng luật lệ kinh tế - thươngmại phù hợp lợi ích chung.
Bên cạnh đó, liên kết kinh tế quốc tế cũng được thúc đẩy sâu rộng Nổibật là việc ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do FTA; thúc đẩythương lượng, ký kết hiệp định về những vấn đề mới như kinh tế số, thương mạiđiện tử…; xây dựng và thông qua những định hướng hợp tác dài hạn Thứ hai,nội hàm hợp tác và liên kết kinh tế được điều chỉnh sâu sắc, gắn với phát triểnbền vững, bao trùm và quá trình số hóa Thứ ba, xu hướng điều chỉnh các chuỗicung ứng, dịch chuyển các hoạt động đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh hơnsong không đơn giản và dễ dàng Tình hình này tác động nhiều chiều đến ViệtNam, nhất là khi nước ta bước vào giai đoạn hội nhập và liên kết sâu rộng Chủđộng, tích cực tham gia hiệu quả các liên kết kinh tế quốc tế tạo cơ hội giúpchúng ta tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đối tác, thu hút nguồn lực để phát triển,tranh thủ các xu hướng lớn hiện nay, nhất là tại Châu Á - Thái Bình Dương,nhằm phục hồi và tăng trưởng nhanh, bền vững
2 Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển của Việt Nam
2.1 Tác động tích cực
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là tất yếu mà còn đem lại những lợi ích tolớn trong quá trình phát triển đất nước và những lợi ích kinh tế khác nhau cho cảngười sản xuất và người tiêu dùng cụ thể là:
* Tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng tích cực
Hội nhập kinh tế quốc tế về bản chất là mở rộng thị trường để thúc đẩythương mại phát triển, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước, khai thác tối ưuđược ưu thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế, phục vụ cho mụctiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởngsang chiều sâu với hiệu quả cao
Trang 9Hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy từng bước chuyển dịch cơkinh tế theo hướng hiện đại, hiệu quả và hợp lý hơn, qua đó hình thành các lĩnhvực kinh tế mũi nhọn Từ một nền kinh tế lúa nước lạc hậu với khoảng 90% laođộng làm nông nghiệp, sau gần 40 năm đổi mới và đặc biệt là sau khi gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO , nền kinh tế Việt Nam đã có chuyển dịchtích cực: Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010xuống còn 14,8% năm 2020 Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và ứngdụng công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ngày càng tăng; tỷ trọng hàng hóaxuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 65% năm
2011 lên 85% năm 2020 Một số ngành, lĩnh vực dịch vụ ứng dụng công nghệcao được đẩy mạnh và từng bước hiện đại hóa như: công nghệ thông tin, truyềnthông, thương mại điện tử, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế,hàng không Từ đó, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của những kinh
tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp trong nước, góp phần cải thiện môi trườngđầu tư kinh doanh, làm tăng khả năng thu hút khoa học công nghệ hiện đại vàđầu tư bên ngoài vào nên kinh tế
* Tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện và tăng cường phát triển các quan
hệ thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, làm tăng cơ hội cho các đơn vịtrong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế đểthay đổi công nghệ sản xuất, tiếp cận với phương thức quản trị phát triển đểnâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam (1987), tính lũy kế đến tháng 11/2021, ở 63 tỉnh, thànhphố của cả nước đã thu hút 34.424 dự án FDI của hơn 130 quốc gia và vùnglãnh thổ tổng vốn đăng ký 405,9 tỷ USD
Bước ngoặt thu hút FDI của Việt Nam phải tính kể từ khi gia nhập Tổchức thương mại thế giới WTO năm 2007, bởi từ sau thời điểm này, dòng vốnFDI vào Việt Nam tăng rất nhanh và mạnh, biến Việt nam trở thành một trongnhững nước thu hút FDI lớn nhất trong khu vực ASEAN (sau Singapore vàIndonesia) Việt Nam cũng là số ít nước ASEAN duy trì mức tăng trưởng dòngvốn FDI ổn định Cụ thể, năm 2020, dưới ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 vàtác động của những căng thẳng thương mại giữa nhiều nền kinh tế lớn trên thế
Trang 10giới, FDI vào các nước lớn như Singapore, Thái Lan, Indonesia đều sụt giảmmạnh trong khi ở Việt Nam là không đáng kể
Đặc biệt năm 2020, Việt Nam đã nằm trong top 20 quốc gia thu hút nhiềuFDI nhất trên thế giới, đứng vị trí thứ 19, tăng 5 bậc so với năm 2019
* Góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu cho Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho xuất nhập khẩu tăng trưởngmạnh mẽ Từ đó, cải thiện tiêu dùng trong nước, người dân được thụ hưởng cácsản phẩm hàng hoá, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng vớigiá cạnh tranh
Quá trình thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan trong hội nhập kinh tếquốc tế, hoàn thiện hệ thống quản lý hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế và cắtgiảm hàng rào thuế quan đã tạo ra tác động tích cực đến hoạt động xuất nhậpkhẩu của Việt Nam Tiêu biểu là việc Việt Nam tham gia ký kết hai hiệp định:
Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) gồm 11
nước thành viên vào ngày 08/03/2018 và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
Trang 11– Liên minh Châu Âu (EVFTA) giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU vào
ngày 30/3/2020 Hiệp định EVFTA và CPTPP đều có các điều khoản tự do hóathương mại mạnh và sâu hơn so với các hiệp định thương mại tự do “truyềnthống” Cụ thể, các nước tham gia hiệp định CPTPP cam kết sẽ cắt giảm từ 97%đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùytheo cam kết của từng quốc gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Châu
Âu (EVFTA) cũng có các cam kết mạnh về thuế quan, cụ thể Việt Nam và EUcam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99% các dòng thuế trong khoảng thờigian 7 năm đối với khối Liên minh EU và 10 năm đối với Việt Nam Ngay khi
có hiệu lực, Liên minh EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 85.6% số dòngthuế, tương đương với 70.3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU Tiếp
đó sau 7 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99.2% số dòng thuế, tươngđương với 99.7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Việc cắt giảm thuế và dỡ bỏ rào cản thương mại đã tạo ra cơ hội to lớn đó
là mở rộng thị trường, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất vàcung ứng toàn cầu Theo Tổng cục Thống kê, nếu năm 2006 tổng kim ngạchxuất nhập khẩu cả nước chỉ ở mức 84,7 tỷ USD (xuất khẩu 39,8 tỷ USD), thìđến năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của nước ta đã đạt tới668,5 tỷ USD (xuất khẩu 336,25 tỷ USD), tăng 22,6% so với năm 2020 và tănghơn 7 lần so với năm 2006
* Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiếp thu khoa học công nghệ
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực vàtiềm lực khoa học công nghệ quốc gia Nhờ đẩy mạnh hợp tác giáo dục đào tạo
và nghiên cứu khoa học với các nước mà nâng cao khả năng hấp thụ khoa họccông nghệ hiện đại và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nướcngoài và chuyển giao công nghệ; kích thích ứng dụng thành tựu khoa học kỹthuật, đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế; học hỏi kinh nghiệm quản
lý từ các nước tiên tiến
* Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, cùng cố
an ninh quốc phòng