Chúng tôi tiến hành khảo sát tại xã La Ngà huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai là một xã có mức độ đa dạng về các thành phần Tuy nhiên nhìn chung đời sống của người cao tuổi ở nước ta vẫn còn
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở
NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ HIỆN NAY
(Nghiên c ứu trường hợp tại xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
và phường 8 quận 3 TP Hồ Chí Minh)
Lớp: 07XH1D
TPHCM, THÁNG 6 NĂM 2011
Trang 2Danh m ục chữ viết tắt:
BCH: Ban Chấp Hành
NXB ĐH QG: Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia
Trang 3M ỤC LỤC
Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
2.2 Các yếu tố tác động đến đời sống tinh thần của NCT 3
2.1 Thực trạng đời sống tinh thần của NCT 2
2.3 Chính sách và giải pháp nâng cao đời sống tinh thần NCT 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp xử lý 10
7 Kết cấu của báo cáo 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 12
1.1 Các khái niệm có liên quan 12
1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết 16
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 19
1.4 Khung phân tích 20
1.5 Giả thuyết nghiên cứu 21
Trang 4CHƯƠNG 2: TH ỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI
2.1 Tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội ở huyện Định Quán 22
2.2 Tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội ở quận 3 24
2.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 28
2.4 Thực trạng đời sống tinh thần của người cao tuổi ở nông thôn và thành thị
tuổi ở nông thôn và đô thị hiện nay
CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở NÔNG THÔN VÀ
ĐÔ THỊ HIỆN NAY 45
3.1 Mối quan hệ trong gia đình
3.2 Mối quan hệ xã hội 49
3.3 Kinh tế gia đình 45
3.4 Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo 59
3.5 Giải pháp nâng cao đời sống tinh thần cho NCT 65
Trang 5PH Ụ LỤC 2: BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH
Trang 6PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Theo đánh giá của các chuyên gia về dân số học, hiện nay nước ta đang bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số Sau 10 năm, chỉ số già hóa đã tăng từ 24,5% (năm 1999) lên 35,9% (năm 2009) Chỉ số già hóa của Việt Nam hiện na y cao hơn
mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%) Tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam tăng 3,7 tuổi lên 72,8 tuổi (nam đạt 70,2 tuổi, nữ 75,6 tuổi) Ngoài ra tính đến 0 giờ ngày 1-4-2009, cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số Và theo dự báo, Việt Nam sẽ chính thức trở thành quốc gia có dân số già (tỷ lệ NCT trên 10%) vào năm 2014
Nắm bắt được tình hình dân số và tốc độ tăng trưởng về dân số nhà nước đã quan tâm và ban hành nhiều những chính sách, nghị quyết về người cao tuổi từ năm 1946 nhưng từ nghị quyết số 39/2009/QH 12 căn cứ vào hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi và bổ sung, một
số điều theo nghị quyết 51/2001/QH10 thì luật cho người cao tuổi mới được chính
thức ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2010 Luật này ra đời nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi và tạo điều kiện phát huy năng
lực người cao tuổi Kể từ khi các chính sách ấy ra đời đã có nhiều dịch vụ y tế,
viện dưỡng lão, các vấn đề về an sinh xã hội dành cho người cao tuổi ra đời và đã đáp ứng được phần nào đó nhu cầu của người dân
Để xem xét mức độ khác biệt giữa đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn
và đô thị hiện nay đang ở mức độ nào Chúng tôi tiến hành khảo sát tại xã La Ngà huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai là một xã có mức độ đa dạng về các thành phần
Tuy nhiên nhìn chung đời sống
của người cao tuổi ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, do phần lớn không còn khả năng lao động tạo ra thu nhập, h ọ phải sống nương tựa vào con cái, gia đình … Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của NCT Đặc biệt là
những NCT ở nông thôn xét thấy vẫn còn nhiều mặt thua thiệt so với những NCT
ở đô thị cả về vật chất lẫn tinh thần
Trang 7tôn giáo và mức sống tương đối so với toàn huyện Bên cạnh đó ở đô thị chúng tôi
chọn phường 8, quận 3 là một trong 14 phường có tỷ lệ NCT nhiều nhất trong toàn
quận Đồng thời, đây cũng là một trong những phường có sự đa dạng về mức sống
và thành phần dân cư Mối quan hệ của NCT với các thế hệ con cháu, hàng xóm láng giềng, cũng như họ hàng thân tộc ngày càng lơi lỏng và thiếu hụt Vì thế, họ luôn có nhu cầu được chuyện trò, chia sẻ, quan tâm,… nhưng trong thực tế cuộc
sống những nhu cầu ấy chưa được đáp ứng Chính vì vậy, chúng tôi đi nghiên cứu tìm hiểu thực trạng đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và thành thị hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào tác động trực tiếp đến đời sống tinh thần của họ?
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
2 T ổng quan tình hình nghiên cứu
Tốc độ gia tăng dân số của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang ở mức đáng báo động, điều này đã đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình phát triển của nhiều quốc gia Việt Nam cũng không ngoại lệ, cùng với sự gia tăng
đó thì tỉ lệ già hoá dân số cũng ngày càng cao, tuổi thọ của NCT ngày càng tăng, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với xã hội Đòi hỏi chúng ta cần phải có
những suy nghĩ cũng như hành động thiết thực trên các lĩnh vực như : chăm sóc
sức khoẻ NCT, chăm lo đời sống tinh thần, an sinh xã hội…nhằm nâng cao đời
sống vật chất cũng như tinh thần cho NCT Thực hiện đề tài này chúng tôi đã thu
thập một số tài liệu liên quan sau:
2.1 Th ực trạng đời sống tinh thần của NCT
NCT ở nước ta bao gồm những người cao tuổi có trình độ học vị từ công nhân kỹ thuật bậc cao trở lên cùng với những người cao tuổi được hưởng chế độ
bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp đặc biệt nhìn chung là những người có cuộc sống tương đối ổn định Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số lượng khá lớn NCT không có thu nhập phải sống dựa vào con cháu và sự trợ giúp của tình láng giềng Nhiều NCT vẫn phải tham gia vào các công việc khác nhau để kiếm sống Theo số
Trang 8liệu từ Tổng cục thống kê năm 2003 thì cứ ba cụ ông thì có một cụ hoạt động kinh
tế, trong khi đó cứ năm cụ bà mới có một cụ hoạt động kinh tế, nhưng ở lĩnh vực
nội trợ thì cụ bà lại có tỷ lệ cao gấp năm lần cụ ông
Bên cạnh đó nhu cầu về đời sống tinh thần cũng không kém phần quan
trọng Theo báo cáo “chính sách xã hội đối với người cao tuổi (NCT) mang đậm
tính nhân văn sâu sắc” của tác giả Vũ Trọng Ngọc và “tiếp cận văn hoá người
cao tu ổi”, Nguyễn Phương Lan, Viện văn hóa và NXB văn hóa thông tin – Hà Nội
2000, Bằng phương pháp phân tích tài liệu sẵn có, các số liệu thống kê trước tiên tác giả đã nêu lên vai trò của người cao tuổi nước ta: người cao tuổi là lớp người
“cây cao, bóng cả”, có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị truyền thống
về đạo đức, lịch sử và văn hoá giữa các thời đại; là lớp người đã từng trải qua hai
cuộc kháng chiến gian khổ, có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; là lớp người đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, phát triển quê hương, đất nước
Tuy nhiên hiện nay đất nước ta đang trong quá trình hội nhập với các nước trên thế giới đã tiếp cận với các nền văn hóa mới, từ đó có không ít bộ phận giới
trẻ đã xem nhẹ “nếp nhà xưa” Theo tác giả, những giá trị “trọng lão” truyền
thống đang bị thách thức, tính cộng đồng chuyển sang tính cá nhân, những giá trị đạo đức bị cào bằng một cách sòng phẳng với giá trị hàng hóa…trong khi tập quán
của xã hội cổ truyền bị coi là lỗi thời Tác giả đã phân tích đời sống văn hóa của người cao tuổi hiện nay, so sánh đời sống văn hóa của người cao tuổi ở nông thôn
so với thành thị Xét từ mức độ chuyển đổi chuẩn mực giá trị của người già từ đó tác giả đã có những phân tích về nhu cầu văn hóa của người già Với tấm lòng yêu
mến và kính trọng người già tác giả đã đi tìm một số giải pháp cho vấn đề văn hóa người cao tuổi ở Việt Nam
2.2 Các y ếu tố tác động đến đời sống tinh thần của NCT
Trong bài viết “Tâm thức và hành động ở người già trong đời sống gia
đình và xã hội ” của tác giả Nguyễn Đức Truyến, dựa trên kết quả của cuộc điều
Trang 9tra xã hội học về người cao tuổi Hải Hưng 1993 tại ba điểm: t hị xã Hải Dương, huyện Tứ Lộc và huyện Ninh Thanh Bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
cuộc điều tra này đã đưa ra những chi tiết về cuộc sống hàng ngày, về tâm tư tình
cảm cũng đưa ra được phản ánh khá đầy đủ trên những nét căn bản và chủ yếu như là: Do cách nhìn nhận sự đổi mới hay những biến đổi xã hội theo cùng một quan
niệm hay chuẩn mực, các cụ không thấy mâu thuẫn với lớp trẻ, con cái của mình Đối với các cụ nhu cầu gần gũi tình cảm với các con là nhu cầu tuyệt đối quan
trọng với 83,3% đến thăm con thường xuyên, thình thoảng là 9,7% và không bao
giờ là 7% Bên cạnh đó do các cụ có đời sống với gia đình - gia tộc phong phú và
gắn bó như vậy nên không còn thì giờ tham gia vào các hoạt động xã hội Và Hội
thọ là tổ chức gắn bó và gần gũi duy nhất đối với các cụ Bên cạnh đó các cụ vẫn
có tham gia hoạt động công tác từ thiện nhưng so với thời trẻ thì có giảm bớt Trong bài viết này cũng đề cập tới vấn đề đó là sau cả cuộc đời cống hiến cho xã
hội và gia đình, giờ đây các cụ vẫn phải tự mình đấu tranh với đời sống hàng ngày,
với nguồn thu nhập chính từ lương, trợ cấp xã hội chiếm 29,1%, tự làm ra 37,9%, con cháu giúp 30,7%, lợi tức 1%, khác 1,3% Và kiến ngh ị của các cụ chỉ nhấn
mạnh vào sự thiếu thốn về vật chất, điều kiện sống của mình, mà không đòi hỏi nhiều ở sự tôn trọng của xã hội
Trong đề tài luận văn “Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến sự biến chuyển vị
trí – vai trò c ủa người cao tuổi trong gia đình thành thị hiện nay ” của tác giả
Đậu Thị Hồng Thanh, bằng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi với mẫu nghiên cứu
gồm 120 người cao tuổi, người trẻ và phương pháp phỏng vấn sâu, tác giả đã đưa
ra được một số nhận định xoay quanh đời sống của NCT ở quận 3 hiện nay Trong
đó yếu tố có tác động mạnh nhất đến sự biến chuyển vị trí vai trò của NCT hiện nay đó là yếu tố kinh tế, có tới 48,75 % NCT phải sống dựa vào con cháu họ hàng giúp đỡ, nguồn thu nhập chính do họ làm ra chỉ chiếm 2%, từ lợi tức 18,75%, lương hưu trợ cấp, 16,25%, Bên cạnh đó sức khoẻ của NCT giảm dần theo độ tuổi
và tuổi càng cao thì sức khoẻ càng giảm và khả năng lao động giảm, sự độc lập về
ế giảm xuống và có khi không còn nữa mà chuyển sang một sự phụ thuộc
Trang 10Sự phụ thuộc của người cao tuổi vào sự giúp đỡ của con cháu đang làm cho họ
giảm sút hoặc mất đi vai trò và địa vị trong gia đình
Trong nghiên cứu này còn chỉ ra mức độ giao tiếp trong gia đình của NCT
với con cháu của mình có điều đáng lưu ý đó là có tới 61% cho rằng ít khi nói chuyện, 26% cho là hầu như không và tỷ lệ nói chuyện thường xuyên là thấp nhất
chỉ chiếm 13% Tuy nhiên khi cần quyết định một vấn đề nào đó trong gia đình thì
có tới 53% “có” hỏi ý kiến cùa NCT còn lại 47% trả lời “không” Như vậy NCT
có vai trò khá quan trọng trong các quyết định của gia đình Còn đối với mối quan
hệ ngoài xã hội thì có tới 76% các cụ có tham gia hoạt động xã hội với các loại hình hoạt động xã hội như đoàn thể quần chúng với 22,9% tham gia, tổ chức nghề nghiệp là 21.2%, câu lạc bộ 26,3%, hội thọ 14,7 % và tổ chức khác là 14,7% Còn
lại 25% các cụ không tham gia hoạt động phần lớn là do sức khoẻ kém, đi lại hạn
chế
Theo tác giả Lê Ngọc Văn “Chính sách lấy gia đình làm trung tâm trong
vi ệc phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi” (Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và
Giới số 5-2009), bài viết dựa trên kết quả điều tra xã hội học năm 2008-2009 của
đề tài cấp bộ “Một số vấn đề cơ bản trong chính sách xã hội đối với người cao
tuổi” của Viện Gia đình và Giới tại 3 tỉnh thành phố: Hà Nam, Hà Tây cũ, Hải Phòng thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ, bài viết đề cập đến những thuận lợi và khó khăn của chính sách t rong đó thuận lợi cơ bản của chính sách đó là tiếp tục truyền thống của gia đình Việt Nam, có 85% NCT cho rằng gia đình chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi, 13,8% cho rằng gia đình chỉ chịu trách nhiệm một phần và 1,3% cho rằng gia đình không phải chịu trách nhiệm Theo số liệu điều tra thì 51,9% NCT cho biết họ thường xuyên được
trợ giúp về kinh tế và nguồn trợ cấp này do con cái cho cha mẹ chiếm 93,2%, còn
họ hàng 2,9%, bạn bè 0,5%, tổ chức xã hội 1% các nguồn khác là 4% Và người thường xuyên chăm sóc cho NCT khi họ ốm đau không ai khác chính là các thành viên trong gia đình, chủ yếu là người vợ hay người chồng hoặc con cái của NCT
Trang 11chiếm 92,3% Tuy nhiên bài viết cũng nêu ra một số khó khăn đó là mâu thuẫn và xung đột giữa con cháu và ông bà có xu hướng tăng lên do có nhiều thế hệ sống chung trong gia đình Để thực hiện trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc NCT thì
số gia đình ở nông thôn gặp khó khăn cao hơn đô thị(79,0% so với 71,7%) Khó khăn lớn nhất là “khó khăn về kinh tế” chiếm tỷ lệ 72,1%, tiếp đến là “không có
thời gian” 46,5%, “con cái ở xa” 32,2%, “con cái không quan tâm” 7% Ngoài ra còn có những khó khăn khác như: con cái tàn tật, đau yếu, con cái không thích
sống chung với bố mẹ, công việc con cái không ổn định, nhà neo người
2.3 Chính sách và gi ải pháp nâng cao đời sống tinh thần NCT
Xã hội đang có những biến đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội từ đó kéo theo những thay đổi về văn hoá Vì vậy nảy sinh ra những mô hình mới chăm sóc cho NCT Và Bằng các phương phá p điều tra và sử dụng tư liệu sẵn có cuốn sách
"Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam" của Th.S
Đặng Vũ Cảnh Linh chủ biên, Ủy ban dân số, Gia đình và Trẻ em, Viện nghiên
cứu Truyền thống và phát triển năm 2008 – 2009, cho biết t rong những năm gần đây nhiều loại hình Dịch vụ chăm sóc người cao tuổi được hình thành và hoạt động, đặc biệt là các mô hình tư nhân, liên kết đang phát triển khá mạnh tuy nhiên còn chưa có đầu tư hoặc chưa có sự quan tâm của các cấp Nghiên cứu cũng đưa ra xem xét quan điểm của Đảng và Nhà nuớc về người cao tuổi, tìm hiểu một
số kinh nghiệm của các nước trên thế giới về công tác chăm sóc người cao tuổi Làm rõ bức tranh về niềm tin trong nhận thức, hành vi và lối sống của sinh viên
hiện nay.Bên cạnh đó cuốn sách tập trung làm rõ mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi hiện nay Trong phần này, tác giả xem xét tới mô hình trung tâm chăm sóc người cao tuổi do nhà nước quản lý như mô hình do ngành lao động thương binh xã hội và một số mô hình khác do các cơ quan nhà nước, đoàn thể như: Hội
chữ thập đỏ, nhà Dưỡng lão nghệ sĩ quản lý Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét
tới các mô hình hoạt động chăm sóc người cao tuổi do tư nhân quản lý
Trang 12Cùng quan điểm trong việc chăm lo cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho NCT, cuốn sách “Trong miền an sinh xã hội nghiên cứu về tuổi
già Vi ệt nam” Bùi Thế Cường, NXBGD QG Hà Nội cho hay kể từ khi thành lập
nước 1945, trong các Hiến pháp đều có điều khoản về bảo vệ và chăm sóc người
có tuổi (chương trình hưu trí và mất sức), có mạng lưới phúc lợi cho nhóm bị thiệt thòi (người già cô đơn không nơi nương tựa) Năm 1994 Luật Lao động ra đời (có các điều khoản về lao động người cao tuổi và chế độ nghỉ hưu, 1995 có BHXH người già) Từ đó dến nay có rất nhiều chương trình dành cho người già, cả những CLB cùng nhiều tổ chức phi chính phủ giúp đỡ người già ra đời
Qua phân tích tài liệu về hình ảnh tuổi già ĐBSH ta thấy được đời sống xã
hội của người già qua các mặt: học vấn và hôn nhân; lao động-thu nhập - hoàn
cảnh kinh tế; nhà ở-tiện nghi; sức khỏe và giao lưu xã hội; tín ngưỡng Từ số liệu
mà tác giả thu được qua các mặt trên mà có thể định hướng chính sách người già, người cao tuổi cho Nhà nước tốt hơn nữa Ngoài ra đây cũng là một cách để truyền
tải thông điệp của người cao tuổi đến các nhà làm chính sách, đến con cháu và đến
cả xã hội nói chung
Ưu điểm chung trong các tài liệu nghiên cứu chính sách xã hội cho NCT đều đề cập và phân tích một cách đầy đủ đến các mô hình chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần, và nội dung các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa nhận thấy được một cách rõ ràng về thực trạng đời
sống tinh thần của NCT và những yếu tố tác động đến trạng thái tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
Chính vì vậy, chúng tôi quyết định tìm hiểu vấn đề về “Đời sống tinh thần
của người cao tuổi ở nông thôn và đô thị hiện nay” Từ đó có thể tìm ra được một
số yếu tố tác động đến đời sống tinh thần của NCT, xem xét mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố đó tác động đến trạng thái tinh thần của NCT như thế nào Qua đó
có thể đưa ra một số kết luận và khuyến nghị đối với xã hội nói chung và các gia
Trang 13đình nói riêng Nhằm mục đích ngày càng nâng cao đời sống tinh thần cho NCT trong xu thế chung của xã hội không ngừng phát triển như hiện nay
3 M ục tiêu nghiên cứu
3.1 M ục tiêu tổng quát
Tìm hiểu đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
3.2 M ục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
- Phân tích yếu tố tín ngưỡng tôn giáo tác động tới đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
- Xem xét mối quan hệ với người thân, bà con, hàng xóm, bạn bè tác động tới đởi
sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
- Tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của NCT ở nông thôn đô thị
3.3 Nhi ệm vụ: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ
nghiên cứu:
hiện nay như thế nào
để đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho NCT
- Tìm tài liệu và tổng quan tình hình nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết của đề tài
- Sử dụng những khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu: người cao
tuổi, gia đình, tín ngưỡng …
- Xác định công cụ để thu thập thông tin
- Tiếp cận khách thể nghiên cứu
- Xử lý thông tin
- Dựa vào phần xử lý để phân tích, viết báo cáo
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và NCT tại phường 8,
quận 3, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Từ 5/04/2011 đến 11/7/2011
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập và phân tích nội dung các bài báo, các nghiên cứu khoa học,
tạp chí xã hội học, sách … có liên quan đến đề tài Tìm ra những thông tin cần thiết, giúp cho bài phân tích được sâu sắc và phong phú hơn
5.2 Phương pháp nghiên c ứu định tính sử dụng công cụ phỏng vấn sâu
c ấu trúc
Tác giả sử dụng những câu hỏi chi tiết để đi tìm hiểu về thực trạng
cũng như các yếu tố nào tác động tới đời sống tinh thần của NCT Từ đó sẽ đưa ra đượ c những dẫn chứng và phân tích đề tài tốt hơn
Đồng thời với đề tài này tác giả so sánh sự khác biệt giữa nông thôn và đô
thị Vì vậy sử dụng dữ liệu định tính sơ cấp từ các biên bản phỏng vấn sâu số 1, 3,
4, 5, 6, 9 của đề tài “Đời sống tinh thần của NCT ở Tp HCM hiện nay” (nghiên
cứu trường hợp tại phường 8 quận 3) của tác giả Phạm Thị Hà Thương nhằm giúp cho việc so sánh dễ dàng hơn và mang lại nhiều thông tin về đời sống tinh thần
của NCT tại nộng thôn và đô thị hiện nay
Trang 15* Phương pháp chọn mẫu
Xã La Ngà và phường 8 là nơi tập trung của rất nhiều loại cư dân thuộc các vùng lãnh thổ khác nhau về đây cư ngụ , nhiều loại hình tôn giáo và có nhiều ngành nghề khác nhau Nghiên cứu về thực trạng đời sống tinh thần của
người cao tuổi ở nông thôn Chúng tôi sẽ lựa chọn đối tượng theo
- Phật giáo
phương pháp
chọn mẫu phi xác suất, cách chọn mẫu theo tiêu chí Tiêu chí chọn mẫu này đáp ứng được mục tiêu đưa ra là thực trạng đời sống tinh thần của người cao
tuổi Do hạn chế về thời gian và năng lực nên chúng tôi sẽ chọn 10 đố i tượng
ở nông thôn và 10 đối tượng ở đô thị theo tiêu chí tôn giáo và chọn 3 nhóm tôn giáo như sau
Nông thôn: 3 cuộc ( 1 nam, 2 nữ)
Thành thị: 4 cuộc ( 2 nam, 2 nữ)
- Thiên chúa giáo
Nông thôn: 3 cuộc (1 nam, 2 nữ)
Thành thị: 3 cuộc (3 nam)
- Không tôn giáo
Nông thôn: 4 cuộc ( 3 nam, 1 nữ)
Thành thị: 3 cuộc ( 2 nam, 1 nữ)
Tổng cộng là 20 cuộc
6 Phương pháp xử lý
Phương pháp xử lý thông tin định tính: gỡ băng phỏng vấn sâu và làm sạch
dữ liệu theo vùng chủ đề đã đặt ra, nhằm thống kê các thông tin một cách cụ thể hơn Từ đó sẽ giúp cho việc liệt kê, phân loại và nhóm những thông tin thu được dùng để trích dẫn trong một số trường hợp cần thiết cho sự minh chứng trong báo
Trang 16cáo được cụ thể hơn Qua đó sẽ làm nổi bật được vấn đề nghiên cứu của đề tài về đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn và đô thị hiện nay
Đối với những số liệu thứ cấp tác giả sẽ xem xét và đối chiếu những thông tin tìm được Từ đó sẽ đưa những dữ liệu cần thiết vào trong đề tài, làm cho đề tài phong phú hơn
7 K ết cấu của báo cáo
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và hướn g tiếp cận lý thuyết của đề tài
Chương 2: Thực trạng đời sống tinh thần của người cao tuổi ở nông thôn và
đô thị hiện nay
2.1 Tình hình KT- XH của Đồng Nai và TpHCM hiện nay
2.2 Thực trạng đời sống tinh thần của người cao tuổi ở nông thôn và đô thị
hiện nay
Chương 3: Các yếu tố tác động đến đời sống tinh thần của người cao tuổi và
giải pháp nhằm nâng cao đời sống tinh thần ở nông thôn và đô thị hiện nay
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 17
PH ẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
1.1 Các khái ni ệm có liên quan
1.1 1 Người cao tuổi
Theo Trần Thị Vân Anh trong “ Người cao tuổi và gia đình” (Tạp chí
Nghiên cứu gia đình và giới số 2-2008), khái niệm NCT được xem ở những góc
độ sau:
Thứ nhất, một số nghiên cứu về NCT sử dụng tuổi nghỉ hưu như một tiêu chí xác định NCT Các này có thuận lợi là tuổi nghỉ hưu đã được quy định bởi các văn bản pháp quy ở mỗi nước Tuy nhiên, cách này có điểm bất lợi là đối với nhiều người, chẳng hạn như người tự sản xuất kinh doanh và lao động tự do thì
tuổi nghỉ hưu không có ý nghĩa cụ thể Ngoài ra, ngay đối với những người làm công ăn lương thì tuổi nghỉ hưu cũng không phù hợp với nhiều trường hợp bởi có
những người về nghỉ trước tuổi này hay có những người còn làm việc sau tuổi này
Thứ hai, xét từ góc độ sinh học, NCT là các cá nhân mà sự lão hóa của cơ
thể đã bộc lộ ở các mức khác nhau, thể hiện cụ thể ở tuổi thọ của họ Tuy nhiên, người ta già ở những độ tuổi khác nhau Những dấu hiệu như da mồi, tóc bạc hay
khả năng vận động,… có sự khác biệt rất lớn giữa những người cùng tuổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, xã hội,…
Thứ ba, xét từ góc độ kinh tế, tuổi già là thời điểm mà người lao động không còn khả năng độc lập về kinh tế nên cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ xã hội
Một hệ thống các dịch vụ hay là ngành chăm sóc sức khỏe, dịch vụ phúc lợi đối
với NCT ra đời và ngày càng phát triển Tuy nhiên, tiêu chí này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhóm đối tượng có khả năng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc
Thứ tư, xét từ góc độ các quan hệ xã hội, NCT là những người giảm dần các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và tăng dần sự phụ thuộc vào các thành viên xã hội khác để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình Tuy nhiên, cách xác
Trang 18định này xem NCT là những người yếm thế, là hình thức phân biệt đối xử với NCT
Theo từ điển Tiếng Việt, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên” Gìa hoặc già cả còn dùng để chỉ người nhiều tuổi, cao tuổi, lâu năm Như vậy, về mặt thuật ngữ “người già” hay “người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách nói khác nhau mang cùng một nội dung khái niệm dùng để chỉ người đã rất nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình
Trước đây, trong xã hội cổ truyền tuổi thọ trung bình thấp khiến con người nhanh đến tuổi già, hơn 50, 60 tuổi đạ được gọi là già
Ngày nay, trong những điều kiện mới, đã nảy sinh một lớp người cao tuổi
mới, tuy tuổi đời đã cao nhưng vẫn trẻ cả về tinh thần và thể lực Vì vậy, việc dùng khái niệm “già” căn cứ vào tuổi tác không phản ánh chính xác quá trình sinh
học và tâm lý của lớp tuổi này Tổ chức y tế thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau:
- Từ 45-59: trung niên
- Từ 60-70: người có tuổi
- Từ 70-90: người già
- Từ 90 trở lên: người già sống lâu, đại thọ
Ở Việt Nam hiện nay, nói về lứa tuổi 60 trở lên vẫn còn tồn tại cả ba khái
niệm người già, người có tuổi, người cao tuổi
Như vậy, với đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm NCT được phân định theo độ tuổi nghĩa là tất cả những người phụ nữ và nam giới có độ tuổi từ 60 trở lên
1.1.2 Đời sống tinh thần: là một tập hợp những hoạt động đem lại sự thoải
mái cho các cá nhân, nhóm, cộng đồng như: giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa,
thể dục thể thao, thăm hỏi bạn bè, giao tiếp xã hội, tham quan, du lịch, thưởng
thức các loại hình văn hóa nghệ thuật,…
Trang 191.1.3 L ối sống
Lối sống đề cập đến các khuôn mẫu hành vi ứng xử của các cá nhân, các nhóm xã hội trong những hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ th ể và các khuôn mẫu ứng xử đặc trưng cho mỗi nhóm xã hội
Như vậy lối sống là phương thức hành động sống của các cá nhân, các nhóm xã hội, gắn liền với việc thoả mãn các nhu cầu cấp bách trong những tình
huống xã hội cụ thể
1.1.4 Gi ải trí
Theo t ừ Điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) NXB Thế Giới
Hà Nội - 1994 trang 16 định nghĩa “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ
học Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời
sống cộng đồng”
1.1.5 Khái ni ệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế
giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc , dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ
chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ
thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời
rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo
Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng
Trang 20với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng,
của các điều kiện vật chất của đời sống xã hội, nên nguồn gốc phát sinh các biểu tượng tôn giáo cũng ở ngay trong điều kiện sinh sống của con người Những lực lượng trần tục thống trị con người, đè nặng lên ý thức của họ và được phản ánh vào trong ý thức của họ một cách hoang đường, đã sinh ra những biểu tượng siêu
tự nhiên Những hình ảnh và biều tượng tôn giáo trong ý thức của con người, chính là tốn tại được phản ánh Học thuyết của K.Marx và F.Engels về sự phản ánh hoang đường hiện thực, với tính cách là nguồn sản sinh và nội dung của lòng tin tôn giáo, đã giáng một đòn quyết định vào các quan niệm thần học, vào các quan niệm tầm thường, nông cạn của chủ nghĩa siêu hình trong vấn đề ngồn gốc
của tôn giáo
Nếu trong thế giới quan tôn giáo, tồn tại trần tục của con người được phản ánh một cách hoang đường, thì những quan điểm tôn giáo cùng các hệ thống tín điều hay các giáo điều, đều có cơ sở của chúng là tình hình kinh tế, hạ tầng cơ sở
vật chất của một xã hội nhất định Tuy nhiên chúng cũng tác động lại hạ tầng cơ
sở và trong một chừng mực nào đó chúng cũng giữ vai trò chủ động Bức tranh càng trở nên phức tạp hơn một khi các quan điểm, biểu tượng tôn giáo không phải
Trang 21chỉ chịu sự tác động của cơ sở hạ tầng mà còn cả những yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng Không thể không thấy rằng, tác động vào tôn giáo còn là đạo đức, là triết học, là các quan điểm chính trị và pháp quyền Trong vấn đề này, giữa vai trò quan trọng là chính trị, nhà nước, các hoạt động của nhà nước, các hình thức khác nhau của đấu tranh giai cấp, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tôn giáo Trật tự ở trên
trời, chính là cái phản ánh cái trật tự dưới đất Lối sống, đạo đức thế tục cũng được
phản ánh hoang đường thành lối sống, đạo đức của vương quốc nhà trời cùng với
những ước vọng, nỗi đau buồn của các tập đoàn, các gia cấp xã hội khác nhau trong cuộc sống hiện thực Mặt khác tôn giáo cũng ảnh hưởng đến mọi mặt, mọi
yếu tố của kiến trúc thượng tầng Ảnh hưởng có biểu hiện ra đời sống chính trị, trong sự phát triển của các quan điểm triết học, đạo đức, mỹ học, xã hội học, trong
sự phát triển của nghệ thuật,… Thông thường, ảnh hưởng đó mang tính chất phản động và là một gánh nặng đè lên mọi yếu tố và mọi mặt của đời sống xã hội Trong đời sống thực tế, có một số lớn các yếu tố chồng chéo nhau, tác động lẫn nhau hết sức phức tạp Tôn giáo là một trong số những yếu tố đó Vào những năm tháng cuối cuộc đời, F.Engels đã làm sáng tỏ các v ấn đề này qua các thư từ trao đổi
( Theo K Marx-Engels, Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.56.)
1.1.7 An sinh xã h ội
Ngân hàng Thế giới cho rằng: “An sinh xã hội là những biện pháp công
cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm
chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và
những bấp bênh về thu nhập”
1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết
1.2.1 Lý thuy ết sự lựa chọn hợp lý của Coleman
Trang 22Trong hệ thống lý thuyết đồ sộ của Xã hội học thì lý thuyết Trao đổi và lựa
chọn hợp lí được coi là lý thuyết có nguồn gốc đa dạng nhất, bắt nguồn từ những quan điểm của các nhà Kinh tế, Nhân loại học, Tâm lí học Dù vậy, nguồn gốc kinh tế với những khái niệm chi phí – lợi nhuận là một trong những luận điểm gốc
của quan điểm này6
Khi nhắc đến lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý, có lẽ không ai có thể vượt qua được tên tuổi của Georg Simmel, ông nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa mãn các nhu
cầu cá nhân Simmel cho rằng mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ
chế cho - nhận, tức là trao đổi mọi thứ ngang giá nhau
6
Thuyết lựa chọn duy lí dựa vào tiên đề cho rằng con người hoạch định hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Tức là trước khi quyết định một hành động nào đó con người luôn luôn đặt lên bàn cân để cân đo, đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận sẽ thực hiện hành động và ngược lại nếu chi phí lớn hơn hành động thì họ không hành động
6
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính
toán để quyết định sử dụng loại phương tiện tối ưu trong số những điều kiện hiện
có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực
6
Áp dụng lý thuyết này vào đề tài, giúp ta gi ải thích lý do tại sao NTC ở nông thôn và đô thị lại có những sự lựa chọn khác nhau khi tham gia vào các hoạt động xã hội cũng như các hoạt động vui chơi giải trí NCT có quyền suy nghĩ và
lựa chọn những cái mà họ cảm thấy phù hợp với hoàn cảnh sống và sở thích của
họ từ đó sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho họ
1.2.2 Lý thuy ết mạng lưới
Trang 23Lý thuyết này gắn với tên tuổi của các nhà xã hội học như Ronald Burt, Mark Grannovetter, Nan Lin, Miller McPherson, Jams M.Cook
Một khía cạnh trong nghiên cứu lý thuyết mạng lưới này đó là, các nhà xã
hội học có xu hướng tập trung vào mọi người có các liên hệ vững trong các nhóm
xã hội Họ có xu hướng xem các liên hệ vững là cái cơ bản, trong khi các liên hệ
yếu được cho là không có ý nghĩa quan trọng “ Liên hệ vững” , ví dụ như các nối
kết giữa mọi người và bạn bè thân hữu của họ, và các “liên hệ yếu”, ví dụ như
giữa mối liên kết giữa mọi người và những người liên kết bình thường Nhưng theo Mark Grannovetter, với lý thuyết về sức mạnh của những liên kết yếu, Ông cho rằng các liên kết yếu mới chính là các liên kết tạo ra nhiều vốn xã hội hơn các liên kết mạnh Ví dụ, các liên hệ giữa hai actor có thể tạo thành một cầu nối giữa hai nhóm có các liên hệ nội bộ vững không có một liên hệ yếu như thế, hai nhóm này có thể biệt lập với nhau Sự biệt lập này, tới lượt nó, có thể dẫn tới một xã hội phân tán hơn Một cá thể không có mối liên hệ yếu có thể thấy mình bị biệt lập trong một nhóm đan kết chặt chẽ và có thể thiếu thông hệ yếu do đó ngăn ngừa sự
biệt lập và cho phép các cá thể hòa hợp tốt hơn với xã hội lớn
Vận dụng quan điểm này vào đề tài, trong mạng lưới xã hội thường có các
mối liên kết, các mối quan hệ, tương tác giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, hay các tổ chức trong xã hội…tuy nhiên tùy thuộc vào hoàn cảnh, môi trường, mục đích, nhu cầu khác nhau thì họ sẽ có những mối tương tác khác nhau Trong khu
vực đô thị, do sức ép về kinh tế cũng như công việc nên mối tương tác chủ yếu đó
là mối tương tác giữa những thành viên trong gia đình, qua đó cho ta thấy họ thường sử dụng các mối liên hệ vững, và ngoài ra họ tận dụng những mối quan hệ quen biết để phục vụ cho công việc hoặc mang tính cách xã giao Tuy nhiên sức
mạnh của những liên kết yếu chính là đề cập đến những mối quan hệ lỏng lẻo bên ngoài cộng đồng Hiện tượng này có thể thấy ở xã hội Việt Nam, chẳng hạn như trong các đô thị hiện đại mối quan hệ hàng xóm láng giềng rất lỏng lẻo, thậm chí
giữa hai nhà hàng xóm chẳng có mối quan hệ nào Chính vì vậy những NCT ở đô
9
Trang 24thị thường sống khép kín hơn, ít sự quan tâm giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, vì
vậy họ thường tham gia vào các tổ chức cộng đồng như hội NCT, hội cựu chiến binh, các câu lạc bộ thể dục… Ở nơi đó họ tìm thấy được niềm vui, tăng sức khoẻ
và tham gia để thấy rằng mình vẫn là người có ích cho xã hội Bên cạnh đó ở nông thôn thì do người dân sống trong một cộng đồng mở, mọi người tin tưởng và quan tâm chia sẻ đến nhau chặt chẽ hơn đô thị đặc biệt là đối với NCT Người xưa có câu “bán anh em xa không bằng mua láng giềng gần” là vậy Việc sử dụng lý thuyết này vào đề tài nhằm giải thích xem những tổ chức trong mạng lưới xã hội
đã tác động đến sự lựa chọn các loại hình hoạt động giải trí nhằm nâng cao đời
sống tinh thần cho NCT như thế nào
1.3 Câu h ỏi nghiên cứu
NCT khi tham gia các hoạt động vui chơi giải trí có ảnh hường như thế nào đến đời sống tinh thần của họ?
Các hoạt động của tổ chức tôn giáo có tác động như thế nào đến đời sống tinh thần của NCT?
Mối quan hệ giữa NCT ở nông thôn và đô thị đối với các thành viên trong gia đình, bạn bè, hàng xóm hiện nay như thế nào?
Mức độ tham gia của NCT ở nông thôn và đô thị vào các hoạt động xã hội
và các hoạt động đó đã ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của NCT hiện nay như
thế nào?
1.4 Khung phân tích
Trang 25Điều kiện kinh tế xã
hội
Tín ngưỡng, tôn giáo
M ối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội
Đời sống tinh thần của người cao tuổi
Tiếp
cận các
loại hình vui chơi hình
Mức
độ tham gia
Mối quan
hệ với gia đình, bà con, bạn
bè
Kinh tế gia đình
Nguồ
n thu
nhập
Gi ải pháp và khuyến nghị
Trang 261.5 Gi ả thuyết nghiên cứu
Ở nông thôn do điều kiện kinh tế của ngư ời dân còn khó khăn, NCT vẫn
phải tham gia lao động tạo ra thu nhập Chính vì vậy họ ít có thời gian để tham gia vào các hoạt động giải trí Bên cạnh đó các hoạt động của các tổ chức hội ở nông thôn còn hạn chế nên đã không thu hút NCT tham gia Do đó mức độ tham gia của NCT vào các hoạt động nhằm nâng cao đời sống tinh thần ở nông thôn thấp hơn ở thành thị
Trong khi các loại hình giải trí dành cho NCT ở nông thôn còn thiếu và không gây hứng thú, thì các hoạt động trong tổ chức tôn giáo lại tạo được sự thu hút với NCT mạnh hơn Chính vì vậy NCT ở nông thôn có mức độ tham gia vào các hoạt động tôn giáo nhiều hơn, nên tôn giáo tác động tới đời sống tinh thần của NCT ở nông thôn mạnh hơn đô thị
Trang 27CHƯƠNG 2: TH ỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI
2.1 Tình hình kinh t ế - văn hóa – xã hội ở huyện Định Quán
V ị trí: Nằm phía Đông tỉnh Đồng Nai, phía Bắc-Đông bắc giáp huyện Tân
Phú; phía Đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía Nam giáp các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Thống Nhất; phía Tây giáp huyện Vĩnh Cửu
T ổng diện tích tự nhiên: 966,5km2, chiếm 16,40% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh
Dân s ố năm 2011: 196.998 người (trong đó nam 98.996 người, nữ 98.002 người)
Huy ện có 14 đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn Định Quán và 13 xã: Thanh
Sơn, Phú Tân, Phú Vinh, Phú Lợi, Phú Hòa, Ngọc Định, Gia Canh, Phú Ngọc, La Ngà, Túc Trưng, Phú Túc, Phú Cường, Suối Nho
Các cơ quan chuyên môn: Phòng Nội Vụ - Lao động - Thương Binh - Xã
hội; Phòng Tài - Kế hoạch; Phòng Giáo dục; Phòng Văn hoá - Thông tin - Thể thao; Phòng Y tế; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Phòng Tư pháp; Phòng Kinh tế; Phòng Hạ tầng kinh tế; Thanh tra huyện;
*
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Phòng Tôn giáo, Dân tộc; Văn phòng HĐND và UBND
+ Hướng Đông nam Định Quán có hai sông lớn chảy qua: sông Đồng Nai dài 32km, sông La Ngà dài 46,6 km thuận lợi phát triển giao thông đường thủy -
bộ và giao lưu kinh tế với các vùng
Nh ững lợi thế của huyện:
+ Định Quán là nằm trên quốc lộ 20 giữa tuyến du lịch TP.HCM - Đà Lạt nên thị trấn Định Quán đã định hình qua nhiều thập niên là điểm dừng của khách
du lịch với các điểm tham quan có thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng: Sông La Ngà,
đá Ba Chồng, thác Ba Giọt, thác Mai
Trang 28+ Trung tâm thị trấn là khu vực có hoạt động dịch vụ - thương mại khá phát triển, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh cá thể đã tạo điều kiện lao động có việc làm trong lực lượng lao động phi nông nghiệp.
+ Tài nguyên khoáng sản của huyệ n gồm: vàng, đá quý và nhất là đá xây
dựng có hầu hết trên diện tích của huyện với trữ lượng lớn có thể khai thác công nghiệp
+ Các loại cây trồng: cây thuốc lá, cà phê, mía, điều, các loại đổ, cây hoa màu và rừng trồng là thế mạnh chủ yếu của Huyện
* Đã quy hoạch khu công nghiệp Định Quán nằm trên trục Quốc lộ 20 phục vụ cho công nghiệp chế biến nông sản địa phương và phát triển kinh tế huyện
Tình hình ho ạt động của Hội người cao tuổi:
Tổng số NCT toàn huyện là:16.380 chiếm 8% dân số, trong đó NCT nữ 9424 =58
% tổng số NCT
Toàn Huyện có 14 cơ sở Hội – ban chấp hành BCH hiện có 184 ủy viên
Số chi hội 121 - Số tổ hội : 593
Số hội viên (HV) kết nạp trong 6 tháng là 283 hội viên Số HV từ trần 138 và chuyển đi 24 HV
Tổng số HV NCT toàn huyện: 13.792/16.380 NCT = 84 % tổng số NCT trong đó
HV nam 5797, HV nữ 7995, được chia theo độ tuổi như sau:
+HV từ 55 – 59 tuổi : 2621 cụ (nam 1.059, nữ 1572)
+HV từ 60 – 70 tuổi : 5783 cụ (nam 2303, nữ 3480)
+HV từ 71 – 84 tuổi : 4180 cụ (nam 1904, nữ 2276)
+HV từ 85 – 99 tuổi : 1073 cụ (nam 422 nữ 651)
+Riêng NCT tròn 90 tuổi: tổng số: 84 cụ (nam 40 cụ, nữ 44 cụ)
Vài nét v ề địa bàn nghiên cứu
15
Trang 29Xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai với tổng số dân là 14.642 năm 2011, là một trong bốn xã có dân số cao nhất h uyện Trong đó, người có độ
tuổi từ 60 trở lên có 1170 người chiếm 7,9% dân số trong xã (nữ giới có 677 người) Trong đó, NCT từ 60 – 79 tuổi chiếm số đông với 926 người; NCT từ 80 –
84 tuổi có 195 người; NCT từ 85 – 99 có 109 người Tổng số Hội viên tham gia
Hội NCT là 936 người chiếm 80% (trong đó nữ là 347 người)
Trong 6 tháng đầu năm 2011 xã đã tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miển phí cho 58 cụ số tiền 2.590.000 đồng.Trợ cấp khó khăn đột xuất cho 4 cụ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền: 800.000 đồng
Phối hợp vận động xây dựng 1 căn nhà tình thương cho 1 cụ gặp khó khăn về nhà ở tổng số tiền: 17.000.000 đồng
Mừng thọ trong 6 tháng đầu năm cho 107 cụ số tiền: 5.306.000 đồng
Tổ chức tặng quà cho hội viên trong dịp tết cổ truyền cho 125 cụ với số tiền 4.920.000đ
2.2 Tình hình kinh t ế - văn hóa – xã hội ở quận 3
15
Quận 3 nằm ở trung tâm thành phố, diện tích 4,9km2
V ề tôn giáo: Là nơi tập trung nhiều đình, chùa, nhà thờ lớn như: chùa Vĩnh
Nghiêm, chùa Xá Lợi, Trung tâm Phật giáo Thích Quảng Đức, nhà thờ Tân Định, Dòng Chúa Cứu Thế, nhà thờ Bùi Phát, Đình Xuân Hoà, Đình Phú Thạnh, Đình Ông Súng,… Ngoài ra còn có tháp tưởng niệm nơi Hòa thượng Thích Quảng Đức
tự thiêu, có nhà bảo tàng chứng tích chiến tranh thu hút nhiều khách tham quan
có địa giới hành chánh: phía Bắc giáp quận Phú Nhuận và quận Tân Bình, phía Đông và phía Nam giáp quận 1, phía Tây giáp quận 10 Dân số quận 3 tính đến ngày 1/4/2009 là 190.553 người, trong đó, nam giới là 87.471 người, nữ giới là 103.082 người Dân
số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao, khoảng 75% dân số
Trang 30Về mặt tổ chức hành chính, quận 3 có 14 phường có tên gọi từ phường 1 đến phường 14 Trụ sở UBND quận 3 được đặt tại số 185 đường Cách Mạng Tháng Tám (nơi trước giải phóng là tòa Đại sứ Campuchia)
V ề giao thông đường bộ: mật độ đường sá dày đặc, có nhiều trục đường
giao thông quan trọng chạy ngang qua như: đường Cách Mạng Tháng Tám nối với
Quốc lộ 22 đi Tây Ninh sang Campuchia, đường Điện Biên Phủ nối với Quốc lộ 1 xuyên Việt, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đi sân bay Tân Sơn Nhất Về giao thông đường sắt, Ga Sài Gòn nằm trên địa bàn quận 3 là ga đầu mối giao thông của thành phố và các tỉnh phía Nam đi cả nước trên tuyến đường sắt Nam - Bắc
V ề kinh tế, khi tiếp quản vào năm 1975, quận 3 chỉ có 30 cơ sở công nghiệp
nhỏ, 10 cơ sở tiểu thủ công nghiệp và khoảng 3000 hộ kinh doanh cá thể, đến nay (2005) có 1.119 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sản xuất nhiều ngành hàng với giá trị sản lượng (theo giá cố định 1994) là 1.146 tỷ đồng và 18.098 cơ sở kinh doanh thương mạ i & dịch vụ với doanh thu đến 22.860 tỷ đồng Thực hiện
chủ trương phát triển kinh tế hợp tác, quận luôn quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ cho các hợp tác xã hoạt động Nhiều hợp tác xã hình thành từ năm 1975 đến nay vẫn duy trì được hoạt động và có bước phát triển vững mạnh như hợp tác xã Thương
mại quận, các hợp tác xã thương mại liên phường, hợp tác xã vận tải, hợp tác xã
xe du lịch,…
V ề hoạt động văn hóa, quận 3 có được sự hội tụ của nhiều đơn vị trung tâm
sinh hoạt văn hóa như: Nhà văn hóa Thiếu nhi, Nhà Truyền thống Phụ nữ Nam bộ, Nhà Trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược,… quận cũng đã đầu tư xây dựng một
số cơ sở văn hóa như Trung tâm Văn hóa quận 3, Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên quận 3 Câu lạc bộ Lao động, Câu lạc bộ Hưu Trí,… Câu lạc bộ âm nhạc Cầu
Vồng tại 126 đường Cách Mạng Tháng Tám thuộc Trung tâm Văn hóa quận đã trở thành một trong những tụ điểm phục vụ văn nghệ cho đông đảo thanh thiếu niên
và nhân dân lao động trong thành phố
V ề y tế, quận 3 cũng là nơi tập trung nhiều bệnh viện, chuyên khoa lớn của
thành phố, trung ương như: Bệnh viện Bình Dân, Bệnh viên Da Liễu, Bệnh viên Y
Trang 31học Dân tộc, Bệnh viện Mắt, Trung tâm Tai - Mũi - Họng, Viện Pasteur,… Ngoài Trung tâm Y tế quận, mạng lưới y tế địa phương gồm các đội chuyên khoa, vệ sinh phòng dịch, lao - tâm thần, hộ sản, cấp cứu và 14 trạm y tế phường
V ề giáo dục, mạng lưới giáo dục quận 3 có 30 cơ sở giáo dục mầm non 24
trường tiểu học, 12 trường phổ thông, trung học cơ sở hằng năm ngành tiếp nhận khoảng 45.000 học sinh Qua các kỳ thi hết cấp, tỷ lệ học sinh luôn đạt trên 95% Nhiều trường trên địa bàn quận trở thành những trường điểm của thành phố; được
nhận những phần thưởng cao qúy của Nhà nước như trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn (đã 3 lần vinh dự đón nhận Huân chương lao động I,II,III ) trường trung học
cơ sở Hai Bà Trưng (Huân chương lao động hạng III),…
V ề công tác xã hội, phong trào chăm lo cho diện chính sách, xây nhà tình
nghĩa được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân và các cơ quan, đơn vị Công tác xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã phát huy hiệu quả, nhiều hộ đã vượt nghèo, có vốn làm ăn sinh sống, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên địa bàn quận ngày càng được cải thiện và nâng cao Cùng với thành phố, quận 3 cũng
đã hoàn thành chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo giai đo ạn 1992 - 2004 và từ 2005 tiếp
tục thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo theo tiêu chí mới (6 triệu đồng/người/năm) Đến nay (12-2008) 14/14 phường thuộc quận đã xác định không còn hộ nghèo có thu nhập bình quân dưới 7 triệu đồng/người/năm
Ho ạt động của Hội người cao tuổi: hiện nay NCT từ 60 tuổi trở lên cư trú
trên địa bàn quận là 20887 người trên tổng số dân 190.553 người Sỹ số hội viên đầu kỳ 15.506 người, trong năm 2010 Hội NCT đã phấn đấu phát triển thêm hội viên mới 2.838 người, giảm 578 hội viên Tổng số hội viên đến cuối kỳ là: 17.766 người, tỷ lệ 85% trên tổng số NCT nói chung
Trang 32+ Phối hợp với phòng LĐTB&XH quận thống kê, lập danh sách NCT được hưởng chính sách xã hội theo Nghị định 67/CP
+ Phối hợp với các Câu lạc bộ NCT, vận động cán bộ, hội viên và NCT tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh có trên 10.647 người tham gia
+ Phối hợp với Trung tâm Thể dục Thể thao, Trung tâm Văn hóa quận 3 tổ
chức hội thi bơi lội, thể dục dưỡng sinh, Câu lạc bộ thơ ca, tham gia thi đấu bộ môn gậy dài thể dục dưỡng sinh toàn thành
+ Tổ chức tham quan, du lịch cho hội viên và NCT cho 14 phường trên đại bàn
+ Qũy chăm sóc NCT của quận và 14 phường đã vận độ ng được 932.358.000 triệu đồng
* Vài nét v ề địa bàn nghiên cứu
14
Phường 8 quận 3 với tổng số dân là 15.256 năm 2010 là một trong ba phường có dân số cao nhất quận Trong đó, người có độ tuổi từ 60 trở lên có 1.843 người chiếm 12,08% dân số trong phường (nữ giới có 1.168 người) Trong đó, NCT từ 60 – 79 tuổi chiếm đa số với 1.493 người; NCT từ 80 – 84 tuổi có 201 người; NCT từ 85 – 99 có 151 người Tổng số Hội viên tham gia Hội NCT là 1.482 người chiếm 80,41% (trong đó nữ là 192 người)
Tính đến năm 2010, trên địa bàn phường, Hội NCT đã tạo điều kiện phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho 26 người, trong đó có một NCT đạt sản xuất
giỏi Số hộ NCT thuộc diện xóa đói giảm nghèo là 10 hộ, có 443 hộ NCT đạt danh
hiệu gia đình văn hóa, 43 NCT đạt danh hiệu của hoạt động “Nêu gương sáng” Bên cạnh đó, số NCT được hưởng chính sách cao nhất trong 14 phường là 173 người
12
Ngoài ra, NCT trên địa bàn phường còn được Hội NCT thăm hỏi khi ốm đau, tổ chức mừng thọ cho các cụ cao niên, tổ chức khám bệnh, phát thuốc miễn phí, tổ chức đi tham quan du lịch , tổ chức bữa cơm cho NCT
13
2.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trang 33Nghề nghiệp
Trình
độ học vấn
Kinh t ế gia đình
Không tôn giáo
Thiên chúa
NT
S ố 4 80 N ữ Goá Làm r ẫy Ti ểu
h ọc
Trung bình
Thiên chúa
Ph ật giáo NT
S ố 6 62 Nam Đã k ết
hôn
Kinh doanh
Ph ổ thông trung học
Trung bình
Không tôn giáo
Không tôn giáo
h ọc
Trung bình
Không tôn giáo(nho giáo)
Thiên chúa
Phật giáo NT
S ố 11 62 Nam Đã k ết B ộ đội Ph ổ Trung Ph ật giáo ĐT
Trang 34Thiên chúa
ĐT
S ố 14 74 Nam Đã k ết
hôn
Nhân viên ngân hàng
Ph ổ thông trung học
Ph ật giáo ĐT
Số 16 62 Nữ Goá Công nhân
may
Phổ thông
cơ sở
Trung bình
Phật giáo ĐT
Số 17 70 Nam Goá Kinh
doanh
Phổ thông trung
Ph ổ thông trung học
Không tôn giáo
Phổ thông trung
Trang 35với tổng đối tượng được khảo sát là 20 người gồm có 8 nữ và 12 nam, trong đó địa bàn đô thị là 3 nữ 7 nam, ở nông thôn là 5 nam, 5 nữ
V ề tuổi: Do đặc thù của nghiên cứu là về NCT nên độ tuổi trong nghiên cứu
này là từ 60 trở lên, trong đó độ tuổi từ 60 đến 69 là 10 người, từ 70 đến 79 là 6 người và từ 80 tuổi trở lên là 4 người
NCT được lựa chọn ở đây đa phần là những người có độ tuổi dưới 80 vì
tuổi càng cao thì sức khoẻ cũng như mức độ minh mẫn không còn tốt như những người trẻ hơn
Tình tr ạng hôn nhân: Trong tổng số 20 người được hỏi thì số người đã kết
hôn là 13 và goá là 7 Trong đó ở nông thôn có 6 đã kết hôn, 4 goá, ở đô thị là 7 đã
kết hôn và 3 goá
Ngh ề nghiệp: Mẫu nghiên cứu ở đây có ngành nghề rất đa dạng, tuy nhiên
giữa nông thôn và đô thị có sự khác biệt đó là trong 10 người được hỏi ở nông thôn thì có 3 người làm nghề nông, ngư nghiệp, còn lại 7 người là các nghề khác Còn ở đô thị thì đa số là công chức nhà nước và kinh doanh, nội chợ
Trình độ học vấn: Học vấn ở nông thôn và đô thị nhìn chung có sự khác
biệt, ở đô thị về trình độ học vấn thì có 7 người có trình độ trung học, 1 trung
cấp, 1 đại học và tiểu học chỉ có 1 người Trong khi đó ở nông thôn có 3 người trình độ tiểu học, 5 trung học và chỉ có 2 trung cấp
Kinh t ế gia đình: Do đặc điểm chung về kinh tế, ở nông thôn thường
thấp hơn đô thị nên với 20 người được khảo sát thì ở nông thôn có 10 người kinh tế ở mức trung bình, còn ở đô thị thì có 5 người kinh tế khá giả và 5 người kinh tế ở mức trung bình là phù hợp
Tôn giáo: Do đối tượng nghiên cứu được lựa chọn theo tiêu chí về tôn giáo nên giữa nông thôn và đô thị cũng có sự dàn trải tương đối đồng đều Ở
đô thị với 4 người theo đạo Phật, 3 thiên chúa và 3 không tôn giáo Còn ở nông thôn là 3 đạo Phật, 3 thiên chúa giáo và 4 không tôn giáo
Trang 362.4 Th ực trạng đời sống tinh thần của người cao tuổi ở nông thôn và đô
th ị hiện nay
2.4.1 Th ực trạng mối quan hệ trong gia đình của người cao tuổi ở nông thôn
và đô thị hiện nay
Ngoài việc tham gia vào các hoạt động xã hội, tham gia xã hội của NCT còn thể hiện qua giao tiếp xã hội mà ở đây ta xét đến mối quan hệ giữa NCT với người thân của họ
Trước hết chúng ta sẽ đề cập tới mối quan hệ giữa NCT với bạn đời của họ Theo 20 người trong cuộc khảo sát thì đã kết hôn là 13 và goá là 7 Trong đó ở nông thôn có 6 đã kết hôn, 4 goá, ở đô thị là 7 đã kết hôn và 3 goá Như vậy giữa
những NCT vẫn còn vợ/chồng thì hầu như mức độ họ chia sẻ thông tin với người
bạn đời của họ là ở mức thường xuyên Đa số những người được hỏi đều cho biết
rằng mỗi khi có chuyện gì cần bàn bạc hay có tâm sự đều chia sẻ với người
chồng/vợ của họ Và người chăm sóc họ chu đáo và tận tâm nhất cũng chính là
Những NCT đã mất vợ/chồng đương nhiên sẽ mất đi một người bạn để tâm
sự cảm thông Tuy nhiên khoảng trống ấy đã được lấp đầy bằng tình cảm của
những người con và bạn bè Con cái của họ luôn động viên an ủi chính vì vậy mà
dù không còn người bạn đời bên cạnh, đời sống tinh thần của NCT cũng được duy trì ổn định và họ có xu hướng tìm những hoạt động mới tham gia váo đó để tạo
niềm vui cho bản thân cũng như làm cho con cái yên lòng
Ngoài mối quan hệ với người bạn đời thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái
cũng rất quan trọng Mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái thể hiện qua
mức độ gặp gỡ, trao đổi thông tin giữa NCT với người thân của họ Tuy nhiên mối
Trang 37quan hệ này ở mức độ nào thì đều phụ thuộc vào điều kiện sống của mỗi gia đình Trong những gia đình đô thị khi mà con cái đi làm cà ngày thì khoảng thời gian cha mẹ trò chuyện với con cái thường ít, chủ yếu là nói chuyện trong bữa cơm gia đình hay những khi cần trao đổi, tư vấn thì con cái và bố mẹ mới nói chuyện cùng nhau
“T ụi nó học cao học giỏi chuyện nó thì nó biết, mình biết gì mà nói chuyện, chuy ện nhà chuyện cửa thì cũng chẳng có gì Nhưng mà nó cũng không có thì giờ
để nghe chuyện của mình, nó đi làm việc của nó Giới trẻ nó ngồi nói chuyện với nhau, nó hi ểu về khoa học, máy móc, kỹ thuật, xã hội mình thì biết cái gì Bà già nào c ũng thế, ở nhà con cháu nó đi hết, còn có mình mình, có nhà nó việc nó mình
vi ệc mình, nó đi chơi, nó xem ti vi việc của nó, mình chẳng nói được gì Mà nó
c ũng chẳng muốn nghe, nói thật là nó cũng chẳng muốn nghe, mà không biết chuy ện gì mình nói để mà nó nghe nó thích Gia đình có cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm Con cái nó th ế, việc gì nó không biết nó hỏi mình, nó nhờ mình, mình giúp được thì giúp” (Mẫu 15, 82 tuổi, Phật giáo, ĐT)
Ở đô thị thì thường hàng tháng con cái hay tụ họp lại để ăn uống vui chơi, đây cũng là dịp để bố mẹ con cháu có thể trao đổi, gặp gỡ vui vẻ với nhau Chia sẻ
với nhau những câu chuyện hay đơn giản là thời gian để gia đình cùng thư giãn sau những ngày làm việc vất vả
“M ột tháng tụi nó đến chơi một lần Tổ chức ăn uống ở nhà, có khi tụi nó hùng ti ền với nhau nó đãi, còn có khi thì hai bác bỏ tiền ra đãi Mấy đứa lớn thì
nó thích ở nhà ăn uống nhưng mà thấy bác gái cực khổ này nọ nó không muốn, tổ
ch ức rồi đi tìm địa điểm nào đó ăn buffet, buffet thì đám cháu ngoại của bác nó khoái l ắm, tại nó thích vậy, nó không thích ăn nhà gò bó không đủ món Ra ăn buffet nó ch ạy nhảy lựa món mình ngồi mình coi cháu nó ăn cũng thích” (Mẫu 12,
72 tuổi, Phật giáo, ĐT)
Trang 38Ngoài ra NCT ở đô thị thường được con cái trợ giúp chi phí trong sinh hoạt
cũng như thỉnh thoảng có dịp đi chơi du lịch đâu đó thì con cái cũng trợ giúp về kinh phí, để các cụ đi chơi được thoải mái vui vẻ
Do quá trình đô thị hoá nên ở nông thôn một bộ phận những người trẻ đã di
cư để đi học tập, lao động ở đô thị Nên mức độ trao đổi thông tin giữa NCT với con cái thường không thường xuyên như trước mà chủ yếu là qua điện thoại Hoặc đối với những NCT sống riêng thì thường khi con cái về thăm mới trò chuyện trao đổi về công ăn việc làm, sức khoẻ của con cháu Đối với gia đình sống cùng với con cái thì mức độ trao đổi thường xuyên hơn, bố mẹ là người đi trước có kinh nghiệm nên thường đóng góp ý kiến đối với công việc làm ăn của con mình
Mỗi khi con cái có khó khăn vướng mắc thì cũng trao đổi với bố mẹ để tìm
ra hướng giải quyết phù hợp Khi còn trẻ có thể những NCT có những thói quen không tốt như nhậu nhoẹt, hoặc tật xấu nào đó, nhưng khi về già, nghĩ đến con cháu, họ ý thức được hành động của mình sẽ ảnh hưởng tới con cháu Nên có xu hướng giảm bớt hoặc từ bỏ những thói quen không tốt đó, việc làm đó có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với con cháu và giúp cho vai trò của NCT trong gia đình được
giữ vững và nâng cao
“Nói đúng ra là tôi không dám uốn g Xưa tôi uống được , nhưng bây giờ rượu thì có nhưng không dám uống Thứ nhất là giữ cho sức khỏe của tôi , tuổi già rồi không thể nào để sức khỏe tôi không tốt Chứ ngày xưa tôi cũng uống được lắm Thứ hai, có ý tôi cũng là ngăn ngừa con cháu là tôi đồng ý cho uống, rượu tôi
có nhưng mà uống thì phải có mức độ chứ cái kiểu mà hết chai nọ đến chai kia tôi không chịu Ý của tôi cũng là muốn làm gương cho con cháu nó biết Không cho uống rượ u nhiều , uống rượu nhiều cũng không có tốt ” (Mẫu 9, 82 tuổi, Thiên
chúa, NT)
Hiện nay do các phương tiện truyền thông phát triển nên việc liên lạc với bà con, dòng họ ở xa để nắm bắt tình hình cuộc sống của họ trở nên dễ dàng hơn NCT có thể sử dụng điện thoại và hiện đại hơn đó là sử dụng internet, vừa có thể
Trang 39trao đổi vừa có thể nhìn thấy nhau mà chi phí lại đỡ tốn kém So với trước kia mỗi
lần gặp nhau phải di chuyển một quãng đường xa, vừa mất thời gian, tiền bạc, và ảnh hưởng tới sức khoẻ Những NCT có sức khoẻ yếu thì không thể nào đi được
“Bác nói th ật với cháu là quê ở ngoài bắc mà ngoài ấy không có ai vào đây
mà ngày xưa bác vô Nam là theo ch ồng bác trai đi chiến đấu trong này rồi lập nghi ệp ở đây thế là bác phải vào theo cho nên trao đổi ở ngoài bắc bây giờ phương tiện nó cũng dễ đấy chủ yếu là chat lên mạng hay là nói chuyện điện thoại
ch ứ còn ra ngoài quê thì bác ít ra lắm” (Mẫu 2, 62 tuổi, Không tôn giáo, NT)
2.4.2 Th ực trạng mối quan hệ xã hội của người cao tuổi ở nông thôn và đô
th ị hiện nay
Con người ta khi còn trẻ thì thường tập trung vào các công việc làm để
tạo thu nhập nuôi sống bản thân cũng như gia đình Công việc này dường như
đã chiếm hết thời gian hàng ngày mà họ có Chính vì vậy mà họ thường có ít
thời gian để tham gia vào cac hoạt động xã hội Khi đã về già, trách nhiệm lo cho gia đình con cái đã giảm bớt, thay vào đó họ sẽ được con cái chăm sóc tuỳ theo hoàn cảnh của từng gia đình Lúc này NCT sẽ có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn, ngoài các sinh hoạt hàng ngày, thì đòi hỏi họ c ần tham gia vào một tổ
chức xã hội nào đó để thể hiện bề nổi tích cực về mặt xã hội của con người Đối với NCT đó là việc tham gia vào các tổ chức đoàn thể quần chúng, tham gia vào các tổ chức dành riêng cho người già, mà một trong những tổ chức
phổ biến tồn tại ở nước ta đó là Hội người cao tuổi
Cuộc điều tra cho thấy, trong tổng số 20 NCT thì chỉ có 7 người tham gia Hội NCT, trong đó ở nông thôn là 4/10 và đô thị là 3/10 Ở nông thôn có
một số ít NCT chỉ tham gia duy nhất vào hội NCT, một số NCT năng nổ hoạt động hơn thì tham gia cả Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Hội chữ thập đỏ,
Hội đồng hương…”Lâu cô cũng tham gia , nhưng cô cũng làm bên Hội chữ Thập
Đỏ của xã, thế rồi về bên hội bảo thọ của ấp , cô cũng tham gia bên Hội Bảo thọ,
t hế rồi bên tuổi già như các cụ bên Phật tử của chùa cô cũng tham gia Cô cũng
Trang 40chơi với mấy cái hội, có nghĩa là mấy cái Hội tuổi già, Hội nông dân nông diếc gì
cô cũng tham gia , ai đóng góp cái gì cô cũng tham gia đầy đủ ” (Mẫu 1, 66 tuổi,
Phật giáo, NT)
Tuy nhiên có một số NCT do ít được sự động viên cũng như vận động
từ các tổ chức nên họ không tham gia vào bất cứ một hội nào “Do mình không
có nghe con ơi, không có ai lại hỏi bà gì hết trơn Hồi bà con trẻ đó thì có, chứ mười mấy năm lai đây mình không có nghe gì hết, không thấy ai đến nói hết trơn”
(Mẫu 5, 70 tuổi, Phật giáo, NT)
Ở đô thị thì ngoài một số NCT vẫn còn lao động không có thời gian tham gia vào các tổ chức xã hội, thì số NCT không tham gia vào bất cứ tổ chức gì là rất
ít Có một số cụ tích cực với phong trào và thấy hứng thú với tổ chức hội thì tham gia vào Hội người cao tuổi, tham gia vào Hội thì họ cũng nhận được một số lợi ích
nhất định Còn những cụ không tham gia vào tổ chức Hội NCT thì cũng tham gia vào các tổ chức khác như: Hội đồng hương, Hội cựu giáo dục, các câu lạc bộ khiêu vũ, cầu lông, câu lạc bộ võ thuật, Hội Trí thức… Khi tham gia vào những tổ
chức này họ cảm thấy thích thú và vui vẻ, sức khoẻ được cải thiện Bên cạnh đó khi tham gia sinh hoạ t trong các câu lạc bộ thì người ta cũng có động lực để cố
gắng vì hàng năm họ đều có cơ hội tham gia các cuộc thi mang tính cạnh tranh cao
do thành phố tổ chức
“T ập ở đây thì tập nhiều thứ lắm! Ví dụ như sáng này ra tập những môn bình th ường của mấy cô kìa xong, mấy cô bên tổ Võ vô này Chỉ Võ mới mặc đồ đồng phục còn mấy môn kia thì không Võ thì 2-4-6 tập Quạt, Thái cực trường sinh Còn nh ững ngày lẻ như thế này thì tập cái bài 56 động tác đó, tập gậy ngắn,
t ập nhiều thứ lắm!”(Mẫu 16, 62 tuổi, Phật giáo, ĐT)
Điều này chính là khác biệt lớn so với các hoạt động ở nông thôn, đời sống tinh thần của NCT ở đô thị nhìn chung vẫn đa dạng hơn, họ có đầy đủ các loại hình giải trí, câu lạc bộ mà họ có thể tham gia Trong khi đó NCT ở nông thôn dù
có mong muốn cũng không có điều kiện để mà tham gia