1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl mac thi mong thuong

103 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Du Lịch Và Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ven Biển Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả Mạc Thị Mộng Thương
Người hướng dẫn ThS. Lê Quang Đức
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I: Lý luận chung về du lịch và bảo vệ môi trường (14)
    • 1.1. Du lịch (14)
      • 1.1.1. Các khái niệm về du lịch và du lịch biển (14)
      • 1.1.2. Đặc trưng của ngành du lịch (15)
      • 1.1.3. Tài nguyên du lịch (16)
    • 1.2. Môi trường (20)
      • 1.2.1 Khái niêm về môi trường và môi trường biển (0)
      • 1.2.2. Các tác động của du lịch đối với môi trường (24)
      • 1.2.3. Vai trò của môi trường đối với du lịch (25)
  • Chương II: Thực trạng khai thác du lịch ven biển tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (27)
    • 2.1. Tiềm năng du lịch ven biển tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (0)
      • 2.1.1. Tổng quan về tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (27)
      • 2.1.2. Tiềm năng du lịch (30)
    • 2.2. Thực trạng ngành du lịch ven biển tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (34)
      • 2.2.1. Tình hình khai thác các tiềm năng để phát triển du lịch (34)
      • 2.2.2. Cơ sở vật chất và hạ tầng kĩ thuật phục vụ du lịch (36)
      • 2.2.3. Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (38)
      • 2.2.4. Doanh thu của ngành du lịch (39)
      • 2.2.5. Nguồn nhân lực ngành du lịch (41)
      • 2.2.6. Tình hình thu hút đầu tư vào ngành du lịch (42)
      • 2.2.7. Công tác tuyên truyền quảng bá xuất tiến du lịch (0)
    • 2.3. Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển du lịch ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (45)
      • 2.3.1. Những điểm mạnh (45)
      • 2.3.2. Những điểm hạn chế (46)
      • 2.3.3. Những cơ hội để phát triển du lịch ven biển (0)
      • 2.3.4. Những thách thức (47)
  • Chương III: Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (70)
    • 3.1. Thực trạng môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (50)
      • 3.1.1. Hiện trạng môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (50)
      • 3.1.2. Thực trạng xử lý và xả nước thải đối với hoạt động kinh doanh (53)
    • 3.2. Đánh giá tác động môi trường ven biển do các hoạt động kinh (56)
      • 3.2.1. Đặc trưng ô nhiễm không khí (56)
      • 3.2.2. Đánh giá tác động môi trường do nước thải (61)
      • 3.2.3. Đánh giá tác động của chất thải rắn đến môi trường (63)
    • 3.3. Nhận xét về thực trạng môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (65)
      • 3.3.1. Những thành tựu đạt được (65)
      • 3.3.2. Những mặt hạn chế (66)
      • 3.3.3. Những nguyên nhân gây ra (68)
  • Chương IV: Định hướng, các giải pháp phát triển du lịch và công tác bảo vệ môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (0)
    • 4.1. Định hướng, các giải pháp phát triển du lịch ven biên tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (0)
      • 4.1.1. Định hướng phát triển (70)
      • 4.1.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu qủa hoạt động của ngành (0)
    • 4.2. Định hướng và một số giải pháp bảo vệ môi trường ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu (79)
      • 4.2.1. Định hướng công tác bảo vệ môi trường (79)
      • 4.2.2. Các giải pháp bảo vệ môi trường (81)
  • KẾT LUẬN (89)

Nội dung

Với tài nguyên biển, rừng, đảo đa dạng và hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội dân gian đặc sắc, phong phú, Bà Rịa-Vũng Tàu được xác định là một trong 7 vùng trọng điểm phát

Lý luận chung về du lịch và bảo vệ môi trường

Du lịch

1.1.1 Các khái niệm về du lịch và du lịch biển

1.1.1.1 Các khái niệm về du lịch

Theo Liên hiệp các tổ chức du lịch Quốc tế (IUOTO), du lịch được định nghĩa là hành động di chuyển đến một nơi khác với nơi cư trú thường xuyên của bản thân Mục đích của chuyến đi không phải để làm ăn hay kiếm sống.

Định nghĩa du lịch được đưa ra tại hội nghị Liên hiệp Quốc về du lịch tổ chức tại Roma, Italia từ ngày 21/8 đến 5/9/1963: du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi ở thường trú của họ hoặc ở nước ngoài, với mục đích hòa bình; nơi đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Theo Pirogionic (1985) định nghĩa: du lịch là một hình thức hoạt động của người dân trong thời gian rảnh rỗi, liên quan đến việc di chuyển và lưu trú tạm thời ở nơi khác ngoài nơi cư trú cố định nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao nhận thức văn hóa hoặc thể thao và kèm theo việc tiếp nhận các giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.

Pháp lệnh Du lịch định nghĩa du lịch là hoạt động của con người diễn ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Hiểu theo khía cạnh thực tế, du lịch là hành trình khám phá các địa danh, trải nghiệm văn hóa và nghỉ ngơi tại các điểm đến, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đời sống và thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương và quốc gia.

Du lịch là hoạt động di chuyển đến một nơi khác với nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi và giải trí, đồng thời có thể kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học hoặc đáp ứng các nhu cầu khác trong một khoảng thời gian nhất định Mặc dù có nhiều quan điểm và từ ngữ diễn đạt khác nhau, điểm chung của định nghĩa du lịch là hành trình đến một địa điểm ngoài nơi ở để tham quan, thư giãn và trải nghiệm các hoạt động đa dạng trong một khung thời gian nhất định.

Các hoạt động du lịch gắn liền với môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn Theo khái niệm này, môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo liên kết với nhau, xung quanh con người và ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của cả con người lẫn thiên nhiên Do đó, du lịch cần nhận thức đúng về mối quan hệ này và hướng tới phát triển du lịch bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực lên hệ sinh thái và cộng đồng địa phương Đồng thời, việc bảo vệ môi trường tự nhiên và không gian văn hóa, quản lý tài nguyên và giáo dục du khách giúp đảm bảo trải nghiệm du lịch tích cực và lợi ích lâu dài cho môi trường và nền kinh tế khu vực.

Du lịch biển bao gồm các hoạt động du lịch ở vùng đất ven biển, trên bãi biển, trên mặt nước và dưới mặt nước biển

Biển là nguồn tài nguyên to lớn, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển của ngành du lịch nói riêng Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km, nằm ở vị trí chiến lược giữa các tuyến vận tải hàng hải và có tiềm năng lớn để khai thác nguồn lực biển như khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản, logistics và du lịch biển Phát triển du lịch ven biển gắn liền với bảo tồn môi trường, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và văn hóa địa phương, đồng thời thúc đẩy cơ hội việc làm và tăng trưởng dịch vụ du lịch như lưu trú, ẩm thực và tham quan Vì vậy, quản lý nguồn tài nguyên biển một cách bền vững và đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch, hệ thống xử lý nước thải và quản lý rác thải là rất cần thiết để duy trì sự tăng trưởng lâu dài và an toàn cho cộng đồng sống ven biển.

3200 km, có hơn 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó những bãi tắm lớn với chiều dài 15-

Việt Nam có 18 km đường bờ biển và nhiều bãi biển nhỏ có chiều dài từ 1-2 km, tạo nên một hệ thống du lịch ven biển đa dạng Hiện nay, khoảng 70% tổng số điểm du lịch của Việt Nam nằm ở vùng ven biển và khu vực này thu hút khoảng 80% lượng khách du lịch mỗi năm.

Hoạt động phát triển du lịch biển ở Việt Nam đang diễn ra rất sôi động và tập trung lượng khách lớn tại các khu vực ven biển, khiến môi trường và các hệ sinh thái ven biển nhạy cảm chịu áp lực đáng kể Các địa bàn trọng điểm như Vịnh Hạ Long (Hải Phòng), Đồ Sơn và Quảng Ninh, Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Đà Nẵng, Nha Trang (Khánh Hòa) và Mũi Né (Phan Thiết) đang đối mặt với tác động của du lịch lên chất lượng nước, đa dạng sinh học, cảnh quan và bờ biển, do sự phát triển cơ sở hạ tầng và lưu lượng khách lớn.

1.1.2 Đặc trưng của ngành du lịch

Mọi dự án phát triển du lịch được thực hiện trên cơ sở khai thác có chọn lọc các giá trị của tài nguyên tự nhiên, văn hóa và lịch sử, kết hợp với hạ tầng và các dịch vụ kèm theo để hình thành các sản phẩm du lịch từ tiềm năng sẵn có Quá trình khai thác này mang lại sản phẩm du lịch đa dạng và bền vững, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tạo nhiều việc làm cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch Nhờ đó, hoạt động du lịch góp phần nâng cao đời sống kinh tế của người dân và bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử cùng sự đa dạng của thiên nhiên tại nơi diễn ra phát triển du lịch.

Du khách được hưởng thụ cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và khám phá các truyền thống văn hóa lịch sử đặc sắc cùng những đặc thù dân tộc mà trước đây họ chưa biết tới Những trải nghiệm này từ từ hình thành ý thức trách nhiệm bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên và di sản văn hóa của nơi họ đến, góp phần thúc đẩy du lịch bền vững.

1 Điều 1, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, 1994

2 Tr.8, Sổ tay đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch của Trung tam KHTN&CNQG-Tổng cục

Những đặc trưng cơ bản của ngành du lịch bao gồm:

Đối tượng khai thác phục vụ du lịch thể hiện qua sự hấp dẫn của cảnh quan tự nhiên, cùng với các giá trị lịch sử và văn hóa, được hiện thực hóa nhờ cơ sở hạ tầng phù hợp và các dịch vụ kèm theo Tại đây, lợi thế du lịch được tối ưu hóa bằng cách kết hợp giữa cảnh quan đẹp, di sản văn hóa, sự thuận tiện của hạ tầng giao thông và hệ thống lưu trú, ẩm thực, tour tham quan, giải trí, đáp ứng nhu cầu của du khách Những yếu tố này không chỉ gia tăng trải nghiệm du lịch và thời gian lưu trú mà còn thúc đẩy doanh thu và phát triển kinh tế địa phương Do vậy, nội dung khai thác du lịch cần nhấn mạnh mục tiêu quảng bá cảnh quan thiên nhiên, giá trị lịch sử - văn hóa và các tiện ích đi kèm để nâng cao hiệu quả SEO và khả năng cạnh tranh trên thị trường du lịch.

Du lịch mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách du lịch, như điện, nước, nông sản và hàng hóa; hoạt động này kích thích sản xuất, mở rộng chuỗi cung ứng địa phương và nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của vùng.

Biểu hiện của tính đa dạng được thể hiện ở thành phần tham gia hoạt động du lịch: khách du lịch với sự đa dạng nhu cầu và mục tiêu, những người phục vụ du lịch có trình độ và kỹ năng khác nhau, cộng đồng địa phương trong khu du lịch cùng tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động, cũng như sự tham gia của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ vào quản lý và phát triển du lịch.

Những lợi ích đa dạng của du lịch và bảo tồn được thể hiện ở việc bảo tồn thiên nhiên, gìn giữ cảnh quan lịch sử – văn hóa, và nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách cũng như người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch Đồng thời, hoạt động này mở rộng sự giao lưu văn hóa và kinh tế giữa các cộng đồng, đồng thời nâng cao ý thức về vẻ đẹp của di sản và môi trường trong mọi thành viên của xã hội.

Môi trường

1.2.1 Khái niệm về môi trường và môi trường biển

1.2.1.1 Khái niệm môi trường a Khái niệm

Một hiểu rộng về môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng ở bên ngoài có ảnh hưởng lên vật thể hoặc sự kiện Bất cứ vật thể và bất cứ sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định, và môi trường đó tác động lên cách chúng tồn tại, tương tác và phát triển theo thời gian Chính vì vậy, môi trường được xem như một yếu tố động, không chỉ là nền tảng thụ động mà còn định hình quá trình và kết quả của các hiện tượng diễn ra trong nó.

R.G Sharme (1998) đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn: “Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người” 7

Joe Whiteney (1993) cho rằng môi trường là tổng thể những gì nằm ngoài cơ thể con người, có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của loài người, bao gồm đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozone và sự đa dạng sinh học của các loài.

Môi trường là tổng thể mọi thứ bao quanh sinh vật, gồm cả yếu tố sinh học và yếu tố phi sinh học có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, quá trình phát triển và sinh sản của sinh vật Để thống nhất nhận thức, chúng ta nên sử dụng định nghĩa này làm khuôn khổ chung cho khái niệm môi trường, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng.

“Luật bảo vệ môi trường” đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kì

7 Lê Văn Thăng, Giáo trình du lịch và môi trường, NXB.Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005

8 Lê Văn Thăng, Giáo trình du lịch và môi trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005 cho biết khái niệm môi trường được định nghĩa tại cuộc họp thứ tư ngày 27/12/1993.

Môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau và bao quanh con người; chúng ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên Việc phân loại môi trường là cơ sở để nhận diện tác động, quản lý và phát triển bền vững, thường được chia thành môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, đồng thời có thể xem xét các phạm trù như môi trường sống, môi trường làm việc và môi trường kinh tế - xã hội.

Trong nghiên cứu và sử dụng thực tế, có nhiều cách phân loại môi trường dựa trên mục đích khác nhau Đối với du lịch, có thể phân loại môi trường theo chức năng để làm rõ vai trò và cách thức khai thác của từng loại, từ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa đến môi trường nhân tạo, từ phục vụ đời sống cộng đồng đến hỗ trợ hoạt động du lịch Phương pháp phân loại theo chức năng này giúp quản lý và quy hoạch hiệu quả, đồng thời định hình chiến lược phát triển du lịch bền vững bằng cách xác định chức năng, tiềm năng và hạn chế của từng loại môi trường.

Môi trường tự nhiên là tập hợp các yếu tố thiên nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, nhưng chịu ảnh hưởng của hoạt động con người ở mức độ nhất định Bao gồm không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời và hệ động thực vật, nó hình thành một hệ sinh thái đa dạng và phong phú Môi trường tự nhiên vừa là kho chứa tài nguyên thiên nhiên vừa là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải do hoạt động sống và sản xuất gây ra Đồng thời, nó cung cấp các phong cảnh đẹp để tham quan và là nguồn nước khoáng phục vụ chữa bệnh, nâng cao sức khỏe Vì vậy, bảo vệ môi trường tự nhiên là nền tảng cho phát triển bền vững và du lịch sinh thái, đồng thời đảm bảo nguồn tài nguyên cho tương lai.

Môi trường văn hóa – xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với nhau, quyết định sự thuận lợi hay khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng loài người Đây là môi trường giáo dục và hoạt động xã hội, nơi con người được hình thành và phát triển thông qua tương tác với người khác và với các hoạt động sống trong xã hội liên quan tới các dân tộc khác.

Môi trường nhân tạo là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên, được điều chỉnh và chi phối để phục vụ tiện nghi cho cuộc sống hàng ngày, đồng thời phản ánh tác động của con người lên không gian sống Nó bao gồm các thành phần như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên nhân tạo và các khu vui chơi giải trí, tạo ra các không gian sinh hoạt, làm việc, giao thông và giải trí đa dạng Chức năng của môi trường nhân tạo là cung cấp không gian ở và làm việc hiệu quả, hỗ trợ hệ thống vận tải và giao thông, thúc đẩy hoạt động kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

9 Điều 1 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam

1.2.1.2 Khái niệm môi trường biển a Khái niệm môi trường biển

Về mặt địa lý, môi trường biển là toàn bộ vùng biển của Trái đất và những gì tồn tại trong đó Đối với một quốc gia, môi trường biển được hiểu là vùng biển và đại dương trải dài từ bờ biển và các hải đảo cho tới ranh giới biển được thỏa thuận hoặc giới hạn ở 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và tới ranh giới ngoài cùng của thềm lục địa quốc gia đó.

Về phạm vi môi trường, định nghĩa môi trường biển được hiểu rộng hơn rất nhiều, bao gồm các yếu tố cơ bản như tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển, chất lượng nước biển và cảnh quan biển Những thành phần này cho thấy sự đa dạng và nhạy cảm của đại dương và đóng vai trò làm nền tảng cho quản lý, bảo tồn và khai thác nguồn lực biển một cách bền vững Việc nhận diện đầy đủ phạm vi và cấu thành của môi trường biển giúp hình thành các chiến lược bảo vệ tài nguyên, cải thiện chất lượng nước và bảo tồn cảnh quan biển đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với môi trường Để tăng khả năng hiển thị trên các công cụ tìm kiếm, tiêu đề và nội dung nên nhấn mạnh các từ khóa chính như môi trường biển, tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển, chất lượng nước biển và cảnh quan biển một cách tự nhiên.

Với định nghĩa trên, môi trường biển được xem là vùng biển nơi con người khai thác tài nguyên sinh vật và đồng thời là nơi giao tiếp, nghỉ ngơi, giải trí và thải bỏ chất thải Nó đóng vai trò cơ bản trong việc duy trì các điều kiện sống trên Trái đất, đồng thời là hệ sinh thái biển nơi các quá trình lý hoá sinh tương tác để duy trì cân bằng của hệ động thực vật biển và đáp ứng các mục đích sử dụng biển khác nhau của con người.

Môi trường biển là một hệ sinh thái tổng hợp, gồm khí quyển ven biển và các đặc trưng lý hóa của các vùng biển, đồng thời chứa cả nguồn tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật của vùng cửa sông Các khu vực ngập mặn, bao gồm trầm tích và vùng thủy triều lên xuống, cùng với đầm lầy ven biển, là những thành phần quan trọng của hệ sinh thái biển, đóng vai trò bảo vệ bờ, duy trì đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ sinh thái thiết yếu.

Theo thời gian, khái niệm môi trường biển ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với nhận thức của con người Từ đó, môi trường biển được định nghĩa là vùng bao gồm các đại dương, các biển và vùng ven biển tạo thành một tổng thể, là thành phần cơ bản của hệ thống duy trì sự sống toàn cầu và là tài sản hữu ích mở ra cơ hội cho sự phát triển bền vững Chức năng của môi trường biển rất đa dạng và thiết yếu: hỗ trợ sự sống và cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu và chu trình carbon, cung cấp nguồn lợi thủy sản và nguyên liệu cho kinh tế biển, đồng thời bảo vệ bờ biển và duy trì đa dạng sinh học.

- Bảo đảm điều kiện sống của con người

- Cung cấp nguồn tài nguyên

10 Căn cứ vào Điều 1, khoản 4 Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982

11 Nguyễn Hồng Thảo, Bảo vệ môi trường biển và vấn đề về giải pháp, NXB Chính trị quốc gia,2004, tr.21

12 Chương 17 trong chương trình hành động 21 trích từ Nguyễn Hồng Thảo, Bảo vệ môi trường biển và vấn đề về giải pháp, NXB Chính trị quốc gia,2004

- Bảo đảm những tiện nghi cho sinh hoạt của con người (như du lịch, thể thao, nghỉ ngơi, )

- Hấp thụ đồng thời tiếp nhận các chất thải có nguồn gốc từ đất liền

1.2.1.3 Ô nhiễm môi trường biển và các nguồn gây ô nhiễm a Định nghĩa ô nhiễm môi trường biển

Vào năm 1981, nhóm chuyên gia nghiên cứu các khía cạnh khoa học của ô nhiễm môi trường biển đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về ô nhiễm môi trường biển: đó là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển (kể cả cửa sông), gây hại cho nguồn lợi sinh vật, đe dọa sức khỏe con người, gây cản trở cho các hoạt động trên biển như đánh bắt hải sản và sử dụng biển, đồng thời làm biến đổi chất lượng nước và làm giảm giá trị mỹ cảm của biển Định nghĩa mở rộng cho khái niệm này nhấn mạnh rằng ô nhiễm môi trường biển là sự xâm nhập của con người với các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển và cửa sông, gây ra hoặc có thể gây ra tổn hại cho nguồn lợi sinh vật và hệ động vật–thực vật biển, gây nguy hiểm cho các hoạt động ở biển và cho việc sử dụng biển một cách hợp pháp, đồng thời làm biến đổi chất lượng nước và làm giảm sút mỹ cảm của biển.

Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, ô nhiễm môi trường biển bao gồm 6 nguồn chính:

- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp

Thực trạng khai thác du lịch ven biển tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Thực trạng ngành du lịch ven biển tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

2.2.1 Tình hình khai thác các tiềm năng để phát triển du lịch ven biển

2.2.1.1 Những kết quả đã đạt được:

Thời gian qua, ngành du lịch tỉnh đã tập trung đầu tư và phát triển ba loại hình du lịch chủ yếu: du lịch sinh thái-cảnh quan, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần và du lịch văn hóa kết hợp thể thao, nhằm khai thác tốt tiềm năng sẵn có Trong đó, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần là hình thức truyền thống và phổ biến, chủ yếu thu hút khách từ TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ đến tham quan và tắm biển với thời gian lưu trú ngắn, tập trung ở các khu du lịch vui chơi giải trí và khu nghỉ dưỡng ven biển như Biển Đông, Paradise, Thùy Dương, Hồ Cốc, khách đi hoặc về trong 1–2 ngày lưu trú Gần đây, khi các resort cao cấp ven biển được hình thành, ngành du lịch tỉnh kỳ vọng mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả khai thác các loại hình du lịch này.

Kỳ Vân ở làng Bình An, cùng với Long Hải Resort và Intourco Resort tại Vũng Tàu, đã thu hút một lượng lớn khách quốc tế và khách nội địa có mức chi tiêu cao đến tắm biển và nghỉ dưỡng Du lịch Vũng Tàu với các khu nghỉ dưỡng cao cấp này ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu lưu trú chất lượng của du khách nước ngoài và người Việt yêu thích trải nghiệm biển, tiện nghi và dịch vụ hoàn hảo.

Các loại hình du lịch đã được các doanh nghiệp đầu tư, tổ chức đón và phục vụ khách đạt hiệu quả, phù hợp với hiện trạng tiềm năng du lịch và thị hiếu của du khách Trên các tuyến du lịch, các đơn vị lữ hành bước đầu có sự đổi mới tạo thêm sự mới lạ, hấp dẫn về địa điểm tham quan, nội dung chương trình, đáp ứng yêu cầu của từng loại đối tượng du khách

Tính đến tháng 12/2009, tổng doanh thu dịch vụ du lịch ước thực hiện 1.563,83 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2008, vượt kế hoạch được giao 4,63% Các đơn vị kinh doanh du lịch đón và phục vụ 7.730.690 lượt khách, tăng 14,3% so với năm 2008, vượt kế hoạc 2,67%, trong đó khách quốc tế là 283.240 lượt, tăng 8,9% so với năm 2008, vượt 1,61% kế hoạch năm

Về cơ sở lưu trú du lịch, hiện có 148 khách sạn và resort đang hoạt động, với tổng cộng 6.189 phòng Trong đó có 111 khách sạn và resort đã xếp hạng từ tiêu chuẩn đến cao cấp, từ 1 sao đến 4 sao, với 4.412 phòng.

Việc khai thác tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với các khó khăn: bờ biển sóng lớn và ao xoáy khiến khó tổ chức các hoạt động thể thao biển; nguy cơ ô nhiễm từ chất thải công nghiệp dầu khí, hải sản, cảng biển, đất, núi, suối, thác gây áp lực lên môi trường và nguồn nước khi thường thiếu nước và cây xanh; đá núi bị khai thác quá mức và tài nguyên rừng chưa thu hút được các dự án đầu tư lớn do chưa chuyển đổi sang đất xây dựng các công trình du lịch; đảo quá xa đất liền, sóng to gió lớn và đường giao thông ra đảo còn nhiều khó khăn; các di tích lịch sử tuy đông nhưng quy mô và tính chất còn chưa bằng các địa phương khác, cách xa nhau, không hình thành quần thể, khiến công tác kinh doanh lữ hành gặp khó khăn vì thời gian du khách đi dài và ít hưởng thụ văn hóa, trong khi một bộ phận dân cư vẫn thiếu lòng mến khách, tôn trọng và tình cảm với du khách.

Các khu vực trọng điểm vẫn chưa được khai thác hiệu quả do quy hoạch còn chậm, ví dụ Núi Dinh; việc này khiến thu hút đầu tư gặp khó khăn vì đường giao thông chưa thuận lợi và vướng mắc về chính sách đất lâm nghiệp, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của các khu du lịch như Khu du lịch sinh thái Bảo tồn tự nhiên Bình Châu-Phước Bửu và Vườn quốc gia Côn Đảo.

Việc tôn tạo và trùng tu các di tích chưa liên kết hiệu quả với chiến lược phát triển du lịch bền vững của địa phương, khiến di sản không trở thành động lực thu hút du khách Lễ hội truyền thống chưa được mở rộng quy mô để trở thành các sự kiện văn hóa có sức hấp dẫn đối với du lịch cao cấp và du lịch trải nghiệm Đồng thời, các làng nghề truyền thống như đúc đồng, làm bánh tráng và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ sò ốc đang đối mặt với nguy cơ mai một, thiếu đầu tư và kế hoạch bảo tồn, duy trì để phục vụ du lịch một cách lâu dài.

Những yếu tố này đặt tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trước thách thức phát triển du lịch bền vững và tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, đa dạng Để làm được điều đó, cần xây dựng một chiến lược phát triển du lịch hợp lý, chủ động huy động và tập trung nguồn lực đầu tư thay vì chỉ mong chờ khai thác tiềm năng sẵn có Tỉnh cần liên kết các sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm để thu hút khách nội địa và quốc tế Việc tập trung nguồn lực và đầu tư có trọng tâm sẽ giúp Bà Rịa-Vũng Tàu xây dựng một hệ sinh thái du lịch bền vững, cạnh tranh và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế địa phương.

2.2.2 Cơ sở vật chất và hạ tầng kĩ thuật phục vụ du lịch

2.2.2.1 Cơ sở vật chất du lịch

Bảng 1: Số phòng lưu trú của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Tổng số phòng Phòng 3033 3036 3034 3235 3628 4443 4959 5469 6189 Kháchsạn, resort được xếp hạng

Nguồn : Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Các dịch vụ kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế đang phát triển nhanh về số lượng và có chuyển biến đáng kể về phương thức kinh doanh, tiếp thị, hình thành dần các doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn Mạng lưới kinh doanh và cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch được mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng theo chuẩn ngành Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 149 doanh nghiệp kinh doanh du lịch hoạt động; trong đó có 18 doanh nghiệp lữ hành, và 9 doanh nghiệp có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế Số lượng khách sạn và khu du lịch nghỉ dưỡng được xếp hạng sao tăng lên đáng kể, với các khu du lịch đạt chuẩn 4 sao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch Hiện có 148 khách sạn và resort với tổng số 6.189 phòng, trong đó 111 cơ sở đã được xếp hạng từ đạt chuẩn đến cao cấp Hầu hết cơ sở vật chất mới được đầu tư đồng bộ và chất lượng tốt.

Bảng 2: Số lượng đơn vị lữ hành du lịch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Các ĐV lữ hành Đvị 9 9 11 20 20 20 25 27 27

Nguồn : Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng kĩ thuật

Cơ sở hạ tầng kĩ thuật được tỉnh chú trọng đầu tư khá đồng bộ, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển du lịch của tỉnh

Hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh khá hoàn chỉnh, nối các huyện, thị với nhau qua Quốc lộ 51A dài gần 50 km có 4 làn xe Trong những năm tới sẽ có đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu với 8 làn xe, chạy song song với Quốc lộ 51A để tăng năng lực vận tải và rút ngắn thời gian di chuyển Hiện nay tỉnh đã có các tuyến xe buýt nội tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Bà Rịa – Xuyên Mộc, Vũng Tàu – Xuyên Mộc; tuyến xe buýt ngoại tỉnh kết nối Biên Hòa – Vũng Tàu.

+ Đường biển: Từ Vũng Tàu có thể đi TP Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm

Mỗi ngày có khoảng 30 chuyến tàu đi lại giữa TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, tại hai đầu bến tàu Ngoài ra, còn có tàu đi Côn Đảo xuất phát từ cảng Bạch Đằng – TP Hồ Chí Minh hoặc từ cảng Vũng Tàu.

Về hàng không, sân bay Vũng Tàu và sân bay Cổ Ống (Côn Đảo) chủ yếu phục vụ máy bay trực thăng thăm dò khai thác dầu khí và vận chuyển hành khách từ Vũng Tàu đi Côn Đảo và ngược lại Trong tương lai, sân bay quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, cách ranh giới tỉnh khoảng 20 km Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch đến năm

Trong năm 2015, ngành đường sắt sẽ xây dựng một tuyến đường sắt đôi cao tốc chuẩn khổ 1,435 m, nối TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, với tốc độ thiết kế trên 300 km/h Tuyến đường sắt cao tốc này tăng năng lực vận tải hành khách và hàng hóa, rút ngắn quãng đường di chuyển giữa hai thành phố và đóng góp vào sự phát triển hạ tầng giao thông khu vực phía Nam.

Trong tỉnh hiện có 3 nhà máy điện đang hoạt động Mạng lưới điện trung-hạ thế được mở rộng đến tận trung tâm các xã và các cụm du lịch trọng điểm, bảo đảm cấp điện ổn định cho khu vực Hệ thống cung cấp nước sạch gồm 6 nhà máy nước với tổng công suất khoảng 58.000 m³/ngày đêm đã đóng góp quan trọng tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp phát triển du lịch.

Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển du lịch ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Tiềm năng du lịch của tỉnh phong phú và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, nổi bật với bờ biển dài và khí hậu ôn hòa của Bà Rịa–Vũng Tàu Với khoảng 305 km chiều dài bờ biển, có 72 km là những bãi tắm tốt và Vũng Tàu tự hào với các bãi biển đẹp như Thùy Vân, Chí Linh, Bãi Dứa, Bãi Sau, Bãi Dâu và Bãi Trước Các huyện Đất Đỏ (bãi Thùy Dương), Xuyên Mộc (Hồ Tràm và Hồ Cốc) và Long Điền (Long Hải) cũng nổi tiếng với biển đẹp, đóng vai trò quan trọng trong khai thác tiềm năng tự nhiên phục vụ du lịch và nghỉ ngơi Điều kiện thuận lợi cho du lịch biển ở Bà Rịa–Vũng Tàu gồm khí hậu mát mẻ quanh năm và ánh nắng mặt trời, với nhiệt độ trung bình khoảng 27,2°C, khiến nơi đây trở thành điểm đến nghỉ mát lý tưởng Bờ biển dài với cát phẳng mịn, độ dốc thoai thoải và đường viền quanh chân Núi Lớn và Núi Nhỏ kết nối các di tích và danh lam thắng cảnh như ngọn Hải Đăng, tượng Chúa giang tay, Niết Bàn Tịnh xá và Bạch Dinh, tăng thêm sức hút cho du lịch biển khu vực.

Thích ca Phật đài và hệ thống tài nguyên nước tại vùng ven biển là những yếu tố thuận lợi, tạo lợi thế thu hút du khách Khu vực ven biển cung cấp nguồn tài nguyên nước phong phú cho nhiều loại hình du lịch như tắm biển, lặn, tham quan đáy biển, đồng thời kết hợp với thể thao trên biển như thuyền buồm và du thuyền Ngoài ra, vùng có nguồn nước khoáng nóng – một tài nguyên du lịch quý giá được xem như liệu pháp tự nhiên chữa bệnh, là cơ sở để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho du khách.

Với bờ biển đẹp và hệ thống giao thông thuận tiện, Bà Rịa-Vũng Tàu thu hút du khách nhờ cơ sở lưu trú và ẩm thực cao cấp cùng các khu vui chơi giải trí hiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao Để giữ chân du khách, thành phố đã triển khai nhiều dự án cải tạo và nâng cấp bãi biển, như xây dựng Bãi Sau và cải tạo Bãi Trước, đồng thời đầu tư vào các khu du lịch, giải trí và trung tâm mua sắm Hiện nay, các dự án cáp treo Núi Lớn - Núi Nhỏ và tháp truyền hình kết hợp nhà hàng ngắm cảnh trên Núi Lớn đã hình thành và đang tìm nguồn vốn đầu tư Dọc ven biển còn có vùng núi bao quanh với nhiều di tích trên núi và các di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia, cùng với một số lễ hội thu hút đông đảo du khách.

Bên cạnh tiềm năng du lịch, khu vực vẫn tồn tại những mặt hạn chế nhất định như bờ biển địa chất không ổn định, thường có ao xoáy, và tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm do chất thải từ hoạt động cảng biển, khai thác hải sản và dầu khí Mặt khác, việc khai thác các tiềm năng du lịch cũng gặp phải những hạn chế khi các dự án hiện nay chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa có các dự án du lịch nghỉ dưỡng lớn và thiếu hệ thống khách sạn 4–5 sao đủ sức đáp ứng nhu cầu của du khách.

Ở Bà Rịa-Vũng Tàu, sự phối hợp giữa các ngành dịch vụ du lịch chưa được đồng bộ, khiến tỉnh chưa có những sản phẩm du lịch tiêu biểu, đa dạng và đặc sắc để thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú Khi đến địa phương, du khách thường lưu lại rất ngắn, chủ yếu tham quan trong ngày hoặc ở lại 1–2 ngày Nguyên nhân là các tour du lịch nội tỉnh chưa được các doanh nghiệp lữ hành khai thác triệt để và chưa giới thiệu đầy đủ những điểm đến hấp dẫn cùng các tour đặc sắc chỉ có tại địa phương, dẫn đến không giữ được chân du khách ở lại lâu hơn.

Việc quảng bá du lịch nội địa và quốc tế của địa phương còn chưa được đầu tư đúng mức, chưa có chiến lược quảng bá du lịch ở quy mô toàn tỉnh và công tác tiếp thị các tour nội tỉnh vẫn yếu; tại các khách sạn, nhà hàng hầu như không có tờ rơi, tập gấp giới thiệu các tour tham quan, tuyến du lịch Trong khi đó, lễ tân tại nhiều cơ sở lưu trú vẫn không thể chỉ ra các điểm du lịch cho du khách khi được hỏi thăm, gây ảnh hưởng tới trải nghiệm của du khách và khó khăn trong việc nâng cao nhận diện điểm đến.

Về ý thức của người dân trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường chưa cao, đặt biệt là môi trường biển ít được người dân chú ý và bảo vệ

2.3.3 Những cơ hội để phát triền du lịch ven biển

Với tiềm năng du lịch và điều kiện thuận lợi, Bà Rịa-Vũng Tàu đang phát triển mạnh thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy dịch vụ và kinh tế biển, đồng thời góp phần đặt tỉnh trở thành trung tâm du lịch của khu vực Nam Bộ và động lực cho sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ Phát triển du lịch ven biển là thế mạnh với các hình thức nghỉ dưỡng, thể thao ven biển, du lịch văn hóa gắn với lễ hội Nghinh Ông và du lịch sinh thái Đến Bà Rịa-Vũng Tàu, du khách sẽ được đắm mình ở nhiều bãi biển đẹp như Thùy Vân, Bãi Dứa, Bãi Dâu, Bãi Trước, được cải thiện và nâng cấp lên chuẩn cao cấp để phục vụ mọi đối tượng Thành phố biển Vũng Tàu năm 2010 đã thu hút 8,4 triệu lượt khách, trong đó 320 ngàn lượt quốc tế, doanh thu đạt 1.780 tỷ đồng, tăng 19% so với năm trước Với những tiềm năng du lịch như vậy, tỉnh có cơ hội lớn để thu hút ngày càng nhiều du khách, không chỉ đạt mà còn có khả năng vượt mục tiêu đề ra.

Khách du lịch ngày càng có nhu cầu cao đối với các sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn và chất lượng cao Để đáp ứng ưu tiên này, ngành du lịch phải liên tục nắm bắt và đáp ứng các yêu cầu đa dạng của du khách, đồng thời xây dựng những yếu tố hấp dẫn và bền vững nhằm duy trì sự quan tâm và tạo giá trị trải nghiệm lâu dài cho người dùng.

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, du lịch đang chịu cạnh tranh từ thị trường trong nước và quốc tế Lợi thế du lịch của tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu đang bị suy giảm khi các địa phương lân cận như miền Tây Nam Bộ, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Thuận đang triển khai những dự án mang tính đột phá nhằm thu hút khách Xu hướng phát triển du lịch tập trung vào chất lượng dịch vụ và mức giá cạnh tranh, đồng thời cần đầu tư bài bản cho các sản phẩm du lịch xanh và du lịch sinh thái Ngành du lịch Bà Rịa–Vũng Tàu chỉ có thể phát triển toàn diện nếu liên kết chặt chẽ với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh phụ cận và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, coi các đối tác này như một mạng lưới hợp tác để cùng nhau phát triển bền vững.

Môi trường tự nhiên đang chịu áp lực từ nhịp đô thị hóa nhanh và hoạt động công nghiệp, làm thay đổi cảnh quan và hệ sinh thái địa phương Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển du lịch gây tác động lớn lên môi trường sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu khai thác và phát triển du lịch của tỉnh.

Cơ sở hạ tầng du lịch và vật chất phục vụ du lịch hiện nay còn thiếu và yếu; các dự án đầu tư du lịch chưa được triển khai do thiếu vốn đầu tư, và nguồn vốn đầu tư vẫn gặp nhiều khó khăn.

Việc hội nhập văn hóa với thế giới và khai thác các tài nguyên du lịch mang tính nhân văn sẽ giúp tỉnh quảng bá bản sắc địa phương và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Thúc đẩy hoạt động du lịch trong tỉnh đồng nghĩa với tăng lượng khách tham quan, tạo thêm cơ hội việc làm và thúc đẩy kinh tế địa phương thông qua khai thác có hệ thống các nguồn lực văn hóa Tuy vậy, quá trình này có thể dẫn đến thương mại hóa các giá trị văn hóa truyền thống nếu không được quản lý và định hướng phát triển bền vững Vì vậy cần xây dựng chiến lược du lịch tỉnh gắn với bảo tồn di sản và tôn trọng giá trị văn hóa, nhằm khai thác hiệu quả vừa bảo tồn vừa phát huy giá trị văn hóa cho tương lai.

Để thúc đẩy tăng trưởng bền vững, tỉnh cần giải quyết đồng thời mối quan hệ giữa ba ngành kinh tế mũi nhọn là hải sản, dầu khí và du lịch Du lịch mang tính xã hội hóa cao và phụ thuộc nhiều vào sự liên kết giữa ngành và địa phương, nên phát triển du lịch theo hướng gắn kết với hải sản và dầu khí sẽ làm tăng giá trị và sức cạnh tranh của vùng biển Sự phối hợp giữa hải sản, dầu khí và du lịch còn mở ra cơ hội phát triển hạ tầng, sản phẩm du lịch mới và nâng cao chất lượng trải nghiệm cho cộng đồng Vì vậy, xây dựng chiến lược hợp tác giữa các ngành và địa phương nhằm mục tiêu phát triển du lịch là rất quan trọng.

Vùng ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đang nổi lên như điểm đến lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước, với du lịch biển đóng vai trò chủ chốt cho sự phát triển kinh tế và hình ảnh địa phương Tuy nhiên, môi trường du lịch đang chịu nhiều áp lực từ các nguyên nhân như sự cố tràn dầu, rác thải và tai nạn đâm tàu, gây lo ngại về chất lượng dịch vụ và an toàn cho du khách Những rủi ro này có thể tác động trực tiếp đến hoạt động du lịch biển, nguồn lực và vị thế của Bà Rịa-Vũng Tàu trên bản đồ du lịch Do đó, tăng cường quản lý môi trường biển, ứng phó sự cố kịp thời và triển khai chiến lược du lịch bền vững là cần thiết để duy trì lượng khách và phát triển dài hạn cho du lịch của tỉnh.

Du lịch ven biển đang đối mặt với thách thức lớn khi lượng du khách đến các bãi tắm quá đông dẫn tới quá tải, gây áp lực lên môi trường và rác thải từ các hoạt động du lịch tại điểm đến cũng như ở các cơ sở lưu trú và ăn uống khiến chất lượng phục vụ bị ảnh hưởng Đồng thời, công tác bảo vệ an ninh và cứu hộ trên biển gặp nhiều khó khăn khi đội cứu hộ không đủ sức để quản lý lượng khách ngày càng tăng Nếu tình trạng quá tải không được điều chỉnh đúng mức, môi trường biển sẽ chịu ô nhiễm nghiêm trọng do áp lực sức chứa và lượng rác thải phát sinh từ du khách cùng với các tác nhân ô nhiễm khác Các cơ quan chức năng cần triển khai biện pháp chiến lược bảo vệ môi trường biển để duy trì sự bền vững của du lịch ven biển và đảm bảo hoạt động lưu trú, ăn uống và dịch vụ được phục vụ tốt hơn.

Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Định hướng, các giải pháp phát triển du lịch và công tác bảo vệ môi trường ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Ngày đăng: 30/10/2022, 11:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. (1985) – Trần Đức Thanh và Nguyễn Hải Yến biên dịch, Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch Khác
2. (1995) – Lê Văn Khoa, Môi trường và ô nhiễm môi trường, NXB Giáo dục Khác
3. (1996) - Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý du lịch, NXB TP.Hồ Chí Minh Khác
4. (1999) Đổi mới và phát triển vùng vinh vế ven biển, NXB Chính trị quốc gia Khác
5. (1999) Địa lý du lịch, NXB TP.Hồ Chí Minh Khác
6. (1999) – Văn Thái, Địa lý kinh tế Việt Nam, NXB Giáo dục Khác
7. (2000) – Phan Trung Lương, Tài nguyên và môi trường du lịch, NXB TP.Hồ ChíMinh Khác
8. (2000) – Ngô Tất Hổ, Phát triển du lịch địa phương, NXB Khoa học Bắc Kinh Khác
9. (2002) – Phan Trung Lương, Tài nguyên và môi trường Việt Nam, NXB TP.Hồ Chí Minh Khác
10. (2003) – Nguyễn Hồng Thảo, Ô nhiễm môi trường biển việt nam – luật pháp và thực tiễn, NXB Thống kê Khác
11. (2003) – Đỗ Hoài Nam, Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển phía nam, NXB Khoa học xã hội Khác
12. (2003) – Thế Đạt, Du lịch & sinh thái, NXB Lao động Khác
13. (2004) – Nguyễn Hồng Thảo, Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia Khác
14. (2005) – Lê Đức Tố, Quản lý biển, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 15. (2005) –Thế Đạt, Tài nguyên du lịch việt nam, NXB Hành chính quốc gia Khác
16. (2005) – Lê Văn Thăng, Giáo trình du lịch và môi trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
17. (2006) Bà Rịa – Vũng Tàu Festival Biển 2006: du lịch và cơ hội đầu tư, NXB Bà Rịa – Vũng Tàu: Sở Văn hóa Thông tin Bà Rịa-Vũng Tàu Khác
18. (2006) – Bùi Thị Hải Yến, Quy hoạch du lịch, NXB Giáo dục 19. (2006) – Hồng Vân, Đường vào nghề du lịch, NXB Trẻ Khác
20. (2007) – Bùi Thị Hải Yến & Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, NXB Giáo dục Khác
21. (2008) – Nguyễn Văn Mạnh, Giáo trình marketting du lịch, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
22. Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch Khác